Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Lâm Tế Nghĩa Huyền

24/09/201003:49(Xem: 4042)
Lâm Tế Nghĩa Huyền
lamtetosu_1
Khi nói tới Thiền tông thì tên tuổi của tổ Lâm Tế được nhắc nhở đến nhiều nhất vì dòng Thiền của tổ vẫn còn được truyền tiếp mạnh mẽ cho tới ngày nay. Tại Nhật Bản hai tông Zen, tức Thiền tông, còn tồn tại đến nay làtông Lâm Tế (Nhật: Rinzai) và Tào Động (Nhật: Soto). Tại Việt Nam thì trừ vài chùa là thuộc tông Tào Động còn lại đều thuộc tông Lâm Tế. Như vậy nói tới Thiền tông thì không thể không biết về đường lối tu hành do tổ Lâm Tế truyền lại.

Nếu kể dòng truyền thừa từ thời Lục tổ Huệ Năng (638-713),thì kế tiếp là Nam Nhạc Hoài Nhượng, Mã Tổ Đạo Nhất,Bá Trượng Hoài Hải, Hoàng Bá Hy Vận và Lâm Tế Nghĩa Huyền. Như vậy là khoảng 150 năm sau Lục tổ, hoặc hơn 300 năm sau tổ Bồ Đề Đạt Ma, hạt giống Thiền tông được mang từ Ấn Độ qua gieo trồng tại Trung Hoa đã trở thành một cây cao lớn, tươi tốt. Thiền tông đã trở thành một tông phái mạnh mẽ trong mười tông của Phật giáo. Sau này vào khoảngthế kỷ 13 thì cây này bắt đầu trụi tại Trung Hoa, nhưngmay nhờ có được truyền sang Nhật Bản từ thế kỷ thứ 10 nên cây này còn được tươi tốt cho đến ngày nay.

Cuộc đời
Tổ hiệu là Nghĩa Huyền, họ Hình quê ở Nam Hoa thuộc Tào Châu.Sử chỉ ghi tổ mất năm 866 (có tài liệu ghi là 867) mà khôngghi rõ năm sanh, theo một số học giả thì tổ sanh khoảng810 đến 815. Vì sau đó tổ trụ trì tại chùa Lâm Tế, nên sau này được gọi là Lâm Tế Nghĩa Huyền (Trung Hoa: Lin Chi I Hsuan, Nhật: Rinzai Gigen).

Hồicòn trẻ, sau khi thọ giới cụ túc, Lâm Tế nghiên cứu tinhtường giới luật, thâm hiểu kinh luận, nhưng Lâm Tế thườngthan: "Đây là phương thuốc cứu đời, chưa phải yếu chỉcủa giáo ngoại biệt truyền."Vì vậy Lâm Tế đi thamvấn các vị thiền sư để theo học Thiền tông. Lâm Tế tớihội của tổ Hoàng Bá Hy Vận (Tr.H: Huang Po Hsi Yuan, Nh: ObakuKiun) và ở đó ba năm mà chưa tham hỏi gì. Có vị Thủ tọakhuyên Lâm Tế nên lên tham hỏi Hoàng Bá để hỏi về thếnào là đại ý Phật pháp. Ba lần lên gặp mà ngay khi chưanói dứt lời đã bị Hoàng Bá đánh cả ba lần. Khi Lâm Tếthất vọng đến từ giã thì Hoàng Bá dặn đến gặp thiềnsư Đại Ngu (Tr.H: Ta Yu).
ĐạiNguhỏi: "Hoàng Bá có dạy lời gì?"
-"Con ba phen hỏi Đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳngbiết con có lỗi hay không lỗi? "
-"Bà già Hoàng Bá đã có lòng từ bi thắm thiết như thế đốivới ngươi mà ngươi còn đến đây hỏi có lỗi hay khônglỗi! "
Ngaycâunói ấy Lâm Tế hoát nhiên đại ngộ, rồi thưa: "Phậtpháp của Hoàng Bá vốn chẳng có nhiều." Đại Ngu nắm chặtLâm Tế rồi nói: "Con quỷ đái dưới sàn, vừa nói có lỗihay không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá khôngnhiều. Ngươi thấy đạo lý gì, nói mau! nói mau! "LâmTế đánh vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu buông ra, nói:"Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì việc củata. " Lâm Tế từ tạ Đại Ngu rồi trở về với Hoàng Bá.Thấy Lâm Tế trở về, Hoàng Bá biết là Lâm Tế đã ngộ,nhưng sau câu chuyện nhắc về Đại Ngu thì Lâm Tế tát taiHoàng Bá!

Saukhi được Hoàng Bá ấn chứng thì Lâm Tế vẫn tiếp tụctheo hầu Hoàng Bá một thời gian. Tình hình Phật giáo tạiTrung Quốc lúc đó gặp khó khăn vì đến năm 845 vua Wu-Tsungcó những biện pháp cứng rắn đàn áp Phật giáo. Chỉ trongvòng có 8 tháng năm 845 mà có hơn 4.600 tu viện bị phá hủy,hơn 260.000 tăng, ni bị ép buộc hoàn tục, hơn 40.000 ngôi chùabị phá hủy. Có lẽ cũng vì vậy nên Lâm Tế phải di chuyểnluôn và sau đó thì đến Hà Bắc, góc nam thành Đông TrấnChâu, đất Lâm Tế trụ trì tại một ngôi chùa của PhổHóa (TrH: P'u Hua). Tại đây có quan Tri phủ là Vương ThườngThị và các quan trong phủ thường tới hỏi đạo và cũngít nhất là hai lần mời Lâm Tế tới thuyết pháp. Khi giảngpháp thì Lâm Tế có đặc điểm là dùng tiếng hét hoặc lấygậy đánh! Nhiều khi có người tới thưa hỏi về Phật phápthì Lâm Tế lớn tiếng hét chứ không nói gì khác. Nhiềungười không hiểu gì, nhưng cũng có nhiều người chỉ nhờtiếng hét đó mà đại ngộ.

Saukhi tổ thị tịch, nhà vua ban cho hiệu là Huệ Chiếu ThiềnSư, ngôi chùa hiệu Trừng Linh.

Đệtử của tổ là Tam thánh Huệ nhiên (TrH: San-sheng Hui-jan) ghichép được những lời thuyết pháp cùng những mẩu chuyệnvề đời sống của tổ và viết cuốn Lâm Tế Ngữ Lục (TrH:Lin Chi ch'an-shih yu-lu, Nh: Rinzai Roku, Recorded Sayings of Ch'an MasterLin-chi). Cuốn này có ghi lời tựa của một vị quan là MaFang, viết vào năm 1120. Lời tựa rất ngắn, tóm tắt cuộcđời của tổ và ghi rõ là cuốn này đã được sưu tậpkỹ lưỡng. Cuốn này được Burton Watson dịch đầy đủ vớitên sách là The Zen Teachings of Master Lin Chi, tài liệu này căncứ theo cuốn sách đó.

Phápmôn Lâm Tế
Thờiđạicủa các tổ Mã Tổ, Bá Trượng, Hoàng Bá, Lâm Tế,thuộc đời Đường, thường được coi là thời cực thịnhcủa Thiền tông tại Trung Hoa. Riêng địa vị của tổ LâmTế lại nổi bật vì tổ thành công trong việc đem nhữngtinh hoa của Thiền tông từ tổ Bồ Đề Đạt Ma cho tới tổHoàng Bá vào một pháp môn thực tiễn để đạt tới mụcđích cứu cánh. Những bài giảng về Tứ liệu giản, Tam huyền,Tứ đoạt, Tứ vô tướng .. đã hướng dẫn được nhữngngười theo đạo biết những bước đi cụ thể. Điểm đặcbiệt là tông Lâm Tế sau này chú trọng vào việc thiền theolối công án, còn tông Tào Động thì chú trọng vào việcngồi thiền (tọa thiền). Đó là nói đại cương chứ khôngcó nghĩa là tông Lâm Tế không ngồi thiền.

Thiềnvà Giáo
Trướckhitu hành theo Thiền tông thì tổ Lâm Tế đã rành biết vềKinh, Luật. Nhưng sau khi ngộ lý Thiền thì có nhiều lời giảngmới nghe như có tánh cách bài bác kinh điển.
-"Cácnơi nói lục độ, vạn hạnh cho là Phật pháp. Ta nói đólà cửa trang nghiêm, cửa Phật sự, chẳng phải là Phật pháp."
-Vươngthường Thị đến thưa hỏi tổ, theo tổ đến trước tăngđường, xem xong liền hỏi:
"Tăngchúng trong tăng đường này có xem kinh chăng? " Tổ đáp: "Chẳng xem kinh. ", "Lại học thiền chăng? ", "Chẳng học thiền.", "Kinh đã chẳng xem, thiền lại chẳng học, cứu cánh làmcái gì? ", "Thảy dạy họ làm Phật, làm Tổ."
TổđếnHoàng Bá, thấy hòa thượng xem kinh. Tổ nói: "Tôi sẽbảo người ấy, xưa nay là hòa thượng già đếm đậu đen."(đậuđen: ý nói các chữ viết trên giấy)
Thựcra mười hai phần giáo nói ra chỉ là để hiển bầy lẽ này,kẻ học không lãnh hội bèn hướng vào danh cú mà vọng hiểubiết, ấy đều là có y, có dựa, còn trong vòng nhân quả,chưa ra khỏi sanh tử luân hồi trong tam giới - xem kinh, xemgiáo cũng là tạo nghiệp.
Mộtniệm duyên khởi vô sanh, siêu việt quyền học tam thừa."

Nhưvậy phải chăng Tổ có ý chê bai kinh điển và ngăn cấm đệtử xem kinh? Nhớ lại trong Kinh Pháp Bảo Đàn có ghi việcvị tăng Pháp Đạt đến tham vấn Lục Tổ Huệ Năng vớitâm niệm tự phụ vì đã tụng 3.000 lần bộ kinh Pháp Hoa.Khi Lục Tổ hỏi về nghĩa kinh thì Pháp Đạt thú nhận làkhông hiểu ý cùng căn bổn của kinh. Lục Tổ sau khi giảngvề "tông" của kinh thì có nói tiếp: "Người thế gian,ngoài mê thì dính tướng, trong mê thì dính Không. Nếu đốivới tướng mà lìa tướng, đối với Không mà lìa Không thìtrong ngoài chẳng mê. Nếu hiểu rõ pháp này, một niệm tâmmở sáng, ấy là mở Tri Kiến Phật."Sau khi tỏ ngộ thìPháp Đạt có hỏi: "Nếu vậy, hiểu được nghĩa, thì chẳngcần tụng kinh? " Lục Tổ đáp: "Kinh có lỗi gì, há cóngăn trở sự tụng niệm của ngươi đâu. Miệng tụng màtâm làm theo nghĩa kinh, tức là mình chuyển kinh. Miệng tụngmà tâm chẳng làm theo kinh, tức là mình bị kinh chuyển."Chính vì những người bị kinh chuyển mà tổ Lâm Tế mớinói là không cần xem kinh. Xem kinh mà hiểu rằng những lờiPhật dạy về những pháp tu là phương tiện để hoá độ,để trang nghiêm cửa Phật chứ chưa phải là cứu cánh. TổHoàng Bá, trong cuốn "Truyền Tâm Pháp Yếu", có dạy: "Nhiềungười chỉ học biết để ngộ theo Giáo Pháp, mà không biếttới Tâm Pháp, nên dù đến vô số kiếp cũng không đạt đượcPhật đạo. Cho nên chỉ cần hiểu rõ Tâm này thì không cầnphải tìm Pháp nào khác, vì Tâm tức Pháp."Tổ Lâm Tếgiảng: "Thế nào là Pháp? Pháp là tâm pháp. Tâm pháp khônghình, thông xuốt mười phương, hiện dụng trước mắt. Ngườitin không đến, bèn nhận danh, nhận cú, hướng vào danh tựtìm cầu, lấy ý để suy xét Phật pháp, thật cách xa nhưtrời với đất.
-Có vị tăng hỏi: "Thế nào là chân Phật, chân Pháp, chânĐạo, xin thầy chỉ dạy." Tổ đáp: "Phật là tâm thanh tịnh,Pháp là tâm sáng suốt, Đạo là mỗi chỗ không chướng ngại.Tịnh, sáng, không chướng ngại .. tuy ba mà một, đều làdanh từ suông, không thật có."
-Người học không hiểu, chấp danh cú, bị danh phàm thánh làmchướng ngại. Mười hai phần giáo nói ra cốt biểu hiểnlẽ này. Học giả không hội, bèn nhằm trên danh cú biểuhiển sanh hiểu, đều là nương tựa rơi tại nhân quả, chưakhỏi sanh tử trong tam giới. "

Nhưvậy nên nay nói Thiền Giáo song tu thì không phải là ý cáctổ vậy. Kinh điển có thể giúp người tu một phần nàocăn bản để đạt lý Thiền, như Lục tổ Huệ Năng chỉnghe một câu trong kinh Kim Cang mà ngộ, thiền sư Huyền Giácxem kinh Duy Ma Cật mà ngộ, nhưng đối với Thiền tông thìkinh điển là một phương tiện để tu hành, cho nên khôngđặt nặng vấn đề xem và tụng kinh. Đức Sơn (780-865), tinhthâm kinh luật, chuyên giảng kinh Kim Cang, nên lúc đầu chêbai Thiền tông nhưng khi gặp thiền sư Sùng Tín thì mới thấysự sai lầm và xin ở lại học Thiền. Sau khi ngộ rồi sưmới thấy là kinh điển không phải là cứu cánh, và sư nổilửa đốt hết bộ sớ sao.

Thiềntông không chú trọng về kinh điển, không phải vì có ý chêbai nhưng cho rằng nếu không được sử dụng đúng thì còncó thể gây chướng ngại cho pháp tu nữa. Mỗi tông phái đềucó pháp tu riêng biệt cho nên nếu đem pha trộn với pháp tukhác thì chẳng bao giờ có kết quả tốt đẹp được. Nhữngngười lập ra các pháp song tu là tỏ ra ý nghĩ chê bai tổcác tông phái nên pha chộn 2, hoặc 3 tông khác nhau để lậpra tông mới mà chẳng giống chút nào ý các tổ của mỗitông.

Chỉthẳng người đang nghe pháp
Cáctổtrước thời tổ Lâm Tế đều chỉ rõ mục đích củaThiền tông là thấy Tánh (kiến tánh), nhưng tổ có đặc điểmlà nhân cách hóa "cái đó":
"Trêncụcthịt đỏ* có vị chân nhân không ngôi vị*, thườngtừ cửa mặt (từ sáu căn) các ông ra vào. - Chỉ cóđạo nhân vô y* đang nghe pháp là cội nguồn của chư Phật,vì chư Phật đều từ vô y sanh - Cái người hiện nay đangnghe pháp đó, chẳng phải là tứ đại của các ông. Tứ đạicác ông không biết nghe pháp và nói pháp. Hư không cũng khôngbiết nói pháp và nghe pháp. Vậy cái gì biết nói pháp vànghe pháp, ấy là cái không hình dáng mà sáng tỏ rõ ràng trướcmắt của các ông đó. Nếu thấy được như thế thì cùngPhật, Tổ không khác - Các ông nếu muốn đi lại tự do trongsanh tử thì phải nhận biết cái người đang nghe pháp đây,vốn là vô hình, vô tướng, vô căn, vô bản, không nơi trụ,mà hoạt bát rõ ràng, ứng dụng muôn thứ. Thực ra chỉ cóngười hiện nay đang nghe pháp ngay trước mắt các ông đây,vào lửa chẳng bị cháy, vào nước chẳng chìm, vào địangục tam đồ như đi dạo vườn hoa, vào ngạ quỷ súc sanhmà chẳng thọ ác báo."
-Các ông muốn nhận biết chư Phật, chư Tổ chăng? Chính làngười đang nghe pháp trước mắt đây. Học nhân thiếu tựtin bèn hướng ngoại tìm cầu. Dẫu cho tìm được cũng đềuchỉ là văn tự, danh tướng, trọn chẳng được ý của Tổsống. "
(*)"Cụcthịt đỏ" là sắc thân. "Vô ngôi vị" có nơi dịchlà vô địa vị, bản Anh văn dịch là "no ranks". "Vô y" làkhông có nương vào đâu, vượt khỏi vòng phân biệt, đốiđãi, bản Anh văn dịch là "depend on nothing".
Tổnhắcđi nhắc lại nhiều lần để chỉ rõ vị chân nhân,"cái người đang nghe pháp", ngay trước mắt và ngay hiện tại.Thấy được người đó là ngang với Phật, Tổ. Cách giảngdạy đó thật là độc đáo, khác hẳn các vị tổ trước.

Nhữngchiếc áo
Tổnói:"Các đạo lưu! Đừng có bị lôi cuốn vì những cáiáo! - Có cái áo thanh tịnh, có cái áo vô sanh, áo bồ đề,áo niết bàn, áo Tổ, áo Phật. - Các ông có biết cái ngườimặc áo không? " Chúng ta thường chỉ nhìn thấy nhữngcái áo mà không biết "người" mặc cái áo đó ra sao. Thấyđược Người mặc những cái áo mới chính là điều mà đứcPhật muốn chỉ cho chúng ta biết, nhưng vì phương tiện nênđức Phật tùy lúc mà cho mặc áo này, áo kia để chúng tadễ hiểu, cùng như tùy lúc mà đã dùng những danh tự khácnhau để chỉ "người đó". Nhưng chúng ta chỉ mải mê nhắmvào danh tự, say mê về những cái áo mà không thấy đượcnghĩa thâm sâu của đạo. Khó mà chỉ ngay cái Người đóđược vì nó "vô hình, vô tướng, thông xuốt mười phương",danhtự, ngôn cú không diễn tả được, cho nên đức Phật khéoléo choàng cho nó những cái áo khác nhau để chúng sanh tùycăn cơ mà có thể hiểu được. Chúng ta sai lầm khi chỉ biếttrầm trồ ngắm nghía cái áo mà không thấy được Ngườimặc cái áo mà đức Phật muốn chỉ cho chúng ta. Tổ BồĐề Đạt Ma từ Ấn Độ qua Trung Hoa cũng chỉ có mục đíchchỉ ra được Người đó. "Nếu thấy được như thế thìcùng Phật, Tổ không khác." Thấy được vị "chân nhânkhông ngôi vị", người dang nghe pháp trước mắt, người đạonhân không chỗ trụ (vô y), người mặc những cái áo nóitrên là điểm trọng yếu trong tông Lâm Tế.

Pháptu
NgườiPhậttử nào khi hành đạo cũng tìm hiểu đường lối tuhành như thế nào, tu để được gì. Nhưng tổ Lâm Tế lạigiảng: "Các ông! Các nơi đều nói có đạo để tu, cópháp để chứng, Ông nói thử xem chứng pháp nào, tu đạonào? Nay chỗ dụng của các ông có thiếu vật gì, tu bổ chỗnào?"
Câunóiđó thật làm đảo lộn những hiểu biết thông thường,làm chúng ta bỡ ngỡ, thắc mắc. Phải chăng như vậy là tổcho rằng chẳng có gì để tu hết? Nói tu là thường đượchiểu như tu tâm, sửa tánh, để rồi được tới một cáigì tốt đẹp, cao cả hơn đời sống hiện tại. Nhưng conđường tu hành mà hiểu như vậy thì tuy có đắc, có chứngđược gì thì cái đó vẫn còn trong vòng nhân quả, rồi cũngtheo luật vô thường mà chấm dứt. "Nếu do tu mà đắcđược , đều là nghiệp sanh tử."
Câunóitrên cũng có thể so sánh với câu của tổ Hoàng Bá: "Hỏi:Thế nào là Đạo, và thế nào là tu hành? Tổ Hoàng Bá đáp:Đạo là vật gì mà các ông muốn tu hành?"
Đểgiảngdạy cho đệ tử sơ cơ thì nói có tu, có chứng. Cònđối với người thượng căn mà vẫn còn chấp có tu, cóchứng thì không thể nào tiến tới chỗ thâm sâu của đạođược. Thiền tông đặt mục đích là cần thấy Tánh, tứcchân tâm, Phật tánh, mà Tánh đó thì dù là chư Phật hay chúngsanh cũng đều có như nhau, không phải tu mới được, khôngphải chứng mới được. Trong kinh Bốn mươi hai chương, đứcPhật cũng có dạy là cúng dường cả triệu chư Phật khôngbằng cúng dường người không tu, không chứng. Những lờinói này cao siêu tột bực, cần phải học hỏi cho kỹ, kẻocó người lợi dụng, nói bừa bãi là Phật, Tổ dạy là đâucó cần tu.

Cáchdạy người
Theongữlục ghi chép thì thấy cách dạy người của tổ LâmTế rất là đặc biệt.
"-Tổ thấy một vị tăng đến, liền giơ cây phất trần lên.Tăng lễ bái. Tổ bèn đánh.
Sauđó lại có vị tăng nữa đến, tổ cũng giơ cây phất trầnlên. Ông tăng không màng đến. Tổ cũng đánh.
Lạicó vị tăng khác đến, tổ cũng lại giơ cây phất trần lên.Ông tăng này nói: "Tạ ơn hòa thượng khai thị!" Tổ cũngđánh.
-Tổ thăng tòa, có một ông tăng ra. Tổ bèn hét, vị tăng cũnghét, sau đó tăng lễ bái. "
Nếukhôngđặt được mình vào hoàn cảnh, môi trường, tâm trạngcủa những người lúc đó thì mọi sự suy luận, giải thíchhay chỉ trích cách dạy người đó chỉ là vô ích.
Cáctổthường tránh việc giảng giải nhiều vì thấy rõ rằngnhững lời nói, danh tự không thể giảng được tới chỗcứu cánh, mà nhiều khi lại còn khiến người nghe bám chặtvào đó, suy tính để tìm hiểu thì lại càng xa đạo.
"- Hômnay sự bất đắc dĩ, sơn tăng chiều theo nhân tình mới lêntòa này. Nếu nhằm dưới cửa Tổ tông, khen ngợi việc lớn,hẳn là mở miệng không được.
-Các ông nếu hay bặt được tâm luôn luôn chạy tìm, liềncùng Phật, Tổ chẳng khác.
-Như chỗ thấy của sơn tăng: không Phật, không chúng sanh,không xưa, không nay, được liền đó được, chẳng trảiqua thời tiết, không tu không chứng, không được không mất.Trong tất cả thời lại không có một pháp riêng.
-Sơn tăng nói ra đều là một lúc thuốc bệnh trị, trọn khôngcó pháp thật. Nếu thấy được như vậy là người chân xuấtgia.
-Các ông muốn cùng Phật, Tổ chẳng khác, chỉ chớ tìm kiếmbên ngoài. Trên một tâm niệm thanh tịnh sáng suốt của ônglà ngôi nhà Phật pháp thân của ông. Trên một tâm niệm vôphân biệt sáng suốt của ông là ngôi nhà Phật báo thân củaông. Trên một tâm niệm vô sai biệt sáng suốt của ông làngôi nhà Phật hóa thân của ông. Chỉ không tìm kiếm bênngoài liền có công dụng này.
-Nếu niệm đã khởi chớ cho tiếp tục, mà niệm chưa khởiđừng cho sanh khởi. Làm được như thế thì hơn đi hành cướcmười năm. Đừng để bất cứ nội, ngoại vật nào tróibuộc, gặp chướng ngại nào cứ đạp bỏ hết: gặp Phậtgiết Phật, gặp Tổ giết Tổ, cho đến gặp gì cũng giếtcả. Đó là con đường duy nhất để đi đến giải thoát.(giếtcó nghĩa là bỏ cái tâm chấp trước, để khỏi bị tâm vàcảnh dính mắc)
-Người học từ bốn phương đến, sơn tăng ở dây phân chiacăn cơ để tiếp độ. Có khi đoạt nhân chẳng đoạt cảnh,có khi đoạt cảnh chẳng đoạt nhân, có khi nhân cảnh đềuđoạt, có khi nhân cảnh đều chẳng đoạt." (Đây là phápTứliệu giản, rất quan trọng trong việc giảng dạy, vịthiền sư chân chánh cần hiểu rõ căn cơ người học đểtùy theo đó mà dẫn dắt họ. Pháp này chỉ rõ đường tuhành đi từ phân biệt hai bên, đến chỗ phủ nhận cả haibên và cuối cùng đến chỗ không phủ nhận, không phân biệt,tức như như.)

Chỉrõ những lối tu sai lầm
Tổcũngchỉ rõ những sai lầm của những người tu học mà khôngcó sự hiểu biết chân chánh:
"-Nói rằng ta hiểu thiền, hiểu đạo, biện luận thao thao nhưnước chảy, đều là người tạo nghiệp địa ngục.
-Dù cho đến ở trên chóp núi, một ngày ăn một bữa, thườngngồi chẳng nằm, sáu thời hành đạo, vẫn là người tạonghiệp.
-Đạo lưu! Phật pháp không có chỗ dụng công, chỉ bình thườngvô sự, đi đại, đi tiểu, mặc áo, ăn cơm, nhọc đến thìnằm. Người ngu cười ta, người trí biết ta. Người xưanói: "Làm công phu bên ngoài, thảy là kẻ ngu si."
-Sơn tăng nói hướng ngoài chẳng có pháp, học nhân không lãnhhội được bèn cho là hướng trong, rồi liền dựa vách ngồitrạm nhiên chẳng động; chấp lấy cái này là Phật phápcủa tổ môn, thực là sai lầm lớn. Nếu ông chấp lấy cảnhthanh tịnh, bất động là đúng, vậy tức là ông nhận cáivô minh làm chủ.
-Các đại đức! Động với bất động là hai thứ cảnh, cònđạo nhân vô y thì động cũng dùng, bất động cũng dùng.
-Người chân xuất gia phải biện được kiến giải chân chánhbình thường, biết Phật, biết ma, rành chân, rành ngụy, rõphàm rõ thánh. Nếu biện được như thế, gọi là chân xuấtgia. Nếu ma, Phật không biết, chính là xuất gia này vào giakia, gọi là chúng sanh tạo nghiệp, chưa được gọi là ngườichân xuất gia.
-Cái lục thông của Phật thì chẳng phải vậy. Nghĩa là: vàosắc giới chẳng bị sắc mê hoặc, vào thanh giới chẳng bịthanh mê hoặc, vào hương giới chẳng bị hương mê hoặc,vào vị giới chẳng bị vị mê hoặc, vào pháp giới chẳngbị pháp mê hoặc. Cho nên nói hiểu rõ sáu thứ: sắc, thanh,hương, vị, xúc, pháp đều là tướng không, chẳng bị tróibuộc, ấy là đạo nhân vô y.(Chúng ta thường hiểu lụcthông theo các kinh điển là: (1) Thần túc thông, (2) Thiên nhĩthông, (3) Tha tâm thông, (4) Túc mạng thông, (5) Thiên nhãn thôngvà (6) Lậu tận thông. Nhưng Tổ thấy rằng lục thông đókhông liên hệ gì đến con đường tu hành giải thoát.)

Tómlược
CuốnTruyềnTâm Pháp Yếu của tổ Hoàng Bá đã giảng dạy vềnền tảng giáo lý rõ ràng, đầy đủ về Tâm, còn cuốn ngữlục của tổ Lâm Tế thì có những lời giảng thực dụng,chỉ rõ đường lối tu hành, nhất là những sai lầm đểbiết đường mà tránh. Muốn tu học về Thiền tông thì khôngthể nào thiếu xót được những lời dạy của các tổ.

Nhiềungười cho rằng những lời dạy của Tổ Lâm Tế nhiều khicó vẻ quá mạnh, nhất là đối với những người xuất giakhông chân chánh. Thực ra vì lúc trước Tổ đã là ngườithông hiểu kinh điển và Tổ thấy rõ những đường lốitu hành của số đông thì tuy có kết quả đó, nhưng thựcra vẫn còn trong vòng duyên khởi, sanh diệt. Tổ ví như mũitên bắn ra từ cây cung, khi có sức mạnh sẽ bay cao và xa,nhưng khi hết đà thì vẫn phải rớt xuống. Tu trong vòng hữuvi thì vẫn có được phước tốt đó, nhưng khi hết phướcsẽ trở lại tình trạng trước, vẫn còn loanh quanh trong vòngluân hồi, chưa phải là con đường giải thoát mà đức Phậtchỉ dạy. Do đó khi Tổ hiểu được pháp tu đốn ngộ truyềntừ Lục Tổ Huệ Năng thì Tổ thiết tha trong việc giáo hóađệ tử nên nói mạnh để thức tỉnh họ ra khỏi cơn mê,chỉ biết phí sức theo đuổi những mộng huyễn: "Đạolưu! Các ngươi chớ nhận lấy các mộng huyễn làm bạn, trongkhoảng sớm chiều sẽ trở về vô thường. Các ngươi đếntrong thế giới này tìm vật gì làm giải thoát?-Tamgiới duy tâm, vạn pháp duy thức, nên nói như mộng huyễn,như hoa đốm trên không, cần gì phí sức nắm bắt." Trongkinh Kim Cang, đức Phật có nói bài kệ: "Nhất thiết hữuvi pháp, Như mộng, huyễn, bào ảnh, Như lộ diệc như điển,Ưng tác như thị quán. " (dịch: Tất cả pháp hữu vi, Nhưmộng, huyễn, bọt bóng, Như sương cũng như chớp, Nên khởiquán như thế). Có hiểu được điều này thì mới biết đượccon đường tu hành chân chánh của đạo Phật.

Tổdạy khi tu hành phải có sự hiểu biết (kiến giải) chânchánh để cương quyết gạt bỏ mọi chướng ngại về hìnhthức, về danh từ, khái niệm xuông, để tiến thẳng tớiđích. Vì vậy đã có câu nói sắc bén là "gặp Phật giếtPhật, gặp Tổ giết Tổ" mà chúng ta cần hiểu là nếu cònbám, chấp vào mọi danh từ, khái niệm thì không thể nàođến chỗ cứu cánh được. Nếu còn cứ nhìn miết vào ngóntay thì không khi nào thấy được mặt trăng vậy. Tổ LâmTế nói rõ là chỉ cần rời mắt khỏi ngón tay của đứcPhật và ngẩng mặt lên là nhìn thấy rõ ràng mặt trăng thiệtchứ không phải mặt trăng trong bức hình hoặc mô tả bằngvăn chương bóng bảy. Mặt trăng đây chỉ cái Chân Tánh, ChânTâm, Tri Kiến Phật của mỗi người chứ không phải nhữngpháp hữu vi, mộng huyễn, vô thường mà chúng ta thường phísức chạy theo, bám níu.

Ngoàira chúng ta cũng cần cảnh giác là đã có Thiền "cuồng" căncứ vào một câu hoặc nửa câu của các Tổ mà quyết rằngchính các Tổ nói không cần phải đọc kinh điển, phải dẹphết, chẳng cần ngồi thiền, chẳng cần cả lục độ, vạnhạnh và .. dĩ nhiên là chỉ học theo lời của các vị giáochủ đó thôi. Đó chính là lý do mà chúng ta, dù không tu họcThiền tông, cần phải học hỏi kỹ lời dạy của các Tổđể tránh xa những người mà các Tổ cho là "làm mù mắtthiên hạ".

Tàiliệu trích dẫn:
Hìnhvẽ:Tổ Lâm Tế - của họa sĩ Nhật Suio, thế kỷ thứ 18.
-The Zen teachings of Master Lin-Chi, bản dịch của Burton Watson,1993.
-The Zen Teaching of Rinzai, bản dịch của Irmgard Schloegl, 1975.
-Zen Buddhism: A History - India and China, của Heinrich Dumoulin, 1988.
-Lâm Tế Ngữ Lục, bản dịch của thiền sư Thích duy Lực.
-Băng giảng "Lâm Tế ngữ lục" của thiền sư Thích thanh Từ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/10/201207:45(Xem: 4891)
Ông Cao Huy Thuần bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Paris và sau đó là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Cộng đồng châu Âu tại Đại học Picardie. Hiện nay ông là giáo sư giảng dạy tại Đại học Picardie, Pháp. Cũng như một số trí thức Việt kiều khác, ông thường xuyên về Việt Nam tham dự các cuộc hội thảo về các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội. Gần đây nhất, ông đã về dự và thuyết trình tại Tuần văn hóa Phật giáo Việt Nam lần thứ IV tổ chức tại Tp Vinh, tham gia hội thảo "Văn hóa Phật giáo Nghệ An: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai". Nhân dịp này, phóng viên VHNA đã có cuộc trao đổi với giáo sư Cao Huy Thuần một số vấn đề về văn hóa và giáo dục.
09/04/201313:57(Xem: 6155)
Thế kỷ thứ sáu trước tây lịch đã đánh dấu một thời điểm khởi sắc về tri thức về tâm linh ở nhiều quốc gia. Ở Trung Hoa chúng ta có Lão Tử và Khổng Tử, ở Hy Lạp có Parmenides và Empedocles, ở Iran có Anathustra, ở Ấn Ðộ có Mahavira và Ðức Phật. Trong giai đoạn này nhiều bậc đạo sư xuất sắc đã biên tập lại các giáo lý đã có từ trước và phát triển những quan điểm mới.
22/09/201010:28(Xem: 8464)
Về tôn giáo, A Dục Vương chủ trương bao dung và tôn kính tất cả mọi tôn giáo cùng giúp đỡ cho các đạo giáo phát triển. Riêng với Phật Giáo, nhà vua tích cực bảo vệ...
19/09/201317:34(Xem: 12503)
Không biết tự khi nào, tôi đã lớn lên trong tiếng chuông chùa làng, cùng lời kinh nhịp mõ. Chùa An Dưỡng (xem tiểu sử), ngôi chùa làng, chỉ cách nhà tôi chừng 5 phút đi bộ. Nghe Sư phụ kể lại, chùa được xây dựng vào khoảng từ 1690 đến năm 1708, do công khai sơn của Hòa Thượng Thiệt Phú, người Tàu sang Việt Nam truyền giáo cùng với các thiền sư khác. Trong chuyến đi hoằng pháp vào đàng trong, Ngài đã xây dựng ngôi chùa này. Chùa nằm trên một khu đất cao nhất làng, quanh năm bao phủ một màu xanh biếc của những khóm dừa, những lũy tre làng thân thương.
19/01/201910:19(Xem: 1449)
Ngày nay Phật Giáo đã đi vào sinh hoạt thường nhật của người dân Mỹ một cách sâu rộng, từ những giờ phút thực hành Thiền trong quân đội, sở cứu hỏa, ty cảnh sát, trường học và công tư sở đến phương thức trị liệu tâm lý trong y học.
09/04/201313:58(Xem: 8101)
Ngay từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã bắt đầu truyền vào nội địa Trung Quốc, lưu truyền và phát triển cho đến nay đã được hơn 2000 năm. Là một tôn giáo phát xuất tại Ấn Ðộ được thỉnh mời đến đất nước Trung Quốc([1]), Phật giáo đã trải qua các thời kỳ sơ truyền, cách nghĩa tỷ phụ ([2]), xung đột, thay đổi, thích ứng, dung hợp, dần dần đã thẩm thấu sâu sắc vào trong văn hóa Trung Quốc, đối với sự phát triển văn hóa lịch sử Trung Quốc phát sanh nhiều mặt ảnh hưởng.
09/11/201203:21(Xem: 5121)
Ngôi Thánh địa Già lam Bạch Mã, ngôi chùa cổ xưa nhất ở Trung Quốc, tọa lạc khoảng 6 dặm Anh, cách Thành phố Lạc Dương, thuộc tỉnh Hà Nam, miền Đông Trung Quốc. Ngôi Già lam Bạch Mã Cổ Tự được sáng lập từ thời Minh Đế của triều đại Đông Hán (từ năm 29 sau Công Nguyên đến năm 75 sau Công Nguyên), gắn liền với truyền thuyết thần kỳ về sự kiến tạo thuở sơ khai.
19/05/201614:52(Xem: 11688)
Bắt đầu từ ngày 06 tháng 4 năm 2016, cá biển tự nhiên và cá nuôi lồng bè của ngư dân ven biển chết hàng loạt, bắt nguồn từ khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh), lan xuống các tỉnh lân cận (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng…) suốt dọc trên 200 cây số bờ biển. Ngay cả rạn san hô, “nhà ở” của các sinh vật dưới biển, cách bờ biển từ 1-6 hải lý, chạy dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Quảng Bình, cũng đã bị phá hủy trong các đợt cá chết vừa qua; san hô chết, nhiều sinh vật biển chết theo (theo báo cáo ngày 06.5.2016 của chính quyền địa phương thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
06/07/201507:44(Xem: 5800)
(Bài này được trích dịch từ tài liệu có tên “Những Giới Hạn Trong Các Vùng Biển” (Limits In The Seas) mang số 143 với tựa đề “Trung Quốc: Tuyên Bố Chủ Quyền Biển Trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)” (China: Maritime Claims In The South China Sea) được Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Vùng Cực (Office of Ocean and Polar Affairs), Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Môi Trường và Khoa Học Quốc Tế (Bureau of Ocean and International Environmental and Scientific Affairs) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (US Department of State) công bố ngày 5 tháng 12 năm 2014 – (Nguồn: http://www.state.gov/documents/organization/234936.pdf ). Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét tuyên bố về biển và/hay các biên giới của Bộ Ngoại Giao và đánh giá sự phù hợp với luật quốc tế. Nghiên cứu này đại diện quan điểm của Chính Phủ Hoa Kỳ chỉ đối với những vấn đề đặc biệt được thảo luận trong đó và không nhất thiết phản ảnh sự chấp thuận những giới hạn được tuyên bố. Các phân tích gia chính cho nghiên cứu này là Kevin Baumert
25/02/201921:04(Xem: 3679)
Bức Tượng Phật ngồi lưng vua độc nhất Việt Nam ở Hà nội, Vua Lê Hy Tông cho tạc tượng đặt trong chùa Hòe Nhai để bày tỏ sám hối vì đã cư xử sai lầm với đạo Phật