Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phật Pháp Căn Bản

19/02/201108:06(Xem: 3647)
Phật Pháp Căn Bản

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006
MỤCLỤC

Lờimởđầu
01Mười hai nhân duyên (dvādaśāṅgapratītya-samutpāda)
phatphapcanban-cover
Nộidungvà ý nghĩa mười nhân duyên
Sựliênhệ duyên khởi của mười nhân duyên
02Bốn sự thật (catur-vidhaṃ satyam)
Sựthậtvề Khổ (duḥkha-satya)
Sựthậtvề Tập (samudaya-satya)
Sựthậtvề Dứt khổ (Nirodha-satya)
Sựthậtvề Con đường (Marga-satya)
03Tứ niệm trụ (catvāri smṛty-upasthānāni)
04Tứ chánh cần (Catvāri prahāṇāni)
05Tứ thần túc (Catvāra-ṛddhipādāḥ)
06Ngũ căn - Ngũ lực (Pañcānām indriyāṇām - Pañcānāṃ balānām)
07Thất giác chi (Saptabodhyaṅgāni)
08Bát chánh đạo (āryāṣṭāṅgika-mārga)

LờiMở Đầu

Trongsuốtbốn mươi lăm năm thuyết giáo của đức Đạo sư, saukhi Ngài diệt độ còn để lại cho chúng ta một gia tài phápngữ đồ sộ, được các đệ tử của Ngài tuyên thuyếtđộc tụng và ghi chép lại thành văn bản mãi cho đến ngàyhôm nay, chúng ta biết được qua ba tạng giáo điển của Namtruyền và Bắc truyền thuộc hai hệ ngôn ngữ sanskrite (Hántạng) và Pāli (Pàli tạng). Hai tạng này hiện đang đại diệncho Phật giáo phát triển sau này là Đại thừa và Tiểu thừa.Những giáo pháp được đức Đạo sư nói ra không ngòai mụcđích ban vui cứu khổ đưa đến an vui Niết-bàn giải thóat,cho dù là thiên kinh vạn quyển được triển khai từ nhữnglời dạy cơ bản của Ngài, nhưng ý nghĩa của chúng vẫnkhông ngoài ý nghĩa của những lời dạy cơ bản từ đứcĐạo sư qua Mười hai nhân duyên, Bốn sự thật cùng Ba mươibảy phẩm trợ đạo. Ở đây chúng tôi cố gắng trình bàymột cách tổng hợp qua hai quan điểm Đại và Tiểu thừatheo sự chứng đắc và ngộ giải của họ theo những chỗđồng dị tùy thuộc vào căn cơ nhận thức của họ mà lýgiải những giáo lý cơ bản này.

Vớithập nhị nhân duyên Ngài đã khám phá ra nguyên nhân chínhyếu của vòng tròn sinh khởi và huỷ diệt khổ đau của sinhtử luân hồi. Theo phương pháp quán thuận nghịch, tức làcách quán lưu chuyển và hoàn diệt của thập nhị nhân duyên.Trong 49 ngày đêm Ngài ngồi tư duy dưới bóng cây Bồ-đềkhông ngoài vấn đề này. Vấn đề sinh, lão, bệnh, tử đượcNgài đặt ra như là một tiên quyết là làm sao biết đượcvấn đề con người từ đâu sinh ra? Và khi chết sẽ đi vềđâu? Đây là giáo nghĩa cơ bản của những lời dạy cơ bảncủa đức Phật đối với ngoại hàm trong cách giải thíchmọi hiện tượng nhân duyên sinh khởi và biến dịch củanhân sinh cùng vũ trụ được Ngài triển khai rộng theo thờigian và không gian của ba đời theo luật tắc nhân quả, quanhận thức quán chiếu lưu chuyển và hòan diệt theo địnhthức duyên khởi quán hay còn gọi là duyên sinh quán. Mườihai chi này làm nhân và duyên vào nhau mà hiện khởi theo chiềulưu chuyển sinh khởi hay ngược lại, làm nhân duyên cho nhaumà biến diệt theo chiều hòan diệt trong nhận thức quán lưuchuyển và hòan diệt.

VớiTứ đế là giáo nghĩa cơ bản nội hàm dùng để giải thíchmọi hiện tượng nhân sinh vũ trụ được quy nạp từ thậpnhị nhân duyên, là con đường trung đạo duy nhất giải thoátsinh tử luân hồi, là những lời dạy đại cương trên đạithể của giáo nghĩa nguyên thỉ của đức Phật cho cả Tiềuthừa lẫn Đại thừa sau này.

Vớibốn phạm trù thân, thọ, tâm và pháp là nơi để hành giảtập trung tâm niệm vào một trong bốn điểm này khi tu tập,mục đích là đề phòng và, đình chỉ những tạp niệm vọngtưởng khởi lên. Đây là bốn loại phương pháp dùng đểđạt chân lý trong pháp môn tu hành theo kinh điển Phật giáoNguyên thỉ mà đức Đạo sư đã chỉ dạy.

Vớibốn Chánh cần này giúp hành giả siêng năng tinh tấn (cần)để có thể đoạn trừ (đọan) ác cùng mọi sự giải đãibiếng nhác của chúng ta trong việc hành thiện.
Vớibốnpháp thiền định này, là bốn thứ phương tiện giúphành giả thành tựu các tam-ma-địa (samadhi-chánh định)

Vớinăm căn là nền tảng có khả năng sản sinh và tăng thượngcác thiện nghiệp, thì năm lực chính là sức mạnh để chậnđứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiền não bất thiệnvà, tác dụng các khả năng tăng thượng các pháp lành.

Vớibảy pháp như ý túc có khả năng làm trợ duyên trong việctriển khai trí tuệ giác ngộ cho hành giả để đạt đếnNiết-bàn an vui giải thóat.

Vàcuối cùng là tám con đường chân chánh này là một phươngpháp chính xác để hành giả hướng đến Niết-bàn giảithoát, là một con đường ngắn nhất đưa hành giả đếnchỗ an vui tịch tĩnh, là con đường được Đạo sư nói ralần đầu tiên sau khi Ngài thành Đạo tại vườn Nai cho nămanh em Kiều Trần Như bạn tu của Ngài trước đó để tránhxa hai thái độ sống cực đoan giữa đau khổ (khổ hạnh)và, khoái lạc (hạnh phúc) đưa hành giả đến con đườngTrung đạo không vướng mắc hai bên.

Tómlại từ những pháp cơ bản này được đức Đạo sư triểnkhai ra thành vô lượng pháp môn để đối trị với vô lượngphiền não có được từ chúng sanh qua sự tạo tác của thân-khẩu-ýđể tạo thành nghiệp nhân khổ cho kết quả trong ba cõi sáuđường. Đó chính là cách quán của lưu chuyển sinh khởitrong luân hồi và, ngược lại là quán hòan diệt để chấmdứt khổ sinh tử luân hồi qua những phương pháp tu tập nhưnhững pháp mà đức Đạo sư đã dạy như trên, đó gọi làtu hòan diệt quán; chúng cũng chính là con đường Trung đạongắn nhất để đưa hành giả đạt đến giải thóat mọitrói buộc khổ đau được mọi sự an vui trong cuộc sốngqua trạng thái Niết-bàn vắng lặng.

TrọngThu 2006
ThíchĐứcThắng

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/12/201203:38(Xem: 15828)
Là người mới bắt đầu học Phật, tôi nhận thấy quyển sách nhỏ này thể hiện tốt tinh thần vừa giáo dục vừa khai sáng. Mặc dù đạo Phật có bề dày lịch sử phong phú, đầy những giá trị, điều cần thiết đối với người học Phật ngày nay vẫn là làm thế nào để ứng dụng lời đức Phật dạy vào đời sống hàng ngày. Quyển 100 điều đạo đức tại gia này giúp tôi hiểu tầm ảnh hưởng của đạo Phật đối với cuộc sống thường nhật của con người. Nó có thể được xem như quyển sổ tay hướng dẫn chúng ta sống cuộc đời theo chánh pháp.
15/01/201109:42(Xem: 10849)
Điều làm cho một người trở thành một Phật tử chân chính là người ấy tìm nơi nương tựa ở Đức Phật, Giáo pháp, và chư Thánh Tăng - gọi là Quy Y Tam Bảo.
11/10/201001:57(Xem: 2548)
BA PHÁP ẤN - Edward CONZE - Bản dịch Hạnh viên
06/11/201014:48(Xem: 3863)
Bát Chánh Đạo rất dễ nhớ, nhưng ý nghĩa của chúng thâm sâu và đòi hỏi một sự hiểu biết về nhiều lãnh vực liên quan trong giáo lý của Đức Phật.
27/05/201201:35(Xem: 7178)
Trải qua nửa thế kỷ thuyết pháp độ sinh, Đức Đạo sư đã hóa độ đủ mọi hạng người, không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp, sang hèn. Những đệ tử được Thế Tôn hóa độ, do căn cơ trình độ, tuổi tác, giới tính bất đồng, vì thế được chia thành 7 nhóm và được gọi là 7 chúng đệ tử của Phật. Trong đó, hai nhóm đầu là Ưu bà tắc và Ưu bà di thuộc hàng đệ tử tại gia; năm nhóm sau là Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Tỷ kheo và Tỷ kheo ni thuộc hàng đệ tử xuất gia. Trong bài này, chúng tôi sẽ tuần tự trình bày những giới pháp mà mỗi chúng đệ tử phải lãnh thọ, hành trì trên lộ trình tiến đến giải thoát.
01/02/201111:31(Xem: 8491)
Phật Giáo là một tôn giáo có khoảng 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Danh từ Phật Giáo (Buddhism) phát nguồn từ chữ "buddhi", có nghĩa "giác ngộ", "thức tỉnh".
23/10/201022:03(Xem: 5090)
Trên đời này có những người có chánh kiến, tin rằng sự bố thí cúng dường sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp; các hành vi thiện ác đều dẫn đến quả báo; đồng thời cũng tin rằng có những người chân chánh hành trì Chánh pháp, tuyên bố những điều do tự mình thể nghiệm và chứng ngộ. Do nguyên nhân chánh kiến này mà một số loài hữu tình sau khi mệnh chung được sinh vào thiện thú, cõi đời này (Trung Bộ kinh I)
02/02/201108:54(Xem: 3511)
Tập sách này gồm có những bài viết đơn giản về Phật Pháp Tại Thế Gian, Cốt Tủy Của Ðạo Phật, Vô Thượng Thậm Thâm Vi Diệu Pháp, những điều cụ thể, thiết thực...
05/04/201317:10(Xem: 417)
Để thảo luận vấn đề thường được nhiều người hỏi: sự khác nhau giữa đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy là gì? Để hiểu được điều này chính xác, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của đạo Phật và tìm nguồn gốc của đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy.
09/04/201605:02(Xem: 9000)
Đôi lời về Xá Lợi Phật_Lạt Ma Zopa Rinpoche_Hồng Như dịch, Bảo Tháp thờ Xá Phật còn sót lại ở Thành Tỳ Xá Ly, Ấn Độ (hình phái đoàn hành hương Phật tích Ấn Độ của Tu Viện Quảng Đức tháng 11-2006)