Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Con đường phục hưng của Phật giáo tại Ấn Ðộ

06/10/201004:51(Xem: 1601)
Con đường phục hưng của Phật giáo tại Ấn Ðộ


Vào đầu thế kỷ thứ XIX, Phật giáo vẫn chưa được biết đến ở Ấn Ðộ, nơi Phật giáo được sinh ra, lớn lên, và đạt đến những thành tựu cao nhất. Không có chùa chiền, không có văn học, không có tín đồ. Ngay cả tên Phật Ðà cũng bị xóa trong ký ức của người Ấn Ðộ. Số phận của vua A Dục (Ashoka) và những vị vua Phật giáo khác, những Thánh tăng và học giả đã có những cống hiến lớn lao cho nền văn hóa, nghệ thuật và văn học Ấn Ðộ cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự. Gia tài Phật giáo giấu kín dưới lớp bụi và vôi gạch đổ nát trong chân trời tối, được những viên chức tò mò của người Anh bắt đầu phơi bày ra ánh sáng…

trudaAsoka-vaishali

Trụ đá Asoka tại Tỳ-Xá-Ly


Những trụ đá của vua A Dục dĩ nhiên là những đối tượng đập vào mắt họ. Câu chuyện lãng mạn về những khám phá của ngành khảo cổ bắt đầu từ thủ đô của Ấn Ðộ vào năm 1750, khi Padre Tieffenthaler khám phá ra trụ Delhi-Meerut trên đỉnh Delhi. Cùng trong năm đó, trụ Allhabad-Kosam ở Allhabad, cũng được khám phá. Tiếp theo đó là sự khám phá trụ Lauriya-Araraj ở Bihar vào năm 1784. Năm 1785, trụ Delhi-Topra ở Ferozshah Koat, Delhi cũng được Ðại úy Polier khám phá. Ông giới thiệu một số hình vẽ những câu khắc trên đó cho ông William Jones, người thiết lập Hội Á châu Bengal ở Calcutta vào năm 1784 để sưu tập, giải mã và dịch những mảnh khảo cổ và các loại khác do những thành viên của hội tìm được.
Vào năm 1836, một số câu khắc trên đá và trụ được khám phá trong nhiều khu vực ở Ấn Ðộ. Nhưng không có người nào biết cả nội dung lẫn tên của người đã tạo ra chúng. Không một học giả Ấn Ðộ nào có đủ trình độ để giải mã những câu khắc xưa nhất của Ấn Ðộ đã được tìm thấy, không những trên đá và trụ mà còn trên một số công trình kiến trúc. Vào năm 1837, James Prinsep, một viên chức cao cấp của Sở Ðúc tiền Ấn Ðộ ở Calcutta, và là Tổng Thư ký Hội Á châu Bengal, sau nhiều năm cần mẫn nghiên cứu và làm việc, đã thành công trong việc giải mã những câu khắc. Vào tháng 7 năm 1837, ông xuất bản những bản sao, sự phiên âm ngữ âm, và bản dịch ra Anh ngữ những câu khắc trên trụ đã được biết đến trong lúc đó. Vào năm 1838, Prinsep giải mã và xuất bản bản dịch câu khắc trên tảng đá Girnar, trụ này được khám phá bởi Thiếu tá James Tod vào năm 1822, và câu khắc trên tảng đá Dhauli được khám phá bởi Ðại úy M. Kottoe vào năm 1837. Ông cũng làm một cuộc nghiên cứu tỉ giảo hai câu khắc trên đá đó và thấy rằng chúng có cùng một ngôn ngữ và nội dung.

Những chữ mở đầu của tất cả các chỉ dụ trên trụ và tảng đá là: Người được chư thần thương yêu, Vua Piyadasi đã nói thế này. Ai là Vua Piyadasi, điều đó vẫn còn nằm trong bí mật. May mắn thay, cũng vào khoảng thời gian đó, George Turnour dịch và ấn hành bằng tiếng Anh cuốn Mahavamsa, một cuốn sử biên niên viết bằng tiếng Pali của Miến Ðiện. Chữ Piyadasi thấy trong Mahavamsa giúp James Prinsep nhận ra rằng vua Piyadasi chính là vua A Dục (Ashoka), là vị hoàng đế Phật giáo vĩ đại. Sự giải mã những chỉ dụ của vua A Dục và sự nhận diện ra vua A Dục là một biến cố, mở ra kỷ nguyên mới. Nó làm phong phú cho lịch sử Ấn Ðộ và Phật giáo đến nỗi tất cả các sách lịch sử đều phải viết lại.

Sự xuất hiện của ông Alexander Cunningham, vị Tổng giám đốc đầu tiên của Cơ quan Nghiên cứu khảo cổ
Ấn Ðộ vào năm 1821, là một ân huệ cho Ấn Ðộ nói chung và Phật giáo nói riêng. Không nghi ngờ gì nữa, ông là một nhà khảo cổ tiên phong vĩ đại nhất, và là một vị anh hùng hỗ trợ cho sự phục sinh của Phật giáo ở Ấn Ðộ. Khám phá quan trọng đầu tiên của ông thực hiện tại Sanchi. Mặc dù những công trình kiến trúc ở Sanchi đã được khám phá năm 1818, nhưng mãi cho đến năm 1851, Ðại tháp mới được Cunningham mở ra. Bên trong tháp, ông khám phá ra Xá lợi của hai vị Đại đệ tử của Ðức Phật là Xá Lợi Phất (Sariputta) và Mục Kiền Liên (Moggallana). Những xá lợi này được mang về Luân Đôn, được giữ và chăm sóc cẩn thận cho đến khi nó được trả về Ấn Ðộ vào thế kỷ sau. Tác phẩm Bhilsa Topes hay là Những công trình kiến trúc Phật giáo ở Trung Ấn vào năm 1854 là một nghiên cứu toàn diện về những chùa chiền ở Sanchi.

Sự nhiệt tâm và say mê của Cunningham trong lãnh vực khảo cổ mở ra một viễn ảnh về việc nghiên cứu những công trình kiến trúc cổ. Và một điều may mắn khác, một học giả người Pháp M. Stanisla Julien, trong thời gian đó cũng xuất bản một bản dịch những tường thuật về cuộc du hành của ngài Huyền Trang, một nhà hành hương và chiêm bái nổi danh của Trung Hoa đến Ấn Ðộ từ năm 629 đến năm 644 sau Tây lịch. Cunningham đi theo dấu chân của ngài Huyền Trang, viếng mọi nơi mà nhà hành hương Trung Hoa đã diễn tả, và với sự làm việc kiên nhẫn và sự bạo dạn lớn lao nhất, ông đã thành công trong việc khám phá ra hầu hết các ngôi chùa Phật giáo. Trong tác phẩm bất hủ của ông: Ðịa lý cổ đại Ấn Ðộ, phần I, Thời đại Phật giáo, Cunningham tóm tắt lịch sử vinh quang của những di tích và những công trình kiến trúc Phật giáo rải rác khắp nơi trên đất Ấn. Vào năm 1870, ông khai quật vùng lân cận chùa Bồ Ðề Ðạo Tràng, và xuất bản những kết luận của ông trong tác phẩm tên là: Ðại Bồ Ðề, hay Ngôi chùa lớn ở Bồ Ðề Ðạo Tràng. Vào năm 1873-1874, Cunningham khai quật Ðại tháp Bharhut và cứu vãn được nghệ thuật tinh tế nhất của Phật giáo khỏi bị rơi vào quên lãng. Tác phẩm được xuất bản của ông là Tháp Barhut, đã rọi một nguồn sáng vào nơi thờ phượng cổ nhất của Phật giáo ở vùng Trung tâm Ấn Ðộ. Những câu khắc của vua A Dục cũng được Cunningham lưu ý và chính ông vào năm 1877 đã xuất bản văn bản và bản dịch tất cả những câu khắc đã được biết đến.

Sự tái phát hiện những công trình kiến trúc Phật giáo, cũng như văn học Phật giáo Pali và Sanskrit, giữ nó dưới hình thức gốc hay dưới bản dịch, ở Miến Ðiện, Nepal, Tây Tạng và Trung Hoa đã tạo một nhận thức mới trong dân chúng Ấn Ðộ, nhưng chưa một ai nghĩ đến sự phục hưng Phật giáo ở Ấn Ðộ. Vào năm 1885, thi sĩ Edwin Arnold, là tác giả nổi danh thế giới với tác phẩm Ánh sáng Á châu viếng thăm Bồ Ðề Ðạo Tràng và kinh hoàng khi thấy tình trạng đáng thương của nơi thờ phượng thiêng liêng nhất của tín đồ Phật giáo. Về sau, ông viết những bài báo đăng trong tờ Telegraph mà ông là chủ biên, và lôi kéo được sự lưu tâm của tín đồ Phật giáo về tình trạng đáng thương tâm của Bồ Ðề Ðạo Tràng, và thuyết phục họ cứu vãn nó tránh khỏi phải bị tổn hại nhiều hơn. Cảm hứng bởi những bài báo, Dharmapala, một tín đồ Phật giáo trẻ ở Sinhala, viếng thăm Sarnath và Bồ Ðề Ðạo Tràng vào tháng Giêng năm 1891 để tận mắt thấy tình trạng của những ngôi chùa Phật giáo. Ông bị kích động khi thấy tình trạng khủng khiếp của nơi thờ phượng thiêng liêng nhất. Ở Bồ Ðề Ðạo Tràng, nơi ông bị chấn động rõ rệt khi dưới sự chăm sóc của Mahant, chùa Ðại Bồ Ðề bị bỏ bê và mạo phạm một cách đáng tủi thẹn. Vì vậy, ông kiên quyết phục hồi vinh quang ngày xưa của những nơi thờ phụng thiêng liêng và làm chúng trở thành những trung tâm Phật giáo sống. Với mục đích đó trong tâm, ông thành lập Hội Ðại Bồ Ðề Ấn Ðộ vào này 31-5-1891. Không lâu sau đó, Nagarika Dharmapala sắp đặt bốn vị Tăng sĩ từ Miến Ðiện đến ở ngôi nhà nghỉ Miến Ðiện tại Bồ Ðề Ðạo Tràng để chăm sóc chùa Ðại Bồ Ðề. Phong trào phục hưng Phật giáo tại Ấn Ðộ khởi sự từ đó.

Phong trào phục hưng đạt được động lực khi một số người con của đất nước trở thành những Tăng sĩ Phật giáo và phục sinh lại sự quang vinh cổ thời của Tăng già. Người Ấn Ðộ đầu tiên trở thành tu sĩ Phật giáo trong thời hiện đại là Mahavir Swami. Ông xuất gia ở Miến Ðiện vào năm 1890 và về sau tạo Kushinagar thành trung tâm sinh hoạt của ông. Tiếp theo sau Mahavir Swami là các ngài Ðại đức Dharmananda Kosambi (1902), Ðại Ðức Bodhananda (1914), Bhadant Anand Kausalayayan (1928), Mahapandit Rahul Sankriyayan (1930), và Ðại Ðức Jagdish Kashyap (1934). Sự xây dựng những ngôi chùa mới như Sri Dharmarajika Vihara ở Calcutta vào năm 1920, Buddha Vihara ở Risalda Park, Lucknow vào năm 1925, Malagandhakuti Vihira ở Sarnath vào năm 1931 và Buddha Vihira ở New Delhi vào năm 1939, tạo thêm sức đẩy cho phong trào phục hưng.

Vào lúc nước Ấn Ðộ được trả độc lập vào năm 1947, gia tài khổng lồ của Phật giáo, nghệ thuật và văn học của nó được nhiều người trên đất Ấn Ðộ biết đến. Khi Quốc hội Ấn Ðộ bận rộn phác họa một Hiến pháp cho nước Ấn Ðộ tự do, vấn đề quốc kỳ và biểu tượng quốc gia làm rối trí những nhà thành lập. Cuối cùng họ hướng về gia tài Phật giáo, nó tiêu biểu cho quá khứ vinh quang của Ấn Ðộ. Cảm ơn sự sáng suốt của Quốc hội. Bánh xe Pháp luân và Ðầu cột Sư tử của trụ vua A Dục ở Sarnath được chọn làm những biểu tượng quốc gia của nước Ấn Ðộ tự do. Ba nhân vật hỗ trợ sự chọn lựa những biểu tượng văn hóa Phật giáo này làm biểu tượng cho quốc gia là: Bác sĩ Rajendra, Chủ tịch Quốc hội, đến từ Bihar, nơi Ðức Phật Giác ngộ; Jawaharlal Nehru, Thủ tướng, là người ngưỡng mộ Ðức Phật và vua A Dục, và Bác sĩ B.R. Ambedkar, Tổng Thư ký Quốc hội, là người phác họa bản Hiến pháp, cũng là người thay đổi dòng lịch sử trong một ít năm sau đó bằng cách đã hướng dẫn hàng ngàn đồ đệ của ông theo Phật giáo.

Vào ngày 22 tháng 7 năm 1947, Jawaharlal Nehru đề nghị trước Quốc hội:

Kính thưa ông Chủ tịch, đây là một niềm hãnh diện cho chúng tôi được đệ trình nghị quyết sau đây:

- Quyết định rằng Quốc kỳ của nước Ấn Ðộ sẽ có ba màu nằm theo chiều ngang, vàng đậm, trắng, và xanh lá cây đậm tỷ lệ bằng nhau. Ở trung tâm phần trắng, có một bánh xe mầu xanh dương tượng trưng cho Charkha. Hình bánh xe sẽ là hình bánh xe thấy ở trên Ðầu trụ Sư tử Sarnath của vua A Dục. Ðường kính của bánh xe sẽ tùy thuộc vào chiều rộng của dải màu trắng. Tỷ lệ chiều ngang đối với chiều dài của lá cờ thông thường sẽ là 2.3.

- Nghị quyết này, thưa ngài, được viết bằng ngôn ngữ đơn giản, bằng kỹ thuật ngôn ngữ đơn sơ và không có sự sôi nổi hay nồng nàn trong những lời mà tôi đang đọc. Nhưng tôi chắc chắn rằng nhiều người trong tòa nhà này sẽ cảm thấy sôi nổi và nồng nàn. Tôi cảm thấy trong giờ phút này, nằm xa đằng sau Nghị quyết và lá Quốc kỳ mà tôi có vinh dự trình ra trước tòa nhà này để được chấp thuận chứa đựng lịch sử, một lịch sử được cô đọng của một giai đoạn ngắn trong sự sống còn của quốc gia. Tuy nhiên, một đôi khi trong một giai đoạn ngắn, chúng ta xuyên qua đoạn đường của nhiều thế kỷ. Không phải sự sống đơn thuần là đáng kể, nhưng chính là điều mà một người thực hiện trong kiếp sống ngắn ngủi này ở bên trong chúng ta; không phải chỉ một sự hiện hữu đơn thuần của một quốc gia là đáng kể, nhưng chính là điều mà quốc gia đó thực hiện ở những giai đoạn khác nhau trong sự hiện hữu của nó; và tôi mạo muội tuyên bố rằng trong phần tư thế kỷ vừa qua, nước Ấn Ðộ đã sống và hành động một cách cô đọng, và những nỗi xúc cảm đầy ắp trong lòng của nhân dân không chỉ đại biểu cho một sự quyến rũ ngắn ngủi vài năm, nhưng là một cái gì tuyệt đối hơn nữa.
Nehru nói thêm:

- Về phần tôi, tôi vô cùng hân hoan rằng trong ý nghĩa này, một cách không trực tiếp, chúng ta đã kết hợp biểu tượng này với lá cờ của chúng ta, nhưng trong một ý nghĩa, tên của vua A Dục, một trong những tên tuổi huy hoàng nhất, không chỉ của lịch sử Ấn Ðộ mà còn của lịch sử thế giới. Chính trong thời điểm xung đột, tranh giành và không khoan thứ này, tâm hồn chúng ta phải quay trở về cái mà Ấn Ðộ đã trải qua trong những ngày xa xưa.

Nghị quyết về lá Quốc kỳ được Quốc hội thông qua không tranh cãi, Bánh xe Pháp luân tượng trưng cho Giáo pháp của Ðức Phật vào ngày 15-8-1947 trở thành biểu tượng của tự do, thịnh vượng và hạnh phúc cho nhân dân Ấn Ðộ.

Ðầu trụ Sư tử của vua A Dục được chấp thuận như là huy hiệu quốc gia, cũng tượng trưng cho đạo Phật. Bốn con sư tử hướng ra bốn phương, tượng trưng cho tướng Sư tử rống của Phật Ðà giảng dạy cho bốn phương.

Những nhà lập hiến cũng chấp thuận tư tưởng quốc gia phúc lợi của vua A Dục: Không có một bổn phận nào quan trọng hơn đối với ta, hơn là tạo phúc lợi cho mọi người, vua A Dục đã nói như thế. Niềm ước muốn duy nhất của ông là làm cho dân chúng hạnh phúc về mọi phương diện. Vì vậy ông theo đuổi châm ngôn: Bahujana-Hitaya, Bahujana-Sukhaya. Nghĩa là: Vì lợi ích của nhiều người, vì phúc lợi của nhiều người. Trong những việc quốc sự, mặc dù vua A Dục là một tín đồ Phật giáo thuần thành, nhưng sự cai trị của ông đặt nền tảng trên những lý tưởng chung. Ông nâng đỡ Phật giáo, nhưng không bao giờ đàn áp những tín nguỡng khác. Ngược lại, ông còn trợ cấp cho họ. Thật vậy, chính sách của ông được đánh dấu với sự hoàn toàn loại bỏ tinh thần quốc gia gây hấn, trên một bình diện chính trị, và sự cuồng tín trên bình diện tôn giáo. Ngay cả sau khi đặt Phật giáo làm quốc giáo, vua A Dục cũng đã không chung chiếu với những thế lực đen tối của đức tin mù quáng và sự thù nghịch tôn giáo.

Ấn Ðộ ngày nay đã đi theo thể chế chính phủ dân chủ và đời sống dân chủ. Ở Ấn Ðộ, tư tưởng dân chủ cũng đã phát nguồn từ những tín đồ Phật giáo. Ðoàn thể Tăng già do Ðức Phật dựng nên đặt nền tảng trên tinh thần dân chủ và hoạt động giống như Quốc hội ngày nay. Ðể nhấn mạnh điểm này, Jawaharlal Nehru trích nhận xét sau đây của Lord Zetland trong Khám phá Ấn Ðộ:

- Và điều này làm ngạc nhiên nhiều người khi biết rằng trong những cộng đồng tín ðồ Phật giáo ở Ấn Ðộ hai ngàn hay hơn hai ngàn năm trước, chúng ta có thể tìm thấy những nguyên tắc cơ bản của sự thực hành hệ thống Quốc hội ngày nay. Phẩm giá của Tăng đoàn được duy trì với sự ủy nhiệm một viên chức đặc biệt, hình thức phôi thai của vị chủ tịch trong Hạ nghị viện. Một viên chức thứ hai được ủy nhiệm để bảo đảm số đại biểu quy định, mẫu đầu tiên của trưởng ban tổ chức trong hệ thống của chúng ta. Khi cuộc tranh luận đưa đến sự khác biệt về ý kiến, vấn đề được quyết định bằng sự biểu quyết của đại đa số, sự biểu quyết thực hiện bằng việc bỏ phiếu kín.

Bày tỏ những quan điểm tương tự ở Quốc hội và ngày 17-10-1949, Bác Sĩ Ambedkar, vị kiến trúc sư lớn của Hiến pháp Ấn Ðộ, nói: Vào ngày 26 tháng Giêng năm 1950, nước Ấn Ðộ sẽ là một nước dân chủ trong ý nghĩa rằng nước Ấn Ðộ từ ngày đó sẽ có một chính phủ của nhân dân, vì nhân dân và cho nhân dân... Không phải là nước Ấn Ðộ đã không biết thế nào là dân chủ. Ðã có một thời nước Ấn Ðộ được xây dựng với những cộng hòa và gồm nhiều nước quân chủ, và chúng được bầu cử hay giới hạn. Chúng không bao giờ là tuyệt đối. Không phải rằng Ấn Ðộ đã không bao giờ biết đến Quốc hội và thủ tục Quốc hội. Nghiên cứu về đoàn thể Tăng già Phật giáo cho chúng ta thấy rằng không những chỉ có những Nghị viện, mà Tăng già còn biết tiến hành tất cả những quy tắc thủ tục Nghị viện mà chúng ta biết ngày nay. Họ có những quy luật về kiến nghị, quyết nghị, số đại biểu quy định, ðặc trách tổ chức, đếm phiếu, bỏ phiếu kín, vận động phê bình, việc giữ đúng nguyên tắc, nhiệm kỳ...

Trong Tăng già Phật giáo, vị Chủ tịch được gọi là Asanaprajnapaka (thủ tọa). Kiến nghị được nêu ra ba lần trước đại chúng. Nếu mọi người đều im lặng, nó được coi như thông qua không tranh cãi. Trong trường hợp bất đồng ý kiến, vấn đề được đưa ra đầu phiếu kín của đa số. Phiếu kín được goi là Salaka. Những người thâu thập phiếu kín được gọi là Salaka Gahapaka. Như vậy sự giải quyết tranh cãi trong Tăng già theo một lề luật rất tiến bộ, và thật sự dân chủ.
Vào ngày 26-1-1950, nước Ấn Ðộ trở thành một nước độc lập cộng hòa dân chủ, bảo đảm cho mọi người dân Công lý, Tự do, Bình đẳng, và Huynh đệ. Vào ngày đó, Dinh Phó vương trở thành trụ sở của Chủ tịch nước Ấn Ðộ. Dinh thự tráng lệ Rastrapati Bhavan, như được biết, có 340 phòng, 227 cây cột, 35 mái hiên và một dặm rưỡi hành lang. Trong Ðại sảnh Durbar nơi dùng vào những buổi tiếp kiến của Phó vương dưới thời cai trị Anh, mà vị Phó vương ngồi trong chiếc ghế được trang sức bằng bạc, ngày nay đặt một tượng Phật nhập định cao để ban phúc cho những nhà lãnh đạo nước Ấn Ðộ hiện đại. Ðại sảnh Durbar được vị Chủ tịch dùng làm nơi cử hành những lễ phong chức và trao những giải thưởng quốc gia. Cạnh bên là Ðại sảnh A Dục, đặt theo tên vua A Dục. Ðó là phòng khiêu vũ của Phó vương ngày xưa. Ngày nay, các vị tân Bộ trưởng phát lời tuyên thệ ở đây. Những vị đại sứ nước ngoài cũng trình ủy nhiệm thư lên Chủ tịch Ấn Ðộ ở phòng này. Ðầu trụ hình bò đực nổi tiếng trên trụ A Dục ở Rampurva, Bihar được nhìn thấy ngay trước lối vào Ðại sảnh A Dục. Trên chóp của cái vòng trung tâm cao 180 feet của điện Rashtrapati Bhavan, trên đó lá cờ Quốc gia bay phất phới, cũng gần giống như ngôi tháp Sanchi.

Sau khi độc lập, vấn đề có một kỷ nguyên quốc gia cũng được đặt ra. Ðể thực hiện mục tiêu này, Hội đồng Cải cách lịch do Bác sĩ Meghnath Saha được đề cử làm Chủ tịch. Theo đề nghị của Hội đồng, Chính phủ Ấn Ðộ chấp nhận kỷ nguyên Saka (Ðế Thích) bắt đầu từ thời đại Ka Nị Sắc Ca, một vị vua Phật giáo khác, lên ngôi năm 78 sau Tây lịch, và cai quản phần lớn miền Bắc Ấn cho đến năm 101. Kỷ nguyên, khởi đầu từ Ca Nị Sắc Ca được biết là kỷ nguyên Saka và được đưa vào Kỷ nguyên quốc gia vào ngày 22-3-1957, tương ứng với ngày 1 tháng Chaitra năm 1879. Năm Saka, giống như năm George, thường có 365 ngày, và 366 ngày vào năm nhuần. Thông thường, tháng Chaitra có 30 ngày, và vào tháng nhuần thì cò 31 ngày. Các tháng Vaisakha, Jaistha, Asadha, Sravana, và Phalguna là 31 ngày, và những tháng còn lại Asvina, Kartika, Agrahayana, Pausa, Magha và Phalguna có 30 ngày.

Nguyên tắc chủ đạo về chánh sách đối ngoại của Ấn Ðộ, được Jawaharlal Nehru, người xây dựng nước Ấn Ðộ tân tiến, công thức hóa, bao gồm năm nguyên tắc về chung sống. Công thức hóa những nguyên tắc này, Nehru đã cảm hứng từ chính sách chung sống hòa bình của vua A Dục, và năm giới, những giới luật tối thiểu của một tín đồ Phật giáo tại gia, do Ðức Phật chế ra. Năm nguyên tắc, được Nehru công thức hóa, và đươc Hội nghị Bandung của các nước Á châu xác nhận vào tháng 4-1955 là:

1- Tôn trọng sự toàn vẹn và chủ quyền lãnh thổ của mỗi nước.
2- Không gây hấn.
3- Không xen vào việc nội bộ của nước khác.
4- Quyền lợi bình đẳng và tương quan.
5- Chung sống hòa bình.

Nghệ thuật Ấn Ðộ là nghệ thuật Phật giáo. Thật vậy, tín đồ Phật giáo là những người tiên phong trong mọi hình thái nghệ thuật. Trong các công trình Phật giáo ở Ấn Ðộ, những động Ajanta là nổi tiếng nhất. Ðược chạm trên những đá sống, những bức tranh giàu nghệ thuật điêu khắc và đẹp đẽ trên các bức tường, trụ, và trần của một số động, chúng là những di tích quý giá nhất của nghệ thuật Ấn Ðộ cổ. Chúng ta không nghi ngờ, chúng thu hút một số lượng lớn nhất khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Nổi bật là một con voi với một hoa sen trên vòi từ bức tranh vẽ trên tường được lấy dùng làm biểu tượng cho Sở Du lịch Chính phủ Ấn Ðộ.

Dù trên bình diện nghệ thuật hay kiến trúc, hình ảnh Ấn Ðộ thời cổ cũng được bắt đầu với tín đồ Phật giáo. Những công trình Phật giáo được xếp làm ba loại chính: tháp, những phòng chùa và những động đục vào đá. Những thứ này được khám phá rất nhiều khắp nước và là một nguồn cảm hứng cho các nhà kiến trúc hiện đại. Ðặc biệt cổng vào Sanchi và cửa sổ Ajanta được dùng làm kiểu mẫu cho nhiều tòa nhà hiện đại. Một tòa nhà như vậy là tòa Viya Bhavan nổi danh ở Delhi, cổng chính của nó là một diễn dịch hiện đại của cửa sổ Ajanta.

Biến cố quan trọng đầu tiên trong kỷ nguyên sau khi độc lập, tập trung sự lưu tâm của quần chúng Ấn Ðộ vào những đạo đức Phật giáo, là quay trở về và phục hồi những Xá lợi của hai vị Đại đệ tử lớn của Ðức Phật, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, tại nơi yên nghỉ đầu tiên là Sanchi. Những Xá lợi này được tìm ra bởi Alexander Cunningham vào năm 1851 từ Ðại tháp ở Sanchi, và được đem cất giữ cẩn thận ở Luân Ðôn trong Viện Bảo tàng Victoria và Albert. Với sự yêu cầu của Hội Ðại Bồ Ðề Ấn Ðộ, những Xá lợi được Chính phủ Anh hoàn trả về Ấn Ðộ vào ngày 24-2-1947. Do sự sắp xếp, Xá lợi trước tiên được đem tới Miến Ðiện bởi Daya Hewavitarne, một người cháu của Anagarika Dharmapada, người đã thay mặt Hội Ðại Bồ Ðề nhận tất cả những sở hữu của họ từ viện bảo tàng nói trên. Trải qua một năm rưỡi, những Xá lợi được dân chúng Miến Ðiện tôn thờ trước khi chúng tiếp tục hành trình về Ấn Ðộ. Những Xá lợi của ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên vào đất Ấn Ðộ, sau gần một thế kỷ du hành ở Luân Ðôn, vào ngày 13-1-1949, và được chào đón trên tàu H.M.I.S.Tir bởi Bác sĩ Kailash Nath Katju, Thống đốc miền Tây Bengal. Sau khi di chuyển Xá lợi từ tàu, Xá lợi được đem về tòa nhà Chính phủ với một đám rước cờ hoa sặc sỡ, ở đây những Xá lợi tạm thời được giữ trong phòng Ðặt ngai.

Xá lợi của ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục Kiền Liên đuợc ông Jawaharlal Nehru, Thủ tướng nước Ấn Ðộ, trao cho Hội Ðại Bồ Ðề Ấn Ðộ trong một buổi lễ công cộng tổ chức tại Calcutta vào ngày 14-1-1949. Một cuộc gặp gỡ công cộng có cả nửa triệu người đại diện nhiều quốc gia tham dự, do Bác Sĩ K.N. Katju, Thống đốc miền Tây Bengal, làm chủ trì. Trong buổi lễ lịch sử này, Jawaharlal Nehru nói: Tôi đã đến nơi đây thay mặt cho Chính phủ Ấn Ðộ để chào mừng quý vị và nhận những Xá lợi này của hai người con lớn lao của đất nước Ấn Ðộ đã sống gần 2.500 năm trước. Ðây là một hân hạnh cho tôi và cho Chính phủ mà tôi đại diện được tham dự trong dịp này, và trong lòng tôi có một cái gì còn lớn lao hơn là cơ hội này. Có một chuỗi những con người vĩ đại đi qua tâm hồn tôi từ ngày mà Ðức Phật sinh trưởng trên mảnh đất cổ xưa này, truyền bá ánh sáng Trí tuệ của Ngài trong quốc gia này cùng những quốc gia khác, và về sau khi thông điệp mà Ngài đã ban ra lập đi lập lại nhiều lần.

Quay sang những đại biểu các quốc gia Phật giáo láng giềng, Jawaharlal Nehru nói: Nhiều người trong quý vị đến từ những quốc gia xung quanh Ấn Ðộ, và có những vị còn xa hơn. Tôi xin đón mừng quý vị ở đây. Ðối với quý vị cũng vậy, nếu tôi có thể nói như vậy, là một chuyến về quê. Chúng ta đang đón mừng chuyến về quê của những Xá lợi này đã đi xa trên một trăm năm về trước, chuyến về quê của những chân lý lớn lao. Ðó cũng là chuyến về quê của nhiều nguời từ những vùng đất xa xôi đã về đây trên nước Ấn Ðộ này, coi Ấn Ðộ hầu như quê hương của mình, nếu tôi tôi có thể nói như vậy. Trong những ngày xa xưa, khi thông điệp của Ðức Phật được truyền ra ngoài đất nước của chúng tôi, và những nhà hành hương từ mảnh đất này đi đến những đất nước khác. Ðến và đi xảy ra thường xuyên và mối quan hệ này đã liên kết chúng ta lại với nhau. Ðó là mối quan hệ tinh thần và không có một dính mắc chính trị nào mà chúng ta buộc bằng những sợi dây lụa. Cuối cùng, giờ đây, buổi lễ hôm nay lại một lần nữa mang lại những gắn bó đó. Chúng ta hãy hy vọng rằng chẳng những chúng ta mà cả những quốc gia khác nữa cũng sẽ chung sống trong hòa bình và chúng ta sẽ không có sự xung đột. Nếu có một xung đột nào, chúng ta sẽ giải quyết bằng hòa bình và thiện chí.

Bác sĩ K.N. Katju, Thống đốc miền Tây Bengal, người chủ trì buổi lễ, trong bài diễn văn, ông nói: Hôm nay chúng ta làm lễ chào mừng việc trở về nhà của hai nhân vật vĩ đại sinh ra trên vùng đất cổ xưa này của chúng ta. Hai vị Đại đệ tử của Ðức Cồ Ðàm Phật Ðà, Ðấng Giác Ngộ, được Ngài coi như những người truyền bá và diễn dịch sáng chói nhất giáo pháp tuyệt vời mà Ngài đã giảng dạy để cứu độ loài người. Tên của hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên quấn quýt với tên của Ðức Thế Tôn, và trải qua vô số thế hệ trong nhiều quốc gia, hai ngài đã mang đến niềm an ủi và sự cảm thông. Một vị là hiện thân của đức khiêm tốn, dịu dàng và kiên nhẫn, sự kiên nhẫn vượt qua mọi hiểu biết; và vị kia, Mục Liền Liên, trí thông minh sắc bén biện tài sắc sảo và nổi danh về thần thông. Cả hai ngài là những vị đệ tử mà Ðấng Từ Phụ rất thương yêu và chúng ta đang mừng đón hai ngài trở lại hôm nay. Những Xá lợi này rõ ràng là được thờ phụng dưới những chỉ thị của vua A Dục ở nhiều nơi trong Ấn Ðộ, nhân khi Giáo pháp cao thượng của Ðấng Từ Phụ không còn làm sinh động cuộc sống của chúng ta, chúng ta đánh mất mọi sự hiểu biết ngay cả những địa danh thiêng liêng gắn liền với tên của Ðức Từ Phụ và đệ tử của Ngài.

Tiếp theo, Bác sĩ Katju nói: Không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà với sự lớn lên của ý thức quốc gia của chúng ta, đã đến với chúng ta, trong một mức độ rộng lớn hơn, ý thức về sự tuyệt vời của Giáo pháp được giảng dạy trên đất Ấn Ðộ 2.500 năm về trước, và dọc ý thức đó, chúng ta cũng đã khám phá như là một sự kỳ diệu nhiều kho tàng thiêng liêng của chúng ta. Trong những đống vụn của một ngôi tháp đổ nát, chín mươi năm trước chúng ta đã tìm thấy những mớ tro thiêng liêng này, chúng được đưa đi xa qua Anh quốc và chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi đất nước thân yêu của chúng ta được tự do và dùng biểu tượng Bánh xe Chánh pháp được quay lần đầu tiên ở Sarnath do Ðức Từ Phụ như là trung tâm của mọi tình cảm và lòng trung thành mà hai vị đệ tử của Ngài lại trở về.

Trước khi được đem về Sanchi để thờ phụng, Xá lợi của ngài Xá Lợi Phật và Mục Kiền Liên được đem đến nhiều nơi trên đất Ấn để dân chúng có dịp tỏ lòng tôn kính đối với hai Đại đệ tử của Ðức Từ Phụ. Sự tiếp đón Xá lợi nồng hậu nhất là của dân chúng Bihar, nơi sinh trưởng của hai ngài. Vào ngày 26-3-1949, Xá lợi của hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đi đến Patna và được năm chục ngàn người tiếp đón với sự vui mừng và nồng nhiệt lớn lao. Phát biểu trong dịp này, Bác sĩ Sri Krisna Sinha, Thủ hiến Bihar nói: Với niềm kiêu hãnh chân thật và cảm tưởng biết ơn, lịch sử Bihar là lịch sử thu nhỏ của Ấn Ðộ và hơn thế nữa, trong một chiều hướng nào đó, lịch sử của thế giới. Ấn Ðộ đã là nước dẫn đầu thế giới qua nhiều thời đại và uy tín cho sự dẫn đầu đó là từ Ðức Phật và đoàn thể đệ tử vô ngã của Ngài.

Những lễ chào mừng sự trở về của Xá lợi ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên được kết thúc với một cuộc lễ lớn tại Sanchi vào tháng 11-1952 với sự hiện diện của Thủ tướng Ấn Độ, Miến Ðiện, những nhà lãnh đạo Phật giáo thế giới và chư vị Ðại đức Tỳ kheo. Phát biểu trong dịp này, Thủ tướng Ấn Ðộ, Jawaharlal Nehru, nói rằng ông thấy trong giáo lý của Ðức Phật một con đường dẫn đến tiến bộ thịnh vượng và rằng ông đã lấy việc làm cho người khác biết sự rọi sáng này như là sứ mạng suốt đời của ông. Ông nói thêm, việc trở về quê hương của những Xá lợi có một ý nghĩa sâu xa hơn cho tâm hồn ông và ý nghĩa được nhận thấy khi tất cả chúng ta đã tạo nên những ngôi chùa sống trong tim của chúng, thờ phụng những kỷ niệm cổ xưa để làm kim chỉ nam cho thế giới hỗn mang ngày nay. Kết luận, ông Nehru nói: Ngoài cuộc hội họp này, một hạt mầm sẽ đâm chồi và hạnh phúc sẽ lan truyền. Như vậy những cuộc lễ ở Sanchi mở ra một viễn cảnh mới cho sự phục sinh của Phật giáo ở Ấn Ðộ.

Năm 1956 đánh dấu một mốc lịch sử trong lịch sử huy hoàng của Phật giáo. Trong năm này, kỷ nguyên Phật giáo, bắt đầu với ngày kỷ niệm Ðại Niết bàn (Mahaparinirvana) 2.500 năm của Ðức Phật. Biến cố lịch sử này được đón mừng với một sự nồng nhiệt lớn lao khắp thế giới Phật giáo. Lễ kỷ niệm Phật Ðà năm 1956 không nghi ngờ, đã đánh dấu sự bắt đầu của một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên hy vọng, hòa bình và thịnh vượng đối với Phật giáo. Ðối với Ấn Ðộ, điều này là sự thật. Ðể kỷ niệm biến cố lịch sử trong cách thức có lợi ích, Chính phủ Ấn Ðộ đề cử Bác sĩ Radhakrisnan, Phó Chủ tịch nước Ấn Ðộ, cầm đầu Hội đồng Tổ chức Lễ kỷ niệm Ðức Phật nhập Niết bàn. Những thành viên khác của Hội đồng là: Thủ trưởng Uj, Thủ trưởng Bihar, Thủ trưởng Assam, Ðại đức Kushak Bakula, Lama trưởng ở Ladakh, và Maharaj Kumar của Sikkim. Thủ tướng Ấn Ðộ là một hội viên danh dự. Với sự thuận lợi của Ủy ban Tổ chức Lễ kỷ niệm, Chính phủ Ấn Ðộ và nhiều chính phủ các nước đề ra những chương trình đầy tham vọng.

Lễ kỷ niệm Ðại Niết bàn của Ðức Phật bắt đầu bằng một thông điệp của Chủ tịch nước Ấn Ðộ. Trong thông điệp của ông, Bác sĩ Rajendra Prasad nói:

- Nhân dịp Lễ kỷ niệm 2.500 năm Ðức Phật nhập diệt, tôi gởi những lời chúc mừng đến toàn dân trong nước và mọi người công dân trên thế giới. Ðó là một ngày trọng thể cho tất cả những ai tin tưởng vào ưu thế của đạo đức và sự ưu việt của tinh thần đối với những sự việc thế gian và hiện tượng. Người dân ở vùng đất mà Ngài đã trải qua sự khổ hạnh nghiêm ngặt để tìm chân lý và nơi mà ngài đã giảng dạy chân lý về lòng khoan dung tuyệt đối và tinh thần hòa bình toàn khắp, đều là những người được hưởng một niềm vui đặc biệt trong dịp này.

Trong thời gian kéo dài cả năm của những cuộc lễ, hàng ngàn nghi lễ tôn giáo và văn hóa được tổ chức, và hàng triệu trang giấy được viết để xưng tán Ðức Phật, cũng như hầu hết các nhật báo và báo định kỳ trong nước thêm phần đặc biệt để nói về Ðức Phật và Ðạo Phật. Thêm vào đó, hàng trăm cuốn sách và sách nhỏ được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ Ấn Ðộ. Ðài Phát thanh toàn Ấn Ðộ suốt một năm trời phát những tiết mục chủ chốt, bài nói chuyện và kịch về Phật giáo cũng được sản xuất để đáp ứng với lễ kỷ niệm 2.500 năm của Phật giáo. Các nơi thờ phụng của Phật giáo được Chính phủ phục hồi, sửa sang và tân trang để làm cho những người hành hương nước ngoài viếng thăm cảm thấy thoải mái hơn. Những con đường đưa đến những trung tâm này được sửa sang; nhà nghỉ và quán xá được dựng lên; và những công viên được sắp xếp.

Khi đặt viên đá nền tảng cho Công viên Ðức Phật Nhập Diệt ở đỉnh New Delhi, Thủ tướng Jawaharlal Nehru nói:

- Lễ kỷ niệm 2.500 năm ngày Ðức Phật nhập diệt biểu hiện sự trở về của Ðức Phật.
Như vậy toàn nước Ấn Độ trong năm Ðại Niết bàn của Ðức Phật tràn ngập trong tinh thần của Phật Ðà.

Một biến cố quan trọng khác trong năm 1956 là sự trở về của những Xá lợi của A la hán Mục Kiền Liên Tử Ðế Tu (Moggaliputta Tissa) và chín vị A la hán khác đã sống dưới thời vua A Dục. Những Xá lợi này thuộc quyền sở hữu của Viện Bảo tàng Anh, ở Luân Đôn. Họ đã lấy chúng vào năm 1851. Những Xá lợi này được mang về lại ngày 5-2-1956 do Shrimati Vijaya Lakshmi Pandit, đại biểu cao cấp của Ấn Ðộ ở Nga Xô, được Thủ tướng Nehru tiếp nhận trong một buổi lễ cờ hoa sặc sỡ ở phi trường Delhi. Hộp thứ nhất đựng Xá lợi của các ngài Mục Kiền Liên, Kosikiputta và Gotiputta, được Chính phủ Ấn Ðộ tặng cho Chính phủ Miến Ðiện. Hai hộp kia đựng Xá lợi của các Ngài Mahyavanya, Apagira, Kodiniputta, Vachiya-Savijayata, Kasapa-gota, Majhima và Haritiputa, được tặng cho Hội Ðại Bồ Ðề Ấn Ðộ để họ thờ tại ngôi chùa mới Cetiyagari ở Sanchi.

Biến cố nổi bật nhất trong Lễ tưởng niệm 2.500 năm Ðức Phật nhập diệt diễn ra vào ngày 14-10. Trong ngày này, Bác sĩ B.R. Ambedkar chính thức quy y theo Phật giáo, cùng với nửa triệu đồ đệ của ông trong một buổi lễ gây nhiều ấn tượng và lịch sử được tổ chức tại Nagpur, gây một tiếng vang thúc giục cho người trong nước thực hành những lời dạy của Ðức Phật. Từ trước đến nay, chưa từng có một số đông đảo người như vậy, cùng một lúc và theo sự đề nghị của chỉ một người, thay đổi tôn giáo của họ. Lịch sử sẽ ghi nhớ Bác sĩ Ambedkar về việc đã trồng lại cây Phật giáo trên đất mẹ của nó, một bước trong việc phục hồi các giá trị Phật giáo và làm cho nó một lần nữa trở thành một tôn giáo sống.

Vào tháng 11, tháng 12-1964, nước Ấn Ðộ một lần nữa ngập trong tinh thần Phật giáo. Cơ hội đưa đến bằng Hội nghị lần thứ bảy của Hội Hữu nghị Phật tử Thế giới được tổ chức ở Sarnath từ ngày 29-11 đến ngày 4-12. Ðó là cuộc hội nghị đầu tiên của W.F.B. (World Fellowship of Buddhism) được tổ chức tại Ấn Ðộ, tín đồ Phật giáo Ấn Ðộ dĩ nhiên là rất phấn khởi và họ đã tận lực để thích ứng và trao đổi những tư tưởng với những huynh đệ từ những vùng đất ngoại quốc. Ngoài 68 đại biểu chính thức và 75 quan sát viên đến từ 23 quốc gia, phái đoàn Ấn Ðộ là đông nhất. Họ đến từ mọi nơi trên đất Ấn.

Khai mạc Hội nghị, Bác sĩ S. Radhakrishnan, vị triết gia chủ tịch sáng chói của Ấn Ðộ, cổ vũ hội nghị, nói:

- Chân thành noi theo giáo pháp của Bậc Thầy Vĩ Ðại không chỉ trên văn từ, mà trong tinh thần. Ðức Phật đã cho chúng ta một thông điệp có giá trị thường hằng, một thông điệp vĩnh cửu, nó vượt ngoài thời gian, nhưng chúng ta là những hậu duệ không xứng đáng của Vị Thầy Vĩ Ðại đó. Ngài là một người Siêu Việt, một người vượt trội trong thời đại Ngài, một người ra đời để nói với chúng ta những gì chúng ta nên làm nếu chúng ta muốn phục hồi sự thăng bằng, sự hòa điệu, tình thương, tình huynh đệ của chúng ta. Nếu chúng ta muốn sống trong tình huynh đệ, chúng ta phải phát triển: Tâm Bồ đề (Bodhi Hridya), tức Tâm Giác ngộ, tâm yêu thương, tâm hiểu biết.

Vào năm 1976, thế giới Phật giáo tổ chức lễ kỷ niệm 2600 năm Ngày Ðản szinh Ðức Phật. Ở Ấn Ðộ, như là một phần trong các cuộc lễ kéo dài suốt năm kỷ niệm biến cố lịch sử này, một Hội nghị chuyên đề Phật giáo Quốc tế về Sự cống hiến của Phật giáo cho nền văn minh và văn hóa thế giới được tổ chức tại Vigyan Bhavan, New Dehli từ ngày 27-29 tháng 3-1997. Hội nghị này được tổ chức do Hội Ðại Bồ Ðề Ấn Ðộ với sự hợp tác của Bộ Giáo dục và An ninh Xã hội của Chính phủ Ấn Ðộ bằng cách trợ cấp tài chánh cho mục đích này.

Cuộc hội thảo được B.D. Jatti, Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa Ấn Ðộ khai mạc. Trong diễn văn khai mạc, ông nói:

- Các học giả đều biết rằng thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch đáng được chú ý do sự bất ổn tinh thần và sự sôi sục của trí tuệ xảy ra trong thời đại đó ở nhiều quốc gia. Ðó là vào thời đại của Mahavira và Phật Ðà ở Ấn Ðộ, hay Parmenides và Empedocles ở Hy Lạp, của Zarathustra ở Iran và Lão Tử và Khổng Tử ở Trung Hoa. Ðó là một thời đại của những di sản tinh thần mới và quan điểm mới, nổi lên để xua đuổi sự hỗn loạn của đạo đức và tâm linh mà con người đang thì thụp trong đó. Ở Ấn Ðộ, chính sự ra đời của Đức Phật báo trước một cuộc cách mạng trong quan niệm về giá trị và đạo sống của con người. Sự truyền bá của đạo Phật là một nỗ lực cứu xã hội thoát khỏi sự mê tín, chủ nghĩa duy vật thô lậu và chủ nghĩa hoài nghi đạo đức. Hơn 2.500 năm đã trôi qua từ ngày Ðức Phật Ðại Niết bàn gần Câu Thi Na (Kusinagara). Nhưng giáo pháp của Ngài dạy trong 45 năm vẫn còn là một nguồn cảm hứng không phai tàn cho một phần lớn lao của nhân loại, đại diện cho một phần ba số người trên thế giới.

Mặc dù hầu hết các địa danh cổ của Phật giáo đã được khám phá và khai quật trong thời gian trước khi độc lập, trong thời đại hậu độc lập từ năm 1947 trở về sau, một số khám phá đáng chú ý cũng đã được ghi nhận. Trong số đó, khám phá quan trọng nhất là sự nhận ra thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), thủ đô của bộ tộc Thích Ca (Shakya) và là nơi Ðức Phật ra đời.
Vị trí của Ca Tỳ La Vệ là một vấn đề gây mâu thuẫn trải qua trăm năm. Tilaurakot ở Nepal và Piprahwa ở Ấn Ðộ là hai nơi chính đầu tiên được báo cáo là vùng Ca Tỳ La Vệ. Ông Furher, một nhà khảo cổ người Ðức được Chính phủ Nepal giao phó sứ mệnh báo cáo lần đầu tiên rằng Tilaurakot là Ca Tỳ La Vệ đầu tiên, vào năm 1896. Tuy nhiên, sự khám phá vào năm 1898 của một cái két đá tảng khổng lồ đựng năm hộp Xá lợi ở tháp Piprahwa do W.C. Peppe, chủ khu bất động sản Dirdpur, dường như ám chỉ rằng Piprahwa chính là Ca Tỳ La Vệ ngày xưa. Vì lý do câu viết vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, có liên hệ đến Ðức Phật và bộ tộc Thích Ca, đã được các học giả diễn dịch bằng nhiều cách khác nhau và không có sự đề cập gì về Ca Tỳ La Vệ, vấn đề bị giữ lại không giải quyết trong vòng 75 năm tiếp theo.

Vào năm 1970, Ðại đức Dharmakirti, một tu sĩ Phật giáo, nhận trách nhiệm của Trung tâm Naugart của Hội Ðại Bồ Ðề Ấn Ðộ, viết thư cho Thủ tướng Ấn Ðộ, Indira Gandhi, lưu tâm bà về tình trạng hầu như bỏ hoang của những di tích ở Piprahwa và yêu cầu bà có một hành động cho sự việc này. Ðệ trình này được đưa đến nhóm khảo cổ Patna. Ông K.M. Srivastava, người đã tiếp quản nhóm khảo cổ Patna từ tháng tám 1970, lập tức thảo những kế hoạch tiến hành thêm những cuộc khai quật ở Piprawha trong quận Basti ở Uttar Pradesh. Vào tháng Giêng năm 1971, ông khởi sự những cuộc khai quật mới trong khu vực. Những cuộc khai quật chứng tỏ rằng ngôi tháp, trước kia đã giữ những hộp Xá lợi, bao bọc một cái tháp bằng đất bùn. Khi chiếc tháp đất này được thăm dò một cách cẩn thận, vào tháng Ba năm 1972, nó cho chúng ta hai hộp Xá lợi bằng đất bọt chứa xương cốt đã thành than của Ðức Phật và ba chiếc dĩa đựng tro. Hộp Xá lợi tìm thấy ở ngăn phía Bắc còn nguyên vẹn và kích thước là 12cm x 7cm. Hộp Xá lợi ở ngăn phía Nam là 16cm x 9cm. Vì nó bị vỡ, nên các xương có phần nào đã xỉn xám.

Trong những cuộc khai quật tiếp theo vào năm 1973, Srivastava và nhóm của ông tìm thấy từ ngôi chùa Ðông Phương gần đó hơn 40 triện bằng đất nung ghi những mẩu chuyện bằng tiếng Pali: Devaputra Vihare Kapilavastu Bhikkhu Sanghas và Maha Kapilavastu Bhikku Sanghas theo lối chữ Brami của thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch. Vào năm 1974, thêm một số hiện tượng được khám phá, và sự tìm ra Ca Tỳ La Vệ được xác nhận khi các nhà khảo cổ tìm thấy chiếc nắp của một cái lọ mang cùng nội dung như những nhóm hiện tượng được tìm thấy đầu tiên.

Những cuộc khai quật mở ra cho chúng ta thấy rằng tháp Piprahwa được xây dựng trong ba giai đoạn: Tháp đất được người bộ tộc Thích Ca xây vào thế kỷ thứ năm trước Tây lịch khi họ được chia những Xá lợi của Phật; nó được bao bằng một tháp mở rộng xây vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch mà từ đó W.C.Peppe đã khám phá ra năm hộp đựng xá lợi; và cuối cùng nó được mở rộng vào thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch khi ngôi chùa Ðông Phương được xây dựng. Theo những câu khắc, chùa Ðông Phương được vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka) của vương triều Quý Sương (Kushan) xây cho các Tăng sĩ thuộc Tăng già Ca Tỳ La Vệ. Các nhà khảo cổ cũng đem ra ánh sáng ba ngôi chùa khác. Những di tích của thành phố xưa đã tìm thấy gần vùng Ganwaria, nơi mà sự khai quật được thực hiện trong một vùng rộng lớn, đã phanh phui ra hai công trình kiến trúc bằng gạch đồ sộ. Những thứ này được đoán là nơi cư ngụ của tộc trưởng tộc Thích Ca, vua Tịnh Phạn (Suddhodhana), cha của Ðức Phật.

Piprahwa, xưa kia là Ca Tỳ La Vệ, cách Naugarh một trạm xe lửa, nằm trong vòng đai vùng Gorakhpur-Gonda thuộc Sở Hỏa xa Ðông Bắc 22 cây số, và cách Birdpur, nằm trên trục lộ từ Naugarh đến Lâm Tỳ Ni, 9 cây số.

Những xá lợi của Ðức Phật được khám phá ra ở Ca Tỳ La Vệ ngày nay được giữ tại Viện Bảo tàng Quốc gia, ở New Dehli.

Một khám phá khảo cổ đáng lưu ý khác trong thời hậu độc lập xảy ra vào năm 1976, năm làm lễ kỷ niệm Phật đản sanh thứ 2.600, hơn 100 công trình điêu khắc có giá trị và những mảnh nghệ thuật khác thuộc những thời kỳ các triều đại Quý Sương và Cấp Ða (Gupta) được tìm thấy gần những công trình thủy lợi Mathura và trạm xe lửa Bhuteswar trong vùng ngoại ô phía Tây thành phố Mathura. Những vật này được khai quật khi san bằng một ngọn đồi lớn để xây dựng nhà cửa, những di tích của ngôi chùa Viradata nổi tiếng xưa kia đã ở chỗ này. Một trong những công trình kiến trúc đó hình dung Ðức Phật đứng với tóc quăn trông dễ mến, trái tai dài và sự biểu lộ rất tế nhị và thanh bình trên khuôn mặt. Trên lớp áo rõ ràng với những nếp xếp đẹp của tác phẩm điêu khắc trên bệ ghi năm 125 của kỷ nguyên Cấp Ða (tương ứng với năm 434 sau Tây lịch) cung cấp cho chúng ta một tài liệu quan trọng. Nó cho biết tên của tượng là Dina. Ngày trên tượng rơi đúng vào triều đại vua Kamaragupta Mahendraditya. Một mẩu di vật đáng lưu ý khác là hình Ðức Phật khổ lớn trong tư thế vô úy (abhaya). Nửa phần trên của mảng này bảo tồn tình trạng rất tốt. Cũng có một số những mảng khác miêu tả Ðức Phật và các vị Bồ tát dưới nhiều hình tướng và dáng dấp. Một mảnh nhỏ vẽ một cách đẹp đẽ biến cố lớn lao khi Ðức Phật từ bỏ hoàng cung, các móng chân con ngựa của Phật được chư Thiên nâng đỡ.

Phật giáo ở Ấn Ðộ đã bước một bước dài từ khi có phong trào phục hồi khởi sự từ một trăm năm trước. Từ một số lượng ít ỏi vào khoảng 50,000 tín đồ vào năm 1891, số tín đồ Phật giáo theo điều tra dân số vào năm 1981 là 4,7 triệu, tức 0.71 phần trăm dân số. Trong nước Ấn Ðộ hiện đại, phần lớn tín đồ Phật giáo theo truyền thống Theravada (Nguyên thủy). Nhưng những tín đồ Phật giáo ở vùng Hy Mã Lạp Sơn là tín đồ Ðại thừa. Tín đồ Phật giáo Ấn Ðộ có thể chia ra làm bốn nhóm:

- Nhóm thứ nhất, có những tàn tích từ thời đại Phật giáo.
- Nhóm thứ hai, có những sự xen kẽ về đạo đức của những quốc gia láng giềng, như: Nepal, Thái Lan và Miến Ðiện.
- Nhóm thứ ba được đại biểu với những người được Phật giáo hấp dẫn qua phong trào truyền bá của Hội Ðại Bồ Ðề.
- Nhóm thứ tư, những người đệ tử của Bác sĩ B.R. Ambedkar nguyện sống theo con đường của Phật vào năm 1956.

Trong bốn nhóm, những môn đồ của Bác sĩ Ambedkar tạo thành nhóm dẫn đạo. Maharashtra, quê hương của Babasaheb Ambedkar, có một số lượng tín đồ Phật giáo đông nhất đến 83.60 phần trăm tổng số tín đồ Phật giáo Ấn Ðộ. Tám tỉnh bang khác có số tín đồ Phật giáo nhiều hơn 50,000 là: Tây Bengal, Sikkim, Arunachal Pradesh, Madhya Pradesh, Jammu và Kashmir, Tripura, Uttar Prodesh, và Himachal Pradesh. Sáu tỉnh bang khác có số tín đồ nhiều hơn 5,000 là: Karnathaka, Mizoram, Andhra Pradesh, Orissa, Gujarat, và Delhi. Như vậy Phật giáo đóng một vai trò quan trọng trong đời sống quốc gia của đất nước này.

D.C. AHIR - TRẦN ĐỨC PHI BẰNGdịch

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/10/201207:45(Xem: 3201)
Ông Cao Huy Thuần bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Paris và sau đó là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Cộng đồng châu Âu tại Đại học Picardie. Hiện nay ông là giáo sư giảng dạy tại Đại học Picardie, Pháp. Cũng như một số trí thức Việt kiều khác, ông thường xuyên về Việt Nam tham dự các cuộc hội thảo về các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội. Gần đây nhất, ông đã về dự và thuyết trình tại Tuần văn hóa Phật giáo Việt Nam lần thứ IV tổ chức tại Tp Vinh, tham gia hội thảo "Văn hóa Phật giáo Nghệ An: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai". Nhân dịp này, phóng viên VHNA đã có cuộc trao đổi với giáo sư Cao Huy Thuần một số vấn đề về văn hóa và giáo dục.
09/04/201313:57(Xem: 4261)
Thế kỷ thứ sáu trước tây lịch đã đánh dấu một thời điểm khởi sắc về tri thức về tâm linh ở nhiều quốc gia. Ở Trung Hoa chúng ta có Lão Tử và Khổng Tử, ở Hy Lạp có Parmenides và Empedocles, ở Iran có Anathustra, ở Ấn Ðộ có Mahavira và Ðức Phật. Trong giai đoạn này nhiều bậc đạo sư xuất sắc đã biên tập lại các giáo lý đã có từ trước và phát triển những quan điểm mới.
22/09/201010:28(Xem: 5777)
Về tôn giáo, A Dục Vương chủ trương bao dung và tôn kính tất cả mọi tôn giáo cùng giúp đỡ cho các đạo giáo phát triển. Riêng với Phật Giáo, nhà vua tích cực bảo vệ...
19/09/201317:34(Xem: 8728)
Không biết tự khi nào, tôi đã lớn lên trong tiếng chuông chùa làng, cùng lời kinh nhịp mõ. Chùa An Dưỡng (xem tiểu sử), ngôi chùa làng, chỉ cách nhà tôi chừng 5 phút đi bộ. Nghe Sư phụ kể lại, chùa được xây dựng vào khoảng từ 1690 đến năm 1708, do công khai sơn của Hòa Thượng Thiệt Phú, người Tàu sang Việt Nam truyền giáo cùng với các thiền sư khác. Trong chuyến đi hoằng pháp vào đàng trong, Ngài đã xây dựng ngôi chùa này. Chùa nằm trên một khu đất cao nhất làng, quanh năm bao phủ một màu xanh biếc của những khóm dừa, những lũy tre làng thân thương.
09/04/201313:58(Xem: 5835)
Ngay từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã bắt đầu truyền vào nội địa Trung Quốc, lưu truyền và phát triển cho đến nay đã được hơn 2000 năm. Là một tôn giáo phát xuất tại Ấn Ðộ được thỉnh mời đến đất nước Trung Quốc([1]), Phật giáo đã trải qua các thời kỳ sơ truyền, cách nghĩa tỷ phụ ([2]), xung đột, thay đổi, thích ứng, dung hợp, dần dần đã thẩm thấu sâu sắc vào trong văn hóa Trung Quốc, đối với sự phát triển văn hóa lịch sử Trung Quốc phát sanh nhiều mặt ảnh hưởng.
09/11/201203:21(Xem: 3723)
Ngôi Thánh địa Già lam Bạch Mã, ngôi chùa cổ xưa nhất ở Trung Quốc, tọa lạc khoảng 6 dặm Anh, cách Thành phố Lạc Dương, thuộc tỉnh Hà Nam, miền Đông Trung Quốc. Ngôi Già lam Bạch Mã Cổ Tự được sáng lập từ thời Minh Đế của triều đại Đông Hán (từ năm 29 sau Công Nguyên đến năm 75 sau Công Nguyên), gắn liền với truyền thuyết thần kỳ về sự kiến tạo thuở sơ khai.
19/05/201614:52(Xem: 7221)
Bắt đầu từ ngày 06 tháng 4 năm 2016, cá biển tự nhiên và cá nuôi lồng bè của ngư dân ven biển chết hàng loạt, bắt nguồn từ khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh), lan xuống các tỉnh lân cận (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng…) suốt dọc trên 200 cây số bờ biển. Ngay cả rạn san hô, “nhà ở” của các sinh vật dưới biển, cách bờ biển từ 1-6 hải lý, chạy dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Quảng Bình, cũng đã bị phá hủy trong các đợt cá chết vừa qua; san hô chết, nhiều sinh vật biển chết theo (theo báo cáo ngày 06.5.2016 của chính quyền địa phương thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
06/07/201507:44(Xem: 3555)
(Bài này được trích dịch từ tài liệu có tên “Những Giới Hạn Trong Các Vùng Biển” (Limits In The Seas) mang số 143 với tựa đề “Trung Quốc: Tuyên Bố Chủ Quyền Biển Trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)” (China: Maritime Claims In The South China Sea) được Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Vùng Cực (Office of Ocean and Polar Affairs), Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Môi Trường và Khoa Học Quốc Tế (Bureau of Ocean and International Environmental and Scientific Affairs) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (US Department of State) công bố ngày 5 tháng 12 năm 2014 – (Nguồn: http://www.state.gov/documents/organization/234936.pdf ). Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét tuyên bố về biển và/hay các biên giới của Bộ Ngoại Giao và đánh giá sự phù hợp với luật quốc tế. Nghiên cứu này đại diện quan điểm của Chính Phủ Hoa Kỳ chỉ đối với những vấn đề đặc biệt được thảo luận trong đó và không nhất thiết phản ảnh sự chấp thuận những giới hạn được tuyên bố. Các phân tích gia chính cho nghiên cứu này là Kevin Baumert
10/10/201112:54(Xem: 3476)
Khi tại thế, Ðức Phật đi hoằng hóa nhiều nước trong xứ Ấn Ðộ, đệ tử xuất gia của ngài có đến 1250 vị, trong đó có Bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề...
07/07/201120:06(Xem: 11440)
Lời Ban Biên Tập: Nhằm mục đích góp phần giúp thế hệ trẻ Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại biết rõ lịch sử Việt Nam trong năm 1963 xảy ra như thế nào và nhất là để có nhận thức sâu sắc hơn về điều mà dân tộc đã khẳng định: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một”. Cho nên chúng tôi lưu trữ vào Thư Viện Hoa Sen CÁC BẢN DỊCH TỪ KHO DỮ LIỆU BỘ NGOẠI GIAO, BỘ QUỐC PHÒNG, CƠ QUAN TÌNH BÁO TRUNG ƯƠNG & CÁC NGUỒN KHÁC đã giải mật. Các tư liệu này có liên quan đến sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Sự việc này chắc chắn sẽ có những ý kiến ủng hộ và chống đối, nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Ban biên tập website Thư Viện Hoa Sen chân thành cảm tạ nhà văn Cư sĩ Nguyên Giác, Cư sĩ Nguyễn Kha, và Nhà Xuất Bản Thiện Tri Thức Publications đã gửi tặng các phiên bản vi tính điện tử và trân trong giới thiệu đến toàn thể quý độc gỉa trong và ngoài nước.