Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tại sao là giả, là huyển

07/11/201222:48(Xem: 927)
Tại sao là giả, là huyển

lotus_3

Không thật, giả, ảo ảnh, như huyễn, như mộng… làmột chủ đề quan trọng hàng đầu của Phật giáo, đó cũng là chủ đề quan trọng hàngđầu của con người trước cuộc đời của chính mình và thế giới mình sống.

Trước hết chúng ta nhìn lại sự giới hạn của các giácquan. Ở đây chúng ta chỉ nói về những màu sắc của sự vật mà chúng ta đang thấy.

Màu sắc là tri giác chủ quan thấy bằng mắt mà một sinhvật có được từ một hay nhiều tần số sóng ánh sáng, với một hay nhiều biên độnào đó. Định nghĩa này rút từ Wikipedia. Màu sắc của sự vật là do sự phản chiếuánh sáng từ vật ấy. Nếu không có ánh sáng chúng ta hoàn toàn không thấy gì. Ánhsáng mặt trời đã được khí quyển lọc rồi đi đến sự vật. Vật ấy hấp thu một sốánh sáng màu. Chẳng hạn chúng ta thấy lá màu lục, vì lá đã hấp thu các sóng ánhsáng màu đỏ và màu xanh. Bông hoa đỏ vì đã hấp thu các sóng ánh sáng màu xanhvà màu lục. Vật màu đen thì hấp thu ánh sáng nhiều hơn, nên nóng hơn vật màutrắng.

Màu đỏ của hoa chỉ là màu bị hắt ra, phản chiếu ra,trong khi những màu khác được hoa hấp thu rồi. Màu đỏ không phải là màu thực sựcủa hoa.

Vẫn lấy thí dụ hoa đỏ. Các sóng ánh sáng màu đỏ nàyđến mắt, vào các tế bào hình nón và hình que trong mắt. Chính các tế bào hìnhnón làm cho chúng ta thấy được màu sắc của thế giới chúng ta. Tế bào hình nóncó ba loại tạo ra ba màu căn bản của chúng ta là xanh, đỏ và lục. Số lượng vàkhả năng tiếp nhận quang tử (photon) của tế bào hình nón là có giới hạn, vì thếcó những trường hợp mắt ta không thấy được, như tia hồng ngoại, tia tử ngoại. Loàichó chỉ thấy hai màu đen trắng, ong thì có thể nhìn ra tia cực tím (tử ngoại).

Đến đây mới chỉ là sự tiếp xúc giữa sóng ánh sáng vớicác tế bào của mắt, phải có những quang sắc tố tiếp nhận kích thích của ánhsáng để sinh ra các biến đổi hóa học. Biến đổi hóa học phải đến một lượng nàođó đủ lớn để tạo thành sự dẫn truyền qua dây thần kinh đưa về não. Chính ở đâymàu đỏ mới hiện ra với chúng ta. Nói cách khác, các giác quan và não đã diễndịch thông tin được tạo bằng các phản ứng sinh hóa, điện từ này thành màu đỏ.

Bông hoa làm bằng những nguyên tử, và nguyên tử thìkhông có màu sắc nào cả. Cũng vậy, mùi hương chỉ là những nguyên tử, mà nhữngnguyên tử thì không có mùi nào cả. Mùi hương chỉ là kết quả của sự xúc chạm củacác nguyên tử với mũi và hệ thần kinh của chúng ta diễn dịch ra thành mùihương, chứ các nguyên tử làm gì có mùi hương.

Một ví dụ khác, cái bàn tôi đang ngồi viết. Với mộtkính hiển vi điện tử thì cái bàn hầu như trống không, vì khoảng không giữa nhânnguyên tử và các hạt bao quanh thì quá lớn, và khoảng cách giữa các nguyên tửcũng quá lớn so với các hạt ‘vật chất’ tạo thành nguyên tử. Cái bàn tiện dụngcho cuộc sống chúng ta như một con người. Chúng ta có thể để sách, đèn, ly nướctrên đó. Nhưng với những hạt nhẹ, như neutrino, thì chúng xuyên qua dễ dàng.Nghĩa là cái bàn là trống không với chúng.

Nói chung màu sắc, âm thanh, hương, vị, cảm giác xúcchạm… đều là những quá trình tri giác do hệ thống giác quan và ý thức tạo thànhtừ những quá trình lượng tử. Chúng chỉ có thực với hệ thống của chúng ta, chúngchỉ có ý nghĩa từ sự diễn dịch của hệ thống chúng ta. Thế giới như chúng tathấy là một quá trình diễn dịch, hay là một quá trình tưởng tượng (tưởng tượng,imaginer, có nghĩa là tạo ra hình ảnh).

Thế giới ấy hiện hữu một cách tương đối, quy ước đốivới chúng ta. Chúng có giá trị một cách tương đối, quy ước để chúng ta sốngthuận tiện trong cuộc đời cũng tương đối và quy ước của mình. Để sống cuộc đờilàm người, chúng ta sử dụng những chân lý tương đối và quy ước này. Nhưng làsai lầm và sai lầm cứ tiếp diễn khi chúng ta cho rằng chúng là chân lý tuyệtđối và tối hậu. Chính sự sai lầm này sẽ đưa chúng ta càng lúc càng sâu vào mộtthế giới giả tạo, tương đối và quy ước mà đạo Phật gọi là thế giới sanh tử.

Quá trình tri giác là một quá trình duyên sanh giữa sựvật (trần), hệ thống giác quan (căn) và thức của các giác quan và ý thức(thức). Duyên sanh hay nhân duyên sanh là sanh ra do những nguyên nhân (nhân)và những điều kiện, hoàn cảnh (duyên). Thiếu một nguyên nhân hay một điều kiện,kết quả tri giác được sẽ khác đi. Vì duyên sanh nên chúng hiện hữu một cáchtương đối và quy ước. Chúng là chân lý tương đối, quy ước.

Chân lý tương đối và quy ước tiện lợi cho cuộc sốngchúng ta. Đi trên đường mà các xe có màu sắc thì dễ thấy, dễ tránh. Nhưng chochúng là có thật một cách tuyệt đối thì đây là vô minh hay sự không biết củachúng ta.

Ý thức gắn liền với thân thể và giác quan nên nhữnggiới hạn của giác quan cũng là những giới hạn của ý thức.

Chúng ta diễn dịch thế giới bằng một loại ngôn ngữ lấythân thể làm điểm quy chiếu: trên dưới, trước sau, cao thấp, phải trái, ngọtbùi, cay đắng… Ngôn ngữ lại làm mạnh thêm cảm nhận.

Ý thức không thể nghĩ đến hai ba cái cùng một lúc:không thể nghĩ đến một đường phố Hà Nội cùng một lúc với một đường phố Sài Gòn.Không thể suy nghĩ một phương trình toán học cùng một lúc với một câu thơ. Nhưvậy ý thức không bao giờ có thể suy nghĩ được cái toàn thể, nghĩa là cùng lúcsuy nghĩ tất cả mọi phương diện của một sự vật hay sự việc.

Chính vì không thể suy nghĩ cùng một lúc Hà Nội và SàiGòn cho nên chính trong ý thức đã có khoảng hở giữa Hà Nội và Sài Gòn. Cókhoảng cách nghĩa là có không gian giữa hai cái đó. Và như vậy ý thức đã tạo rathời gian và không gian trong chính mình và cho chính mình.

Ý thức phải là sự phân biệt và tạo ra sự phân biệt.

Đã thế, ý thức còn bị in dấu, bị nhuộm màu bởi đủ thứký ức, thương ghét, ám ảnh, đố kỵ, hy vọng, hôn trầm, loạn động… Hầu hết ý thứcngười bình thường chúng ta là những phản xạ của những thứ ấy. Chúng ta phóngchiếu và diễn dịch thế giới và người khác theo những gì chúng ta có trong ýthức.

Một cuốn tiểu thuyết là những chữ, những câu. Ý thứcchúng ta xâu nối lại những sự kiện để tạo thành một câu chuyện. Không có sựtưởng tượng của chúng ta sẽ không có câu chuyện. Đã thế, chúng ta còn đọc nótheo ý riêng của mình, đồng hóa với nhân vật nào đó hoặc những tính cách nhânvật nào đó. Thế giới là một cuốn sách để mở mà mỗi người tự đọc theo sự tưởngtượng và ý nghĩa riêng của mình chăng?

Ký ức là sự tưởng tượng trở lại những hình ảnh, âmthanh, mùi hương về một sự vật hay sự việc hiện giờ không hiện hữu nữa. Khi chúngta nhớ lại thì tất cả đã không còn như cũ, tất cả đã đổi thay. Nhớ lại là sựtưởng tượng về cái không hiện hữu. Đó là một giấc mơ giữa ban ngày. Kinh Kim Cươngnói: “Tâm quá khứ bất khảđắc…”.

Ngôn ngữ là cái cần phải có để sống với người khác.Nhưng nếu không tỉnh giác tính cách tương đối và quy ước của nó thì ngôn ngữ làmột sự hỗ trợ mạnh mẽ cho sự mê lầm. Thương ai hay ghét ai, chúng ta đặt tên,dán nhãn cho những tính cách của người đó. Rồi chúng ta chỉ thấy, chỉ hiểungười đó qua cái nhãn hiệu ấy mà thôi. Dần dần chính tên của người ấy trở thànhmột ám ảnh, một tác động lên toàn bộ thân tâm của ta. Chúng ta vẫn thường nghengười ta nói, “mới nhắc tên nó đã thấy sôi máu rồi”.

Ngay cả cái tôi của mình. Cái tôi là một ký ức về tôi,nghĩa là một sự tưởng tượng trở lại một cái tôi với thân tâm không còn hiện hữunữa. Thân thể con người trong một tháng thì các tế bào đều thay mới, đều đã“tái sanh”, lấy đâu có thân thể tôi tháng trước? Tâm thức con người được tạobằng những ý tưởng vụt đến vụt đi, thay đổi từng ngày. Dòng sông hôm nay vẫncòn đó, nhưng nước sông hôm qua đã không còn. Ký ức về cái tôi còn được duytrì, làm cho sống động bằng ngôn ngữ, “tôi đã như thế này, tôi đã như thế kia”.Ngoài trí nhớ và ngôn ngữ về một cái tôi không còn hiện hữu, một cái tôi thườngcòn thì không bao giờ có.

Descartes nói: “Tôi tư duy vậy tôi hiện hữu”. Đây làmột kinh nghiệm bình thường chúng ta đều nhận thấy. Nhưng như thế thì khi tôikhông tư duy vậy tôi không hiện hữu. Cái tôi mà đứt khúc, khi có khi không, cáitôi mà chết đi sống lại liên tục như vậy có thật là một cái tôi không? Hơn nữa,người thường chúng ta thường nghĩ lung tung, đó một chiến trường hỗn loạn của ýtưởng, cảm xúc, muốn và không muốn…, cái tôi như vậy chỉ là một sự xâu xé, phântán, hỗn loạn, khổ đau.

Ý nghĩ cũng là một tưởng tượng về sự vật và sự việcchứ không phải chính là sự vật hay sự việc ấy. Nếu tưởng tượng gần đúng thìchúng ta xử lý vấn đề gần đúng, còn nếu tưởng tượng sai thì chúng ta sai lầmhoàn toàn. Ngay trong khoa học, trước khi làm thí nghiệm, chúng ta phải tưởngtượng ra điều mà chúng ta tìm kiếm trong thí nghiệm ấy. Đi mua một cuốn sách,chúng ta phải tưởng tượng cuốn sách ấy có ở nhà sách nào rồi mới đi. Cuộc sốngcủa chúng ta sống là bằng tưởng tượng, dĩ nhiên tưởng tượng dựa trên lý luậncủa chúng ta, và tưởng tượng thì có thể gần đúng hoặc hoàn toàn là ảo tưởng.

Trong cuộc đời này, tôi là một person, một người, mộtnhân cách, một nhân vật, một ngôi vị. Chữ personnày có nguồn từ chữ personacủa HyLạp, La -tinh, có nghĩa là cái mặt nạ. Ở đời này tôi đóng nhiều vai, trong giađình tôi có thể là cha mẹ, là vợ chồng, là con cháu. Đến chỗ làm, nói với ngườicấp dưới tôi có cách nói khác, với người cấp trên tôi có cách nói khác. Vàosiêu thị tôi đóng vai làm khách hàng, vào đại học tôi đóng vai một học trò. Ởcuộc đời này chúng ta có nhiều vai diễn, nhiều nhân vật, nghĩa là khoác nhiềumặt nạ.

Những mặt nạ ấy có tính chất quy ước, tạm thời. Nhưng tiếcthay ít khi chúng ta thấy ra điều đó và chúng ta cứ đồng hóa với những nhân vậtđó, những mặt nạ đó. Chúng ta không đóngnữa, không diễnnữa. Chúng ta những nhân vật đó, những mặt nạ đó.Trước sau đạo Phật vẫn nói chúng ta vốn giải thoát, chẳng có gì để ràng buộcchúng ta cả. Vậy mà do không biết, vô minh, chúng ta cứ tự ràng buộc với nhữngnhân vật, những mặt nạ để rồi sung sướng, khổ sở, để rồi vênh vang tự đắc haybuồn rầu tuyệt vọng. Chúng ta nhữngchiếc mặt nạ đó cho nên chúng ta phải vui buồn theo chúng, sống và chết theochúng.

Chúng ta còn có thể nói nhiều về nhiều thứ khác nữa. Nhữngthứ chúng ta đã phác lược qua, tri giác giác quan, ý nghĩ, sự tưởng tượng, kýức, sự đồng hóa với vai trò trong vở kịch đời, cái tôi và cái của tôi… chochúng ta thấy một điều là chúng không thật một cách rốt ráo, chúng chỉ tạm thờiđể tiện dụng cho cuộc sống hàng ngày, chúng là những chân lý quy ước, tươngđối, mà đạo Phật gọi là thế đế, tục đế. Điều sai lầm chí tử của chúng ta là chorằng chúng có thật một cách tuyệt đối, chúng là những chân lý tuyệt đối và tốihậu. Với sự lầm lẫn căn bản này, chúng ta bắt đầu bước vào một thế giới củathất vọng và khổ đau.

Cái tôi và cái của tôi là một chân lý quy ước, tươngđối, nghĩa là chúng do rất nhiều nguyên nhân (nhân) và điều kiện (duyên) sanhra. Thiếu một nguyên nhân, thiếu một điều kiện, có thêm một nguyên nhân, thêmmột điều kiện, cái tôi sẽ là một cái tôi khác. Thiếu không khí trong vòng vàiphút hay dư nước trong vòng vài phút thân tâm này sẽ chết. Thân tâm tôi là doduyên sanh, không lúc nào mà không là duyên sanh, nên nó không thường còn (vôthường), nó không có bản chất của tự nó (vô tự tánh, giả hợp), và không phải làmột cái tôi thật (vô ngã). Bám chấp vào nó thì chỉ có bất toại nguyện, khổ đau(khổ).

Sự thật về mọi sự là vô thường, khổ, vô tự tánh, vôngã, giả hợp, như mộng, như huyễn được đạo Phật gọi là chân lý tuyệt đối, tốihậu (chân đế). Chân lý tuyệt đối tối hậu vì không thể nào khác đi được dù trongbất kỳ điều kiện nào, hoàn cảnh nào. Đại thừa tóm tắt tất cả những chân lýtuyệt đối ấy vào một từ tánh Không. Dĩ nhiên tánh Không không chỉ gồm những ýnghĩa tiêu cực ‘không có’ (vô) mà còn là những ý nghĩa tích cực, thậm chí tíchcực tuyệt đối, bởi vì tánh Không là tánh Như.

Sống bằng ý nghĩ, mà ý nghĩ có bản chất là tưởng tượngvà phân biệt hư vọng, điều đó Duy thức tông gọi là thức biến. Những nhận xét vềcái tôi và cái của tôi là giả, là như huyễn ở trên là một phần của điều Duythức gọi là thức biến. Vì là thức biến cho nên là giả, là như huyễn.

Ở đây chúng ta cũng cần có một chánh kiến về giả vànhư huyễn. Khi nói giả, không thật, mộng huyễn thì không có nghĩa là không cógì hết, chẳng có gì giá trị hết. Không thật là không thật đối với cái giả, chứkhông phải không thật đối với cái thật. Nếu không thấy mặt tích cực của giả vànhư huyễn, người ta rất dễ lọt vào hư vô chủ nghĩa (đoạn kiến), cho tất cả làhư vô trong khi vẫn bám chặt vào cuộc đời.

2. Những dẫn chứng ở trên, tuy vắn tắt, nhưng đưachúng ta đến một sự thật: “Ba cõi duy chỉ là tâm, muôn sự duy chỉ là thức”. Chúngta cũng dễ suy ra một hệ luận là nếu tâm và thức thanh tịnh, thì ba cõi và muônsự đều thanh tịnh. Đó là con đường Phật giáo tịnh hóa những mê lầm của tâmthức.

Chúng ta cần phân tích, quan sát để biết giả, nhưhuyễn, như mộng. Chúng ta cần biết cuộc sống mà chúng ta đang sống đây chỉ làchân lý tương đối mà không gia công vào đó những phiền não tham sân si để sốngđúng hơn, mà sống đúng hơn thì đỡ khổ hơn. Đạo Phật chỉ là thế: đưa người ta từcái thấy nghĩ sai lầm để gây ra khổ đau không dứt đến cái thấy nghĩ không sailầm để chấm dứt khổ đau vô cớ.

Thế giới, con người và cái tôi vì những nhân duyên tạmthời hòa hợp mà có, rồi được gán tên định danh mà trở thành có thật một cáchkiên cố, chấp chặt vào đó để khởi tham, giận, ghét, oán… đó là thế giới khổ đaumà chúng ta gọi là sanh tử. Để thoát khỏi cái thế giới phân mảnh, không thể hàihòa, đối nghịch và chiến tranh nhưng bản chất là không thật này, chúng ta phảinhìn ra thật tướng của nó là giả hợp, là do chúng ta tưởng tượng sai lầm (vọngtưởng) mà có ra, là do “mộng tưởng điên đảo” của chúng ta mà tạo thành. Đểthoát khỏi sự việc cho rằng chân lý tương đối là chân lý tuyệt đối, là sự thậtrốt ráo, chúng ta phải nhìn thấy thế giới và cái tôi của chúng ta đúng nhưchúng là, nghĩa là vô tự tánh và như huyễn.

Kinh ViênGiácnói: “Ví như ngọc báu Ma-nithanh tịnh, tùy mỗi phương mà ứng hiện ra năm màu. Những người vô minh khôngbiết thì khi nhìn ngọc Ma-ni kia, cho là ngọc Ma-ni có thật năm màu”.

Thấy vô tự tánh và như huyễn như vậy là để gỡ bỏ nhữngkiến chấp cho là có thật mà chúng ta gắn chặt vào sự vật. Vô tự tánh, giả, nhưhuyễn là để đối trị với nhận thức có tự tánh, có thật mà chúng ta vẫn khoác lênthế giới và chính chúng ta từng phút từng giây.

Quán sát giả, như huyễn là lột ra những lớp vọng tưởngcủa thức ô nhiễm phóng chiếu như lột một củ hành, một cây chuối, hết lớp nàyđến lớp nọ, để tận cùng chứng nghiệm thấy rõ ở trung tâm không có cái gì cả. Đólà vô ngã, là tánh Không, là Bổn lai diện mục. Từ đó tiếp tục sống đời sống củachân lý quy ước, tương đối, giả, như huyễn để giúp đỡ những người đang chìm đắmtrong thế giới mộng tưởng này. Muốn giúp đỡ người khác thì phải sống với họ,cùng họ, sống trong vở kịch đời nhưng tự biết đang đóng kịch. Muốn thức tỉnhnhững người đang mộng thì phải đi vào giấc mộng mà mọi người đang sống. Đó làđiều người xưa gọi là “người huyễn làm việc huyễn trong đạo tràng như huyễn”.

Trí là chân lý tuyệt đối, tối hậu đối lại với thức làchân lý tương đối, quy ước. Niết-bàn là trí không ô nhiễm, là sự tắt mất nhữngảo tưởng sai lầm. Còn sanh tử là thức bị ô nhiễm và nuôi dưỡng, trưởng dưỡngnhững ảo tưởng sai lầm.

Cuối cùng của con đường giả và huyễn chúng ta thấy cóhai thái độ, hai cách hành động. Một thái độ và cách hành động là thấy mọi sựquả là giả, huyễn, mộng thì vứt bỏ hẳn cái giả, huyễn, mộng ấy đi. Thái độ vàcách hành động thứ hai thì ngay từ đầu con đường đã lấy đại bi làm bổn nguyện,nên mặc dầu biết là giả, huyễn, mộng vẫn tiếp tục sống trong sanh tử giả,huyễn, mộng như vậy để giúp đỡ chúng sanh huyễn mộng. Chính vì như vậy mà vớivị này có thêm chữ như: nhưhuyễn, nhưmộng. Một trong những chánh định củavị ấy là như huyễn tam muội.

Nói cách khác, vị trước chỉ sống chân lý tuyệt đối,tối hậu. Còn vị sau thì sống đồng thời cả chân lý tuyệt đối, tối hậu và chân lýquy ước, tương đối như huyễn. Đến độ của hai chân lý ấy là một: “sắc tức làKhông, Không tức là sắc”, “sanh tử tức Niết-bàn”.

Đây là một nghĩa của danh từ Trung đạo, là phái doBồ-tát Long Thọ lập, dựa trên hệ thống các bộ kinh Bát-nhã. Đây là sự tự do củaTrung đạo, tự do đối với cả sanh tử lẫn Niết-bàn.

(Văn Hoá Phật Giáo số 164)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/09/201818:42(Xem: 329)
Tu Tứ Đế Pháp, Bốn Chân Lý Chắc Thật, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi Chứng Đạo dẹp tan sự quấy nhiễu của ma quân ở cõi Trời Tha hóa thứ sáu vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Tân-Mùi. Việt lịch Năm 2256 HBK*. Tr.BC.596. Sau Thời Hoa Nghiêm Phật đến vườn Lộc Dã Uyển truyền dạy Bốn Pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị từng theo Phật cùng tu thuở trước, thành bậc Tỳ Khưu đắc đạo. Năm vị đó là: 1/. A Nhã Kiều Trần Như, 2/. A-Thấp Bà, (Mã-thắng) , 3/ .Bạt-Đề, 4/. Ma-Ha-Nam, 5/. Thập-Lực-Ca-Diếp. Năm Vị nghe pháp Tứ Đế rồi, tu tập chứng A La Hớn Quả. Tứ Đế Pháp: 1. Khổ Đế. 2. Tập Đế. 3. Diệt Đế. 4. Đạo Đế. -Khổ Đế, là Ác quả của Tập Đế. -Tập Đế, là tạo Nhân xấu của Khổ Đế. -Diệt Đế, là Thiện quả của Đạo đế. -Đạo Đế, là Nhân tu của Diệt Đế.
14/08/201811:43(Xem: 435)
Kinh Vị Tằng Hữu của Bắc tông và Tăng Chi Bộ Kinhcủa Nam Tông đều có ghi rằng trong cuộc đời của một vị Phật CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC có 4 lần sự kiện vi diệu này xảy ra. Mỗi lần như thế, có một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh không có nền tảng, tối tăm u ám, mà tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây".
13/08/201807:26(Xem: 414)
Các Phân Khoa Phật Giáo Thích Thái Hòa Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu. Trong Phật giáo có năm phân khoa như sau: 1/ Phật giáo Đại chúng Thời Phật, xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn giai cấp, gồm: - Bà-la-môn (Brāhmaṇa): Giai cấp Tăng lữ, giai cấp học giả của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Họ tự nhận sinh ra từ miệng Phạm-thiên. Giai cấp này làm mai mối giữa thần linh với con người. Họ có sáu quyền hạn: Tự ý làm đền thờ trời; làm thầy tế để tế trời; tự ý đọc Phệ đà (veda); dạy người khác đọc Phệ đà (veda); tự bố thí và tự nhận sự bố thí.
23/05/201819:45(Xem: 450)
Bài viết này để trả lời một vài câu hỏi nhận được gần đây. Nếu giúp được một số độc giả, xin hồi hướng công đức từ bài viết để Phật pháp trường tồn. Trường hợp các câu trả lời bất toàn hay sơ sót, người viết, với vốn học và vốn tu đều kém cỏi, xin lắng nghe quý tôn đức chỉ dạy thêm.
10/03/201807:13(Xem: 627)
To give the briefest conclusion that I can think of to the question- 'Do you think that sectarian diversity affects the stability of Buddhism as a whole?', I would have to say, 'Yes' and 'No'. My intention here is not to give a definitive answer, but to give readers 'food for thought', to enable each of us to be responsible and maintain pure intentions, to think for ourselves and develop genuine wisdom and compassion. In the spirit of the Dharma, rather than dwelling on any possible problems, we should mainly focus on solutions to any such problems. With the hope of maintaining the integrity and purity of Buddhism in this world.
03/02/201820:02(Xem: 931)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
06/01/201815:50(Xem: 1399)
Vài suy nghĩ về việc học chữ Phạn trong các Học Viện Phật Giáo Việt Nam_ Lê Tự Hỷ
08/12/201713:37(Xem: 1161)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
19/11/201705:55(Xem: 681)
Tình, Tưởng. Cả hai đều thuộc về phạm trù của Tâm con người, không có ở trong các loài súc sinh, mặc dù súc sinh có cái biết bằng Giác (giác hồn, sinh hồn) nhưng, không tinh khôn bằng loài người, do Phật tánh bị chìm sâu bởi thú tính cao vời. Chỉ có loài người, Phật tánh được hiện hữu ở ba cấp thượng, trung, hạ, cho nên loài người là linh vật, chúa tể của muôn loài có khả năng dời núi, lấp sông do bởi cái tâm có tánh giác tinh anh Phật, Bồ Tát, Thánh, Phàm. Nói khác hơn, con người chỉ có một tâm nhưng, nó tự chia ra hai phần : Chủ tể và phụ tể. Nói theo Duy Thức Học; là Tâm vương, Tâm sở. Vai trò của Tâm vương là chủ động tạo tác ra vô số lời nói, hành động thiện, ác. Vai trò Tâm sở là duy trì, bảo vệ những thành quả (sở hữu) mà cũng chính nó tức tâm vương đã sáng tạo ra. Nghĩa là cái Tâm con người, nó vừa tạo tác ra các nghiệp, lại vừa đóng vai
19/11/201705:54(Xem: 611)
Con người trong mọi giới ngoài xã hội hiện nay tại các nước có Phật Giáo như Việt Nam, đến chùa xin Quy Y Tam Bảo được thấy rõ, là một tryền thống do con người tự chọn cho mình con đường giải thoát giống như ngày xưa lúc Phật còn tại thế, do tự nhận thức : Đạo Phật là con đường giải thoát, chứ Đức Phật từ ngàn xưa và chư Tăng rại các nước trên thế giới có Phật Giáo hiện hữu hôm nay, không khuyên mọi người phải và nên Quy Y Tam Bảo. Bởi vì đạo Phật, là đạo tự giác, tức là để cho con người tự do tìm hiểu giáo lý Phật. Sau đó thấy được đạo Phật là con đường giải thoát sinh tử khổ đau thực sự mà phương tiện là giáo lý, qua quá trình tự tu, tự giác ngộ, thì mới phát nguyện xin quy y Tam Bảo. Qua đây cho ta thấy đạo Phật không phải là đạo cứu rỗi, bang phước giáng họa cho bất cứ ai.