Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Kinh A Ma Trú

04/07/201219:24(Xem: 760)
Kinh A Ma Trú
Phat Thich Ca 3a
KINH A MA TRÚ
Toàn Không

1)- HÀNH VI CỦA A MA TRÚ

Một thời đức Phật đu hóa đến rừng Y Xa nước Câu Tát La cùng với 1250 Tỳ Kheo; Rừng Y Xa thuộc làng Y Xa Măng Già La rất lớn và giàu có, được Vua Ba Tư Nặc, nước Xá Vệ phong cho Bà La Môn Phất Già La Ta La giữ phần cúng tế Phạm Thiên

Bà La Môn Phất Gia La Ta La là dòng dõi 7 đời có cha mẹ đều chân chính, là người thông suốt Kinh sách Phệ Đà (Ấn Độ giáo) về tướng pháp, về tế tự, v.v... Ông có 500 đệ tử mà người đứng đầu là A Ma Trú, A Ma Trú cũng có nguồn gốc và thông suốt Kinh sách như vị thầy, và cũng có rất nhiều đệ tử.

Bấy giờ Bà La Môn Phất Già La Ta La nghe tin Sa Môn Cù Đàm là Thái Tử thuộc dòng họ Thích Ca đã xuất gia và thành Đạo, Ngài cùng với vô số đệ tử đến rừng Y Xa thuộc thôn của ông. Sa Môn Cù Đàm rất có tăm tiếng khắp nơi là bậc chí chân Đẳng Chính Giác, là bậc Thầy của Trời và Người, Ngài thuyết pháp trước sau đều toàn thiện, nghĩa lý đầy đủ. Nghe rồi, ông tự nghĩ: “Một bậc như thế, ta phải đến yết kiến”, nhưng ông lại nghĩ: “Nay đệ tử của ta là A Ma Trú cũng có gia thế ngang với ta, và có kiến thức không thua ta là bao. Ta có thể sai đến xem Ngài Cù Đàm có 32 tướng tốt hay không đã”. Nghĩ rồi, Bà La Môn cho gọi A Ma Trú tới mà bảo:

- Nay Ông hãy đến rừng Y Xa gặp Sa Môn Cù Đàm xem ông ấy có 32 tướng tốt không, rồi về cho ta biết.

Khi ấy A Ma Trú nói:

- Thưa Thầy, con phải suy xét như thế nào để biết 32 tướng tốt của Sa Môn Cù Đàm là có thật hay không?

Bà La Môn bảo:

- Nếu người có đủ 32 tướng tốt của bậc Đại Nhân thì nhất định hướng đến một trong hai con đường:

Thứ nhất:Nếu vị ấy ở tại gia sẽ làm Đại Vương nhân đức thống lãnh thiên hạ.

Thứ hai:Nếu vị ấy xuất gia sẽ thành bậc chí chân Đẳng Chánh Giác.

Vậy Ông nên quan sát cho kỹ để biết rõ ràng.

Sáng hôm sau, A Ma Trú dẫn một đoàn thanh niên trai tráng đông đảo đi trên một đoàn xe rầm rộ tới rừng Y Xa. Khi tới nơi họ dừng xe đi bộ đến chỗ đức Phật ngự . Sau khi chào hỏi xong, A Ma Trú đứng, đức Phật đứng dậy thì A Ma Trú lại ngồi xuống, Đức Phật ngồi theo, A Ma Trú lại đứng lên. Khi đó đức Phật nói:

- Ông đã từng đàm luận như thế này với các bậc kỳ cựu Trưởng lão đại Bà La Môn hay chưa?

A Ma Trú nói:

- Sa Môn Cù Đàm muốn nói gì?

Đức Phật bảo:

- Vừa mới chào hỏi xong, Ta ngồi thì Ông đứng, Ta đứng lên Ông lại ngồi, Ta ngồi xuống Ông lại đứng lên; vậy cách đàm luận của Thầy Ông có như thế không?

A Ma Trú nói:

- Cách đàm luận Bà La Môn chúng tôi là ngồi thì cùng ngồi, đứng thì cùng đứng, nằm thì cùng nằm. Nay sở dĩ như thế là vì Sa Môn là những kẻ phá hoại hình hài, là kẻ cô độc, hạ liệt đê hèn, nhỏ mọn tu hành theo pháp môn mờ ám. Do đó khi tôi đàm luận với hạng người này thì không thể cùng ngồi cùng đứng.

Đức Phật bảo A Ma Trú:

- Thanh niên nhỏ này chưa được dạy dỗ.

A Ma Trú nghe đức Phật gọi mình là “Thanh niên nhỏ” và “chưa được dạy dỗ”, liền nổi sân hận, và hủy báng Phật:

- Thật đúng là dòng họ Thích, ôm lòng ganh tị không có lễ độ!

Đức Phật hỏi:

- Những người họ Thích có lỗi gì với Ông?

A Ma Trú đáp:

- Trước đây Thầy tôi có chút việc sai tôi đến nước Ca Duy La Việt của dòng họ Thích, khi đó một số người họ Thích tụ tập trong giảng đường thấy tôi họ khinh mạn cười cợt, không theo phép tắc, không đối đãi cung kính.

Đức Phật bảo:

- Những người dòng họ Thích kia đang ở nước mình, vui đùa thỏa thích, như những con chim tự do bay ra bay vào trong khu rừng mà chúng làm tổ.

A Ma Trú nói:

- Ở đời có 4 đẳng cấp là: Bà La Môn (Quý tộc, tôn giáo), Sát Đế Lị (Giới cầm quyền), Phệ Xá (Cư sĩ công thương), và Thủ Đà La (Giới thấp kém làm công); ba đẳng cấp kia thường cung kính cúng dàng giai cấp Bà La Môn, nhưng dòng họ Thích lại không hành động như thế; người dòng họ Thích đúng là hạ liệt, đê hèn, nhỏ mọn, không biết cung kính dòng họ Bà La Môn của tôi.

Đức Phật hỏi:

- Này A Ma Trú, dòng họ của Ông là gì?

- Dòng họ của tôi là Thanh Vương.

- Này A Ma Trú, nếu dòng họ của Ông đúng như vậy, đúng là dòng Thanh Vương thì đó là dòng họ nô tỳ của dòng họ Thích Ca.

Khi ấy tất cả những người đi theo A Ma Trú đều la lớn lên:

- Chớ nói như thế, chớ bảo rằng dòng họ A Ma Trú là dòng họ nô tỳ của dòng họ Thích Ca, mà ngược lại A Ma Trú là dòng họ Quý tộc, học rộng nghe nhiều đủ sức đàm luận với Sa Môn Cù Đàm.

Đức Phật bảo các người ấy:

- Nếu Thầy các Ông cuối cùng không đúng thì các Ông phải bỏ Thầy của các Ông; ngược lại, nếu Thầy các Ông đúng như lời các Ông nói, thì các Ông hãy im lặng để Ta luận bàn với Thầy các Ông.

Bấy giờ các người ấy đều im lặng, Đức Phật bảo A Ma Trú:

- Ta nhớ thuở quá khứ xa xưa, có một vị Vua tên Thanh Ma, nhà Vua có 4 người con: Người thứ nhất tên là Diệu Quang, Người thứ hai tên Tượng Thực, người thứ ba tên Lộ Chi, và người thứ tư tên Trang Nghiêm.

Bốn người con của Vua Thanh Ma vì lúc nhỏ đều phạm lỗi, nên bị nhà Vua trục xuất ra khỏi nước, đến phía Nam núi tuyết (Hy Mã Lạp Sơn), và ở trong rừng Trực Thọ.

Thân mẫu và quyến thuộc của bốn người con trai nấy đều thương nhớ; sau một thời gian, họ họp bàn, rồi đến chỗ Vua thưa:

“- Tâu Đại Vương, chúng tôi vì xa cách con quá lâu, nay xin phép Đại Vương cho chúng tôi đi thăm”.

Vua bảo:

“- Tùy ý muốn đi thì đi”.

Bấy giờ, các thân mẫu và quyến thuộc của bốn người con liền cùng nhau đến rừng Trực Thọ phía Nam núi tuyết. Ở được ít lâu, họ bàn với nhau: “Con trai con gái của họ hãy lấy nhau thành vợ chồng”. Sau đó, họ sinh một con trai (Nam tử) dung mạo đẹp đẽ; Vua Thanh Ma nghe tin vui mừng nói: “Đây là con dòng họ Thích, thật đúng là con trẻ dòng họ Thích, vì có thể tự lập tự cường”; như thế Vua Thanh Ma là Tổ tiên dòng họ Thích.

Trong khi đó, Vua Thanh Ma có một nữ tỳ tên Phương Diện, dung mạo đẹp đẽ lại tư thông với Bà La Môn rồi thụ thai, sau sinh một con trai hình dạng đẹp đẽ, vừa sinh ra liền biết nói, bảo mẹ: “Hãy tắm cho con, hãy tắm gội dơ bẩn cho con! Sau này lớn lên con sẽ đền ơn”. Vì đứa bé vừa sanh ra đã biết nói nên gọi là Thanh Vương, cũng như ngày nay nếu đứa bé nào mới sinh đã biết nói, thì mọi người đều lạ lùng sợ hãi phục tài gọi là “Thần đồng” (Khả úy); từ đó về sau này dòng Bà La Môn lấy Thanh Vương làm họ của mình.

Đức Phật nói lai lịch dòng họ của A Ma Trú như thế rồi Ngài hỏi:

- Ông đã từng nghe các bậc tiền bối, tôn túc kỳ cựu, các đại Bà La Môn nói đến nguyên nhân của dòng họ Thanh Vương chưa?

Lúc đó A Ma Trú đứng yên không đáp, đức Phật hỏi lần thứ hai, A Ma Trú vẫn im lặng không nói, đến lần thứ ba, đức Phật bảo:

- Ta hỏi lần thứ ba Ông phải trả lời, nếu không trả lời sẽ bị lực sĩ Mật Tích cầm chày vàng đang đứng bên trên đầu Ông đập vào đầu vỡ bể làm nhiều mảnh, hãy ngước lên xem.

Khi ấy, A Ma Trú ngước nhìn lên liền thấy hình người to lớn khác thường, đứng giữa hư không, tay cầm chày vàng muốn đập xuống, thì sợ hãi lông tóc dựng ngược, liền rời chỗ vội đến gần đức Phật, mong sự che chở và nói:

- Thưa Ngài, xin cứ hỏi, tôi sẽ đáp ngay.

Đức Phật nhắc lại:

- Ông đã từng nghe các bậc tiền bối, tôn túc kỳ cựu, các đại Bà La Môn nói đến nguyên nhân dòng họ Thanh Vương chưa?

A Ma Trú đáp:

- Tôi tin là đã từng nghe và thật có điều này.

Lúc đó, các đệ tử của A Ma Trú đều bảo nhau: “Thanh Vương thật là dòng họ nô tỳ của dòng họ Thích Ca, Sa Môn Cù Đàm đã nói sự thật, chúng ta không còn mang lòng khinh mạn dòng họ Thích Ca nữa”. Bấy giờ đức Phật nghĩ: “Các Thanh niên này chắc sẽ khởi khinh mạn đối với A Ma Trú, sẽ gọi A Ma Trú là dòng họ nô tì, nhân đây Ta hãy hủy bỏ danh từ “Nô tỳ” này”, nên Ngài bảo:

- Nay các Ông hãy cẩn thận, chớ gọi A Ma Trú là dòng nô tì, vì sao? Vì Tổ tiên A Ma Trú là đại Tiên nhân có oai lực lớn đã chinh phạt Vua Thanh Ma, vì nhà Vua quá sợ nên đã nạp Công Chúa cho ông ta.

Do đức Phật nói như thế, nên họ không còn nghĩ A Ma Trú là dòng họ nô tì nữa.

LỜI BÀN:

Trong đoạn Kinh trên, chúng ta thấy A Ma Trú đã phỉ báng đức Phật khi nói: “Sa Môn là kẻ phá hoại hình hài, là kẻ cô độc, hạ liệt đê hèn, nhỏ mọn, tu hành theo pháp môn mờ ám”. Rồi sau khi nghe đức Phật bảo: “Chàng thanh niên nhỏ này, kẻ chưa được dạy dỗ”, nên A Ma Trú đã nói: “Thật đúng là dòng họ Thích, ôm lòng ganh tị không có lễ độ” trong khi tức giận.

Chúng ta thấy, vừa gặp là A Ma Trú đã có ác tâm trong sự đứng ngồi, rồi tấn công ngay bằng những lời lẽ hủy báng như thế!, sau đó, A Ma trú nêu ra sự kiện để biện luận cho sự bảo vệ giai cấp Bà La Môn trong quan điểm phân chia giai cấp của giới này.

Trong Kinh này, đức Phật không đề cập tới vấn đề giai cấp, nhưng trong những lần khác, Ngài đã chứng tỏ là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại hô hào loại bỏ chế độ phân chia giai cấp, xây dựng một nền luân lý công bằng cao thượng giữa con người với con người. Ngài lên án hệ thống phân chia đẳng cấp xúc phạm đến phẩm giá con người tại Ấn Độ thời bấy giờ. Đức Phật cho rằng “Nếp sống, hoàn cảnh sống, tạo ra người làm việc này hay việc kia, chứ không phải do nơi sinh trưởng”. Giai cấp Bà la môn cho rằng “Họ là cao cả hơn hết các giai cấp khác, các giai cấp khác phải phục tùng sự sai bảo của họ”; đây là lý luận vô căn cứ, vì người giàu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn khi phạm luật phạm tội đều bi xét xử như nhau, khi chết cùng bị đọa sinh vào cõi xấu như nhau. Còn người hiền lương đạo đức, làm lành tránh dữ, dù người đó ở trong giai cấp cao hay giai cấp thấp vẫn không bị pháp luật xét xử, được nhiều người kính trọng nể vì, khi chết cùng được sinh đến cõi lành như nhau.

Tới cuối của đoạn Kinh trên, chúng ta nên biết lúc nào đức Phật cũng có Thiên Thần Hộ Pháp bảo vệ, lực sĩ Mật tích luôn luôn bên cạnh Ngài như hình với bóng, và luôn sẵn sàng làm bất cứ điều gì cần làm. Cũng như các lần khác, khi gặp kẻ ương ngạnh, kiêu ngạo, đức Phật phải sai bảo Thần Mật Tích xuất hiện trước kẻ ấy để dẹp tính hung hăng gan lì của họ. Do đó khi A Ma Trú thấy Thần Mật Tích rồi thì ngoan ngoãn trả lời đàng hoàng, không còn cứng đầu không chịu nói nữa.

Đến đây, sự tự hào về dòng họ đã tiêu tan trong lòng A Ma Trú, nhưng đức Phật vì lòng từ bi nên Ngài không muốn A Ma Trú bị các đệ tử khinh mạn, coi thường. Nên Ngài đã nói thêm chi tiết là Tổ tiên của A Ma Trú là đại Tiên nhân có oai đức chinh Phạt Vua Thanh Ma phải sợ, phải dâng nạp Công Chúa cho ông ta, để giữ uy tín của A Ma Trú đối với các đệ tử.

Lúc này, nếu A Ma Trú hiểu ra những lời đức Phật nói ở trên, thì A Ma Trú đã xin đức Phật cho sám hối về những lời hủy báng của mình, như vậy sẽ tốt đẹp biết bao. Nhưng vì sự bảo thủ cái ta (cái ngã) của A Ma Trú, vì sự vô minh, nên đã im lặng không thưa hỏi gì cả; do đó, đức Phật mới phải biện luận tiếp như dưới đây:

2)-BIỆN LUẬN CỦA PHẬT:

Lúc ấy, đức Phật bảo:

- Này A Ma Trú, Ông nghĩ sao? Nếu người con gái dòng họ Vua Chúa cầm quyền (Sát Đế Lợi) từ 7 đời trở lại, cha mẹ đều chân chính, được mọi người kính trọng, người con gái ấy bằng lòng làm vợ một Quý tộc (Bà La Môn), sau đó sinh một con trai khôi ngô đẹp đẽ. Vậy người con trai ấy có được ở trong dòng Vua Chúa, thừa kế ngôi Vua không, có được hưởng tài nghiệp, đọc tụng pháp điển Vua Chúa và có được thừa kế chức vụ của cha không?

A Ma Trú trải lời :

- Không được.

- Nếu một người con gái dòng họ Bà La Môn, từ bảy đời trở lại, cha mẹ đều chân chính, không bị ai khinh hủy, dung mạo đoan chính, làm vợ một người dòng Sát đế lợi, sinh một con trai. Vậy người con trai đó có được vào trong chúng Bà La Môn, có được đứng ngồi để nhận lĩnh nước hay không, có được đọc tụng pháp điển Bà La Môn không và có được hưởng phần di sản thừa kế chức nghiệp của cha không?

- Được.

- Nếu dòng Bà La Môn đưổi một người Bà La Môn, người này vào trong dòng Vua Chúa, người này có được phép đứng ngồi, nhận lãnh nước, hay đọc tụng pháp điển Sát Đế Lợi không và có được hưởng di sản thừa kế chức nghiệp của cha không?

- Không được.

- Nếu dòng Sát Đế Lợi đuổi một người Sát Đế Lợi, người này vào trong dòng Bà La Môn có được đứng ngồi, nhận lĩnh tài nghiệp chức vụ của cha không?

- Được.

- Thế nên, này A Ma Trú, trong những người Nam, thì người dòng Sát Đế Lợi là hơn hết, chứ không phải là dòng Bà La Môn.

Bấy giờ chư vị Trời đến nghe Phật nói, một vị Phạm Thiên cung kính tự nói kệ trên không:

Sinh Sát Lợi tối thắng,
Chủng tánh cũng toàn chân,
Minh hạnh đều đầy đủ,
Tối thắng trong Trời Người.

Đức Phật bảo:

- Phạm Thiên nói kệ thật khéo léo, được Ta ấn khả, vì Ta nay là đấng Như Lai chí chân Đẳng Chính Giác, cũng nói lên cùng ý nghĩa như thế.

A Ma Trú hỏi:

- Sao gọi là Vô Thượng Sĩ, Minh Hạnh Túc?

Đức Phật bảo:

- Hãy lắng nghe, nếu có Như Lai xuất hiện ở thế gian là bậc Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, tự chứng trong hết thảy Trời Người, Sa Môn, Bà La Môn, Phạm Vương, Thiên Ma, và vì hết thảy chúng sanh khác thuyết pháp, lời nói đầu giữa cuối đều toàn thiện, ý nghĩa đầy đủ, mở bày hạnh thanh tịnh.

Này A Ma Trú, như có một số Sa Môn, Bà La Môn, dù đã lãnh thọ các món ăn do tín thí đem đến cúng dàng, lại còn mong cầu cất chứa không biết đủ, lại còn kinh doanh buôn bán gieo trồng. Dùng ngà voi báu vật, dùng hương thơm trang trí thân mình, ham vui chơi cờ và các thứ vui đùa, thường nói những lời vô ích như chuyện quân trận chiến đấu ...

Lại thường nói những chuyện bà con, đàn bà con gái, nói chuyện văn chương thơ phú, khen người này chê bai người kia. Thường hay tranh cãi những chuyện thị phi hơn kém, tự tạo những phương tiện mong làm sứ giả cho Vua hay Đại thần, hoặc đưa tin nơi này đến nơi kia. Còn chuyên luyện tập những thứ dao, gậy, cung tên, hoặc đấu gà chó ngựa, voi v.v... hoặc đấm, đá, vật lộn trong tiếng trống tiếng kèn, còn coi tướng xấu tướng tốt để mong cầu lợi dưỡng. Lại kêu gọi quỷ thần rồi sai khiến, thực hiện các loại trù yểm để đe dọa người khác, bàn những chuyên chính trị, chiến tranh giữa nước này và nước khác v.v...

LỜI BÀN:

Đến đây, chúng ta thấy biện luận của đức Phật đã dẫn giải cho A Ma Trú biết rằng dòng họ cầm quyền Vua Chúa là giá trị nhất chứ không phải là dòng họ Bà La Môn để đánh tan quan niệm sai lầm của A Ma Trú. Nhưng với sự bảo thủ những điều đã được học hỏi, đọc tụng Kinh sách, nhồi so hàng ngày của những người đi trước cho thế hệ sau, nên A Ma Trú trở thành người mù quáng; do đó không biết lỗi lầm của mình, không biết xin lỗi sám hối về những lời phỉ báng ở trên; Đến đây, nếu A Ma Trú biết xin lỗi về những lời nói bậy ở trên, thì chắc chắn đức Phật bỏ qua ngay, nhưng ông ta đã lờ đi coi như chẳng có tội gì cả, nên đặt câu hỏi về Vô thượng Sĩ, Minh Hạnh Túc.

Đọc khúc cuối của đoạn Kinh trên, chúng ta thấy lối hành đạo của ngoại đạo chỉ là những việc làm giống như lối hành xử của người đời trong thế gian mà thôi; về điểm này, không chỉ thời đức Phật còn tại thế như vậy, mà ngay cả ngày nay, trên toàn thế giới có những đạo cũng hành xử tương tự như thế cả. Họ chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng, hành xử sao cho họ được giầu có hơn, sao cho càng thâu tóm được nhiều người vào đạo của họ càng tốt, và họ cho là thành công lớn; do đó họ đã ủng hộ công khai hay ngấm ngầm phe này khi thấy có lợi cho quyền lợi của họ và ngấm ngầm hay công khai đả kích hạ bệ phe kia khi thấy không chi phối được và mất quyền lợi của họ. Do đó mục đích của các đạo cách xa, khác hẳn đạo Phật vậy.

3)- ĐỨC PHẬT DẠY CÁCH TU.

Đức Phật giảng tiếp:

Còn các Tỳ Kheo tu hành trong giáo pháp của Ta không bao giờ làm các việc như thế; trái lại, chỉ theo đúng Thánh giới, tâm không nhiễm trước, không tham đắm, không lo sợ, khéo điều phục chế ngự sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý, khiến được an ổn, như vậy là đắc được các Thánh căn (6 căn). Tỳ Kheo ăn vừa biết đủ, không cống cao, khéo điều hòa thân mình; Tỳ Kheo ấy đầu đêm, cuối đêm siêng năng tỉnh giác, nhất tâm để trừ các ấm cái, tinh tấn, tỉnh giác không tán loạn.

Nếu có Cư sĩ hoặc dòng họ khác nghe được chính pháp này sinh lòng tin tưởng, xuất gia tu đạo, thực hành giới hạnh không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, không nói hai chiều, không nói thêu dệt, không nói ác, không uống rượu, không lười biếng phóng đãng, không tham lam keo kiết, không sân hận giận hờn tật đố, v.v... vị ấy sống biết đủ, không cống cao, khéo điều hòa thân mình, nhất tâm để trừ ngũấm cái, tinh tấn tỉnh giác không tán loạn.

Này A Ma Trú, Tỳ Kheo như thế có Thánh giới, thường thích ở nơi vắng vẻ không ồn náo dưới gốc cây, trong hang núi, giữa cánh đồng, trong rừng sâu, trong tịnh thất ngồi kết già. Thân ngay thẳng, ý chân chính, giữ niệm trước mặt, loại bỏ tham sân, không oán kết, trụ tâm thanh tịnh, đem lòng thương xót chúng sanh, loại trừ ngủ nghỉ, giữ tâm sáng suốt. Dứt trừ nôn nóng háo hức (Trạo hối), tâm không bị ràng buộc, đoạn diệt nghi hoặc, tâm chuyên nhất với điều thiện. Tỳ Kheo có Thánh giới đầy đủ như vậy nên được Thánh căn, ví như người bệnh trầm trọng quá lâu, nay lành hẳn vô cùng hân hoan vui mừng.

LỜI BÀN:

Trái với ngoại đạo, đức Phật dạy các đệ tử không tham cầu, biết đủ, ở chỗ thanh vắng tu tập trừ ngũ ấm cái, trừ tán loạn, được nhất tâm.

Ngũ ấm cái là gì?Là năm ấm, là ngũ ấm ma, cũng gọi là năm hạ phần kết sử, còn gọi là năm triền cái, gồm tham lam keo kiết (Tham), sân hận giận hờn ganh tị đố kị (Sân), lười biếng uể oải dã dượi buồn ngủ (Hôn trầm), buông lung phóng túng dao đông (Trạo hối), nghi mình nghi người nghi đủ thứ (Nghi). Người tu thiền phải: thường chăm chú (niệm) nhất tâm để trừ các ấm cái này, đầu đêm cuối đêm thường niệm nhất tâm không tán loạn.

Thế nào là niệm không tán loạn?Là:

- Quán thân: Quan sát các bộ phận thân thể; quán ngoài thân, các vật bên ngoài; quán trong ngoài thân, các sự tương đồng giữa trong thân và ngoài thân; tinh cần không lười mỏi, ghi nhớ không quên để trừ bỏ tham sân ưu buồn ở đời.

- Quán thọ: Là quán sát các cảm giác vui buồn, yêu ghét, đẹp xấu, v.v...

- Quán tâm: Là quán ý nghĩ nhớ tưởng, suy nghĩ vọng tưởng nổi lên.

- Quán pháp: Là quán sát những hình ảnh đối tượng của tâm, như khi tưởng nhớ tới cái xe, tưởng nhớ là tâm ý, hình ảnh cái xe là pháp; tinh cần không lười mỏi, ghi nhớ không quên quán như thế để trừ bỏ tham ưu ở đời.

Nếu chuyên nhất quan sát, không tham cầu, không suy nghĩ trăm việc, mà chỉ quan sát “thân thọ tâm pháp sẽ được “niệm không tán loạn”, đây gọi là tu Tứ Niệm Xứ.

Thế nào gọi là người tu nhất tâm?Người tu đi ra đi vào, ngó nhìn, co duỗi, ngước lên cúi xuống, nói năng v.v..., trong tất cả mọi lúc thường giữ chính niệm, nhớ nghĩ hành trì, không mất oai nghi, không quên quán chiếu, đó là nhất tâm; tỉ dụ người tham thiền giữ chính niệm chỉ bằng một câu tham trong mọi cử chỉ hành động.

Đức Phật dạy nên tu hành, ở nơi thanh vắng, sống biết đủ, thực hành giới hạnh, dứt trừ tham sân si mạn, tránh ác làm lành, thiền định để được tâm thanh tịnh; chúng ta thấy đức Phật dạy khác hẳn lối hành xử của tất cả các đạo khác vậy.

4)- PHẬT DẠY TỨ THIỀN:

Này A Ma Trú, Tỳ Kheo có năm triền cái ngăn che, thường phải lo sợ như người vay nợ chưa trả bị chủ đòi gấp, như người bệnh chưa lành, như người bị tù chưa được phóng thích. Nếu Tỳ Kheo chưa xả bỏ các ấm cái, bị nó ngăn che mê mờ nên huệ nhãn chưa mở được; Tỳ Kheo ấy phải phát tâm tinh cần dứt trừ các pháp dục, pháp ác, có biết (giác) có thấy (quán), sinh vui vẻ an lạc (hỷ lạc), chứng nhập Thiền thứ nhất(Sơ Thiền); vị ấy được hỷ lạc thấm nhuần toàn thân không thiếu chỗ nào.

Vị ấy trừ bỏ biết (giác) trừ bỏ thấy (quán), không giác không quán, giác quán tịch tịnh, nhất tâm, được định sinh vui vẻ, chứng nhập Thiền thứ hai(Nhị Thiền), hỷ lạc thấm nhuần toàn thân như tắm nước suối mát.

Vị ấy lìa vui dục, xả bỏ hân hoan, chính tri, chính niệm, tự biết sự an vui của thân mà các bậc Thánh mong cầu, giữ niệm thanh tinh, được định nhập Thiền thứ ba(Tam Thiền).

Vị ấy gạn lọc hết những vi tế của khổ vui, diệt khổ, dứt vui, không khổ không vui cũng diệt, cái vui của thân thiền định cũng diệt, chỉ còn tâm niệm thanh tịnh, nhất tâm tịch tịnh, chứng đắc Thiền thứ tư(Tứ Thiền). Khi chứng Tứ Thiền rồi thì tâm không tăng giảm, an trú Bất động. Ví như ngọn đèn thắp trong phòng kín không một chút gió, ngọn đèn không lay động đứng im thẳng tắp.

Tại sao được như vậy? đó là nhờ siêng năng, ở chỗ vắng, chuyên nhớ nghĩ (niệm), không tán loạn mà được như thế. Do tâm định tĩnh, thanh tịnh, không ô uế, dễ điều phục mà trú định Bất động.

LỜI BÀN:

Đây là Tứ Thiền, tu Bốn Thiền sẽ đạt kết quả như sau:

- Vị nào chứng Thiền thứ nhất gọi là Tu Đà Hoàn, hành giả đạt qủa Tu Đà Hoàn là bước vào dòng suối chảy đến Niết Bàn ở bước khởi đầu.

Người chứng Thiền thứ nhất, nếu chưa đạt được qủa vị thứ hai, sẽ còn phải tái sinh lại cõi người bảy lần nữa mới đạt tới quả Niết Bàn; nhưng các vị này đã tạo được tâm tin Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) vững chắc, nên không còn bị tái sinh vào các cõi dữ (Ngạ quỷ, Súc sinh, Địa ngục) nữa.

- Vị nào chứng đạt qủa Thiền thứ hai gọi là Tư Đà Hàm; chứng bậc thứ hai, các vị này nếu chưa chứng bậc thứ ba, sẽ tái sinh cõi người một lần rồi tu tiếp cho tới đạt Niết Bàn.

- Vị nào chứng đạt qủa Thiền thứ ba gọi là A Na Hàm. Nếu chưa đạt quả A La Hán trong đời hiện tại, các vị này sau khi mạng chung sẽ không còn tái sinh lại cõi người, cũng không tái sinh lên cõi trời Dục giới, mà sẽ tái sinh lên cõi trời Vô phiền ở Sắc giới; vị ấy sẽ tiếp tục tu ở đấy, và đắc qủa A La Hán rồi nhập Niết Bàn khi hết tuổi thọ ỏ cõi trời.

- Vị nào chứng Thiền thứ tư gọi là A La Hán. Vị A La Hán biết rõ ái dục đã sạch, vô minh đã tiêu diệt hoàn toàn, mọi ô nhiễm đều sạch hết. Hành giả biết như thế, thấy như thế, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, tâm giải thoát vô minh lậu, giải thoát tri kiến; vị ấy tự thấy rõ rằng: “Sự sinh của ta đã chấm dứt, phạm hạnh đã lập, các điều cần làm đã làm xong, tự biết chẳng còn thọ thân sau nữa”; bấy giờ, vị ấy chứng nghiệm hạnh phúc tối thượng Niết Bàn.

5)- PHẬT NÓI KẾT QUẢ TU:

Thế rồi, vị ấy từ sắc thân tứ đại của mình khởi tâm biến thành hóa thân, vị ấy quán rằng: “Thân này do tứ đại hợp thành, thân kia do biến hóa mà có, thân này khác thân kia. Tâm này ở trong thân này, nương vào thân này đến trú vào thân kia, ví như các hạt châu ngọc Ma Ni liên kết với nhau bởi sợi chỉ sâu; tâm y cứ vào thân này mà trú, cho đến hóa thân cũng như thế”. Đó là thắng pháp do siêng năng chuyên niệm, thích ở nơi thanh vắng, không tán loạn, nên được kết quả như thế.

Vị ấy do tâm định tĩnh thanh tịnh, không ô uế, nhu nhuyễn, dễ điều phục mà trú định bất động, đồng thời do tu tập nhất tâm nên chứng được “Thần túc trí” (Thần túc thông), có thể biến hóa ra các thứ, như biến hóa từ một thân ra vô số thân và thu hồi vô số thân trở về thành một thân. Có thể đi qua vách đá núi đất không chướng ngại, hoặc bay trên không như chim, hoặc đi trên mặt nước, hoặc thân phát ra lửa, phụt ra nước, hoặc biến thân cao lớn tay sờ mặt trăng mặt trời, đây là thắng pháp thứ nhất.

Vị ấy, cũng vậy, chứng được “Thiên nhĩ trí” (Thiên nhĩ thông), nghe rất xa, nghe đuợc hai loại tiếng: Tiếng Người và tiếng Trời, đây là thắng pháp thứ hai.

Vị ấy, cũng vậy, chứng được “Tha tâm Trí” (Tha tâm thông), có thể biết tâm của kẻ khác có tham dục hay không, có thanh tịnh hay không, có mê muội hay không, có quảng đại hay hẹp hòi, có thanh tịnh hay tán loạn, có bị dính mắc ràng buộc hay cởi mở giải thoát, có cao thượng hay hèn hạ v.v..., tất cả đều biết hết, đây là thắng pháp thứ ba.

Vị ấy, cũng vậy, chứng được “Túc mệnh trí” (Túc mạng thông), có thể tự nhớ một đời, hai đời, ba đời, cho đến vô số đời về quá khứ, hoặc những kiếp số thành trụ hoại diệt; vị ấy nhớ rõ đời nào tên gì, cuộc sống thế nào, tên họ là gì, gia đình ra sao, đã sống ở đâu, làm nghề gì, đi qua nước nào v.v... đều nhớ rõ hết, đây là thắng pháp thứ tư.

Vị ấy, cũng vậy, chứng được “Sanh tử trí” (Sinh tử thông), Thiên nhãn thanh tịnh nên thấy được các chúng sanh thác ở đây sinh ở chỗ kia, chết từ chỗ kia sanh về đây, hình sắc tốt xấu, tôn quý hay ti tiện, tùy theo chỗ tạo nghiệp lành ác mà được báo ứng tương ưng. Người làm ác chịu quả dữ, người làm lành được quả tốt, từ ý ác, làm ác, nói ác, như phỉ báng Thánh hiền sẽ bị đọa chỗ xấu, còn ý lành, làm lành, nói lành sẽ được đến chỗ tốt; tất cả những điều đó đều biết rõ hết, đây là thắng pháp thứ năm.

Vị ấy, cũng vậy, chứng được “Lậu tận trí” (Lậu tận thông), vị ấy biết đúng như thật về khổ (Khổ Thánh Đế), về nguyên nhân gây ra khổ (Tập Khổ Thánh Đế), về cách diệt khổ (Tận Khổ Thánh Đế), và về con đường diệt khổ (Đạo Khổ Thánh Đế); vị ấy thấy biết đúng như thế về dục lậu (dục xấu xa), hữu lậu (ô nhiễm dính mắc), vô minh lậu (ngu si tà kiến), nên được tâm giải thoát, được trí giải thoát, biết sinh tử đã hết, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh, đây là thắng pháp thứ sáu.

Này A Ma Trú, Tỳ Kheo do tâm định tĩnh thanh tịnh, mà trú định bất động, chứng Lậu tận trí, cho đến không còn thọ thân sau nữa. Đó là do siêng năng, thích ở chỗ vắng, chuyên niệm không tán loạn, nên kết quả được phát tuệ minh như thế; đó là Vô Thượng Sĩ, Minh Hạnh Túc, ý Ông thế nào, như thế là đúng hay sai?

A Ma Trú im lặng không đáp.

LỜI BÀN:

Từ sắc thân tứ đại của mình khởi tâm biến thành hóa thân là thế nào?Sắc thân tứ đạilà gi? Là bốn thứ đất, nước, gió, lửa hợp thành thân.

Hóa thân là gi?Hóa thân cũng gọi là Ứng thân hay Ứng Hóa thân, với mục đích cứu độ chúng sanh; Hóa thân do Báo thân (Thân Phật trong cõi Tịnh độ) chiếu hiện, dựa trên tâm Từ Bi; Hóa thân cũng chịu mọi chi phối về thể xác như mọi người, nhưng Hóa thân có đủ thứ Thần thông.

Khởi tâm biến thành hóa thânlà sao?Là khi tu hành được tâm định tĩnh thanh tịnh, không còn ô uế, mềm dẻo, dễ điều phục mà trú định Bất động, nên có thể từ thân Tứ Đại khởi tâm biến hóa ra thân khác.

Đức Phật giảng: khi tu tới nơi tới chốn rồi sẽ được kết quả thù thắng có “Thần Thông” có đủ thứ biến hóa của một bậc Thánh như thế. Nhưng hình như A Ma Trú nghe tai này ra tai kia, không giữ được gì trong đầu, nên không những không đáp câu hỏi của Phật, mà còn quên luôn những lời phỉ báng đức Phật trước đó. Do đó Ngài tiếp tục nói, chúng ta hãy theo dõi dưới đây:

6)- LÀM SAI TÔN CHỈ CỦA HỌ:

Đức Phật tiếp tục nói:

- Có người không thể đạt được Minh Hạnh Túc vô thượng này, nhưng lại thực hành 6 cách, đó là:

1- Hoặc có người cầm búa mang giỏ đi vào rừng núi tìm thuốc và ăn rễ cây, Ông và Thầy Ông có làm thế không?

- Thưa không.

2- Hoặc có người lại cầm bình bát chống gậy, mang sách thuật đi vào rừng núi và chỉ ăn quả rụng, Ông và Thầy Ông có làm thế không?

- Thưa không.

3- Hoặc có người bỏ hái thuốc, bỏ ăn trái cây rụng, lại ở trong thôn xóm, trong thành, kiến tạo lâu đài, tùy theo cung cấp cho người qua đường, Ông và Thầy Ông có làm việc này không?

- Thưa không.

4- Này A Ma Trú, các cựu Bà La Môn và những vị Tiên nhân có nhiều chú thuật, ca ngợi tán dương chú thuật mà họ đã quen thuộc. Hiện nay các Bà La Môn ca ngợi, tán dương, tụng đọc: Một là A trá ma, hai là Bà ma, ba là Ba ma đề hà, bốn là Tỳ bà mật đa, năm là Y đâu lại tất, sáu là Da bà đề già, bảy là Bà bà bà tất tra, tám là Ca diếp, chín là A Lâu la, mười là Cù đàm, mười một là Thủ di bà, mười hai là Tổn đà la; các đại Tiên, đại Bà la môn trên đào hào xây nhà cửa như Thầy trò Ông hiện nay đang ở không?

- Thưa không.

5- Các đại Tiên ấy có xây thành quách chung quanh chỗ họ ở như Thầy trò Ông đang ở chăng?

- Thưa không.

6- Ông chính là kẻ hạ liệt, không biết đâu là chân thật, đâu là giả dối, lại hủy báng khinh dòng họ Thích, tự gieo tội căn, làm tăng trưởng nhân địa ngục.

Các đại Tiên ấy có đặt giường cao nệm dày, gối êm, có dùng mỹ nữ mang vàng bạc anh lạc hoa đủ màu để vui thú; các đại Tiên có đi xe báu có người cầm kích đi trước, đầu che lọng trắng, chân đi giầy đủ màu, lại mặc áo trắng viền vàng như Thấy trò Ông không?

- Thưa không

LỜI BÀN:

Đức Phật thấy sự ngu muội của A Ma Trú, nên Ngài vạch những sai lầm của ngoại đạo đối với tôn chỉ của họ, đối với các bậc Tiên nhân, Tổ tiên của dòng Bà La Môn. Mục đích của đức Phật là muốn A Ma Trú nhận chân ra đâu là thật đâu là giả, đâu là đúng đâu là sai, nhưng ông ta vẫn không thức tỉnh nhận ra, do đó đức Phật đã thọ ký cho A Ma Trú là: “Hủy báng dòng họ Thích, tự gieo tội căn, làm tăng trưởng nhân địa nguc”.

7)-QUẢ BÁO NHÃN TIỀN:

Này A Ma Trú, Thầy Ông là Bà La Môn Phất Già La Ta La đã nhận cái làng này mà Vua Ba Tư Lặc phong, nhà Vua ba lần bảo: “Không nên bàn những chuyện vô ích”; nay Ông hãy tự xét, lỗi của Thầy Ông gác lại, chỉ xét nguyên nhân nào Ông đến đây?

A Ma Trú liền nhìn toàn thân đức Phật, quán sát để tìm 32 tướng tốt, ông ta đã thấy các tướng, chỉ còn hai tướng nghi ngờ; Đức Phật biết ý, nên hiện tướng lưỡi rộng dài liếm tai che mặt bằng lưỡi, rồi Ngài dùng thần lực khiến một mình A Ma Trú thấy “Mã âm tàng” của Nam căn (nam sinh dục); khi đã thấy 32 tướng tốt rồi, A Ma Trú liền cúi đầu chào rồi ra về.

Lúc ấy Bà La Môn Phất Già La Ta La đứng ở ngoài cửa ngóng trông đệ tử từ xa về, khi gặp liền hỏi:

- Ông có thấy Sa Môn Cù Đàm có đủ 32 tướng tốt như lời đồn không?

- Thưa Thầy, Sa Môn Cù Đàm có đủ 32 tướng như lời đồn.

- Ông có luận nghị gì không, nếu có thì bàn luận những gì?

A Ma Trú tường thuật đầy đủ cuộc đối thoại, khi nghe xong, Bà La Môn nói:

- Ta có người đệ tử thông minh như thế thì chẳng bao lâu chúng ta cùng nhau vào địa ngục hết, tại sao? Tại vì ông muốn nói cho hơn, nên đã chê bai hủy báng Sa Môn Cù Đàm, khiến cho ta với Ngài thành ra xa cách, khiến ta chẳng bao lâu sẽ vào địa ngục!

Bà La Môn Phất Già La Ta La tức giận liền đạp A Ma Trú ngã nhào, sau khi A Ma Trú ngã té nhào, liền phát sinh bệnh cùi hủi.

Sáng hôm sau, Bà La Môn cho sửa soạn xe báu cùng 500 đệ tử vây quanh đến rừng Y Xa, đến nơi xuống xe đi bộ đến chỗ Phật. Ông cúi đầu lễ Phật xong ông ngước lên nhìn quan sát không thấy hai tướng sinh nghi; Đức Phật biết tâm ý ông liền hiện tướng cho ông thấy hai tướng ông nghi như đã làm đối với học trò của ông hôm trước.

Bà La Môn vừa thấy đầy đủ 32 tướng tốt của Phật, liền thưa:

- Khi con ở giữa đường mà gặp Sa Môn Cù Đàm, nếu con dừng xe lại một chút, thì xin Ngài biết cho là con đã đỉnh lễ đức Như Lai.

Hoặc nếu con xuống xe, mở kiếm xếp lọng hạ cờ, thì xin Ngài biết cho là con đã đảnh lễ đức Như Lai.

Hoặc nếu con ở trong chúng liền đứng dậy tự xưng danh tính, thì xin Ngài biết cho là con đã kính lễ đức Như Lai.

Vì sao? Vì con đã nhận lãnh sự phong thôn này của Vua Ba Tư Nặc, nếu con lễ bái thì con sẽ mất sự phong thôn.

Bạch Thế Tôn, nay con xin quy y Phật Pháp Tỳ Kheo, mong Ngài cho phép con được làm Ưu Bà Tắc (Cư sĩ) trong chính pháp của Như Lai. Xin mời Ngài và chúng Tỳ kheo đến nhà con vào trưa ngày mai thọ sự cúng dàng của con; ông thấy đức Phật im lặng nhận lời, nên lễ lạy Phật, đi nhiễu quanh ba vòng, rồi ra về cho sửa soạn thức ăn uống.

Sáng hôm sau, khi chuẩn bị thức ăn xong, ông trở lại thỉnh Phật; lúc ấy đức Phật cùng 1250 vị Tỳ Kheo cùng đến nhà ông thụ sự cúng dường. Sau khi thọ trai xong, Bà La Môn Phất Già La Ta La nắm tay A Ma Trú dẫn đến trước đức Phật và thưa:

- Cúi xin đức Thế Tôn nghe lời hối lỗi của A Ma Trú, cúi xin đức Thế Tôn nghe lời hối lỗi của A Ma Trú, cúi xin ....

Bà La Môn thưa đủ ba lần như thế, rồi nói tiếp:

- Cũng như người huấn luyện voi ngựa, nếu còn chỗ lệch lạc, thì cần sửa lại cho đúng. Nay A Ma Trú cũng vậy, tuy có những lỗi lầm sơ suất, cúi xin đức Thế Tôn hãy nghe lời hối lỗi của A Ma Trú.

Đức Phật bảo:

- Ta sẽ khiến Ông đời sau sẽ trường thọ, đồng thời khiến cho bệnh cùi hủi của học trò Ông hoàn toàn tiêu diệt.

Khi đức Phật nói dứt, bệnh của A Ma Trú dần dần biến mất; khi đó đức Phật thuyết pháp cho Bà La Môn cùng quyến thuộc nghe, cùng chỉ bày hướng dẫn các điều lợi ích.

Sau khi nghe thuyết pháp, Ba La Môn Phất Gia La Ta La lại thưa:

- Nay con lại xin quy y Phật Pháp Tỳ Kheo lần nữa, mong Ngài cho phép con làm Ưu Bà Tắc ở trong chính pháp của Như Lai. Cúi xin đức Thế Tôn và đại chúng Tỳ Kheo thương xót nhận lời thỉnh của con cúng dường trong 7 ngày.

Đức Phật im lặng nhận lời, khi hết 7 ngày ở rừng Y Xa, đức Phật và chúng Tỳ Kheo đi du hành đến nơi khác trong nhân gian.

LỜI BÀN:

Chúng ta thấy Bà La Môn Phất Gia La Ta La nghe qua câu chuyện học trò kể lại hiểu liền, biết liền sự việc và hậu quả tai hại của “phỉ báng” bậc Thánh, nên ông là người có con mắt tinh đời hơn người học trò rất xa.

Tội phỉ báng của A Ma Trú quá nặng nên hậu quả xảy ra ngay, chứ không cần chờ tới kiếp sau, đây là quả báo nhãn tiền, quả báo tức thì; Bà La Môn thầy là người từng trải học rộng nghe nhiều, đã ý thức kịp thời, nên đã cứu được đệ tử của mình khỏi bệnh chết tức thời trong khổ sở.

Tội từ miệng sinh ra quá nặng nề, chúng ta nên cố gắng giữ gìn cẩn thận trước khi nói; nên biết bài kệ của Phật nói dưới đây để tránh khẩu nghiệp:

Phàm con người ở đời,
Búa rìu từ trong miệng,
Sở dĩ giết chết mình,
Vì những lời nói ác.
Kẻ đáng chê thì khen,
Người đáng khen lại chê,
Đây thuộc nghiệp ác khẩu,
Mà thân chịu hành hình.
Dùng chú thuật đoạt lợi,
Tội ấy cũng còn nhẹ,
Nếu hủy báng Thánh Hiền,
Tội ấy vô cùng nặng.
Không mây tuổi rất thọ,
Mây dày bị chết yểu,
Hủy Thánh mắc tội này,
Do tâm khẩu ác độc.
Toàn Không

(CÙNG TÁC GỈA)

Xem nguyên văn kinh:

Đại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TRƯỜNG BỘ
Dìgha Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2535 - 1991
3. Kinh Ambattha (A-ma-trú)
(Ambattha sutta)




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/11/201406:16(Xem: 5484)
Ngài pháp sư Tịnh Không, một cao tăng đương thời có nói: "Kinh Phật muôn đời vẫn mới mẻ, thích ứng với mọi thời đại. Từ ba ngàn năm trước, những kinh điển được giảng tại Ấn Độ khiến cho người Ấn Độ thời ấy được thọ dụng. Ba ngàn năm sau, đối với những kinh điển ấy, chúng sinh ngày nay vẫn được thọ dụng y hệt chẳng khác biệt gì. Nhưng vì hình thái ý thức, bối cảnh văn hóa, cũng như hoàn cảnh sống xưa nay rất khác nên cần phải có giải thích lại, nghĩa là hiện đại hóa địa phương hóa kinh Phật để thích ứng căn cơ đương thời."
19/12/201315:32(Xem: 7287)
48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà Hán dịch: Tào Nguỵ, Pháp Sư Khương Tăng Khải Việt dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Anh dịch: http://www.purifymind.com/FortyEight.html Sưu tập: Tuệ Uyển, Wednesday, December 18, 2013 48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà 48 Vows of Amitabha Buddha 1. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 1."Provided I become a Buddha, if in my Buddha-land there should be either hell, or the animal state of existence, or the realm of hungry ghosts, then may I not attain enlightenment.
30/04/201007:32(Xem: 2980)
Đã khá lâu rồi, „Lá Thư Tịnh Hữu“ vắng bóng trên Viên Giác. Bắt đầu từ năm 2000, đến giờ sắp sang năm 2004, mà cũng chưa chấm dứt. Nhiều bạn hữu nói nhỏ, “không biết ông Thị Chơn Nghiệp Dọc này còn dài dài đến bao lâu nữa!”. Hôm kỷ niệm 25 năm thành lập chùa Viên Giác và báo Viên Giác, Thị Chơn (TC) tôi đảo một vòng trong khuôn viên của chùa để thăm các quầy phát hành bánh trái, nước uống và thức ăn chay. Chợt nghe một giọng Huế khá quen thuộc phát ra dưới mái lều che mưa nắng dựng nơi quầy phát hành của Sư Bà Như Tuấn:
30/06/201113:40(Xem: 1794)
Con đường tâm linh mà chúng ta đang cùng nhau tiến bước có vô số chướng ngại, đầy sỏi đá chông gai, chúng ta cần nắm chắc tay nhau...
08/04/201312:31(Xem: 2687)
Hôm nay, tất cả quí vị đã bỏ nhà để đến chùa góp mặt trong pháp hội này, phải nói đây là một cơ hội thật tốt để chúng ta tạm thời gát qua hết những chuyện đời và quay về sống phản tỉnh đối với bản thân. Nhưng tôi chỉ mới nói rằng quý vị đang có một cơ hội tốt, còn quý vị thì sao? Quý vị có ý thức được mình đang ở đâu và làm gì hay không? Đi vào chùa để vãn cảnh hay để tu học? Nếu để tu học thì quý vị đã bắt đầu chưa? Các vị hãy luôn nhớ rằng, một khi đã chấp nhận con đường tu học thì chúng ta nhất định phải cố gắng thế nào đó để tự khẳng định chính mình. Chúng ta không thể tu học như một hình thức chiếu lệ mà ngược lại phải luôn nhìn về phía trước để nhắm tới những tiến bộ. Chúng ta phải biết tu học một cách có lý tưởng, áp dụng Phật Pháp vào ngay chính đời sống của mình để từng sinh hoạt của bản thân được thực hiện dưới ánh sáng Phật pháp.
06/11/201010:42(Xem: 8890)
Ẩn tu nào phải cố xa đời! Mượn cảnh u-nhàn học đạo thôi! Những thẹn riêng mình nhiều nghiệp chướng Bốn ân còn nặng nghĩa đền bồi.
12/10/201101:45(Xem: 1590)
Truyền thống PG Tây Tạng chia giáo pháp Đức Phật ra ba thời kỳ chuyển pháp luân: thời kỳ đầu, dạy pháp Tứ Diệu Đế; thời kỳ thứ nhì, dạy pháp Tánh Không...
28/04/201321:06(Xem: 14366)
Từ lâu không biết bao nhiêu người, ở ngoài đời cũng như trong đạo, rất bỡ ngỡ về vấn đề tu hành. Như một kẻ bộ hành ngơ ngác, lạc lõng giữa ngả ba đường, họ băn khoăn tự hỏi: Tu làm sao đây? Tu phương pháp gì? Và phải hạ thủ công phu làm sao mới đúng?
04/05/201119:43(Xem: 2130)
Tôi học Phật đến nay cũng đã lâu, tuy nhiên cũng đã từng đi trợ niệm người lâm chung! Lúc đối diện với người qua đời thường khiến cho người ta nhớ đến mấy câu thơ: Ngã kiến tha nhân tử Ngã tâm nhiệt như hỏa Bất thị nhiệt tha nhân Khán khán luân đáo ngã Ta thấy người khác chết Tâm ta như lửa đốt Chẳng phải đốt người khác Nhìn lại tới phiên ta.
05/04/201110:30(Xem: 2094)
Giáo dục của chúng ta là sự vun đắp của ký ức, sự củng cố của ký ức. Những thực hành và những nghi lễ của tôn giáo, đọc sách và hiểu biết của bạn, tất cả là sự củng cố của ký ức.