Viễn Ly – Quyết Định Giải Thoát

14/02/201204:06(Xem: 4708)
Viễn Ly – Quyết Định Giải Thoát

anhnghethuat_baotoan (21)VIỄN LY – QUYẾT ĐỊNH GIẢI THOÁT
Alexander Berzin, Morelia, Mexico, October 10, 200
Tuệ Uyển chuyển ngữ - 27/1/2010

Lời người dịch:

Chúng tôi cho rằng, một người khi quyết định thực hành Đạo Phật thì trước hết là nghĩ đến viễn ly. Có phát tâm viễn ly mới thật sự là một hành giả Phật Giáo. Nếu không phát tâm viễn ly thì chúng ta thực hành Đạo Phật để làm gì? Dĩ nhiên ngày nay, người ta đã áp dụng những phương pháp thực hành của Đạo Phật trong tâm lý trị liệu, thiền quán để nâng cao sức khỏe, nhưng ngay cả việc thực tập Phật Pháp để được tái sinh trong cõi người lẫn cõi trời đều không phải là cứu kính của Phật Giáo, đó chỉ là những phương tiện nhất thời, hay đó không phải là Phật Pháp chân thật, không phải là mục tiêu tối hậu của Đạo Phật [1].

Vậy viễn ly là gì? Viễn ly hay tâm xuất ly có nghĩa là từ bỏ hay xa rời. Từ bỏ điều gì hay xa rời diều gì? Từ bỏ phiền não khổ đau hay xuất phiền não gia hoặc xa rời sinh tử luân hồi hay xuất tam giới gia.

Nếu chúng ta chỉ phát tâm viễn ly cho cá nhân mình thì gọi là thanh văn duyên giác và nếu chúng ta phát tâm viễn ly vì tất cả chúng sinh thì gọi là bồ tát đại thừa [và đi tiếp đến chỗ 'khứ lai tự tại']. Vì như Đức Đạt Lai Lạt Ma nói trong Mật thừa Tây Tạng rằng 'thoát ly sinh tử là mục tiêu chung của Đại thừa và Tiểu thừa. Nếu một người không muốn giải thoát thì không bao giờ muốn người khác giải thoát' và 'nếu một người không có tâm viễn ly chân thật thì không thể có lòng từ bi chân thành'. Vì sao, vì đối với một đạo nhân chân thật (hữu tình giác) thì không có gì trong cõi luân hồi có thể vướng bận họ, họa chăng những thứ làm vướng mắc được đó là những phiền não còn rơi rớt. Còn đối với một vị bồ tát thì còn có chi làm vướng bận họ, có chăng đó là bổn phận 'giác hữu tình' vì nếu không thì không phải là bồ tát.

Bài Viễn Ly - Quyết Tâm Giải Thoátcủa Giáo Sư Hành Giả Berzin nói chi tiết hơn về điều này.

Nam mô A Di Đà Phật
Ẩn Tâm Lộ ngày 13/01/2012
Tuệ Uyển

VIỄN LY – QUYẾT ĐỊNH GIẢI THOÁT

Định Nghĩa Và Hàm Ý

Viễn ly là một quyết định tự do khỏi không chỉ một hình thức nào đấy của khổ đau,mà cũng là khỏi nguyên nhân của nó. Nó đòi hỏi ý chí để từ bỏ khổ đau ấy và nguyên nhân của nó. Vì thế, nó đòi hỏi lòng can đảm to lớn. Nó không chỉ hướng đến nhận điều gì đấy dễ thương mà không phải trả một cái giá nào đấy.

Viễn ly cũng hàm ý niềm tin trong một sự kiện rằng nó có thể tự do khỏi khổ đau và nguyên nhân của nó. Nó không chỉ là suy nghĩ mong ước. Nó là niềm tin trong một sự kiện đúng trong toàn bộ ba phương diện.

1- Niềm tin tỉnh giác, xóa bỏ tâm thức của những cảm xúc và thái độ phiền não về những đối tượng. Vì thế, một sự viễn ly đúng đắn xóa tan tâm thức do dự, tự thương hại, và sự oán hận về việc phải từ bỏ điều tham muốn gì đấy.

2- Tin tưởng sự kiện chân thật căn cứ trên lý trí. Chúng ta cần thấu hiểu giải thoát khỏi khổ đau và nguyên nhân của nó là có thể như thế nào.

3- Tin tưởng sự kiện với một niềm ngưỡng mộ đối với nó. Như với hai tầng bậc của tâm bồ đề (niềm ngưỡng mộ và hai tầng bậc liên hệ), chúng ta không chỉ nguyện ước hay ý chí từ bỏ một cấp độ nào đấy của khổ đau và nguyên nhân của nó, căn cứ trên niềm tin rằng chúng ta có thể làm như thế. Chúng ta cần thật sự từ bỏ cả hai thứ, tối đa mà chúng ta có thể trong hiện tại, và để liên hệ chính mình trong những sự thực hành sẽ có thể làm cho chúng ta cuối cùng đạt đến sự tự tại khỏi chúng một cách vĩnh viễn.

Hơn thế nữa, viễn ly chân chính không giống như sự viễn ly hoàn toàn bị kích động bởi đời sống ngắn ngủi (sna-thung spu-sud-kyi nges-'byung): sự viễn ly say sưa và cuồng nhiệt đối với mọi thứ, nó căn cứ trên niềm tin mù quáng rằng nguồn gốc ngoại tại có thể cứu độ chúng ta. Nhưng nó đòi hỏi một thái độ thực tiển về sự liên hệ đến những việc làm cần mẫn. Chúng ta có thể đạt được sự nguyện ước từ những người khác, nhưng chúng ta phải thực hiện một cách kiên trì từ chính phía chúng ta.

Hơn thế nữa, chúng ta cần một thái độ thực tiển vể tiến trình xãy ra như thế nào. Hiện thực giải thoát khỏi vòng luân hồi không bao giờ là một tiến trình trơn tru như vạch một đường, với mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn mỗi ngày. Cho đến khi chúng ta tự tại vĩnh viễn, vòng luân hồi sẽ tiếp tục trồi lên sụp xuống. Khi nhìn từ một viễn tượng của thời gian lâu dài, chúng ta có thể thấy tiến trình , nhưng trên căn bản ngày qua ngày, tâm tính chúng ta sẽ tiếp tục lên đèo xuống ải.

Vì thế, chúng ta cần nguyên tắc và kiên trì để chịu đựng những khó khăn trong việc đi theo con đường tu tập của Đạo Phật, và trang bị tinh tấn (go-cha'i brtson-'grus), hoan hỉ nhẫn nại để vượt qua những lúc trồi hoặc sụp. Với niềm tin sáng suốt ủng hộ quyết định của chúng ta để được tự do, chúng ta sẽ không trở nên thất vọng hay mất tinh thần.

Hai Cấp Độ Viễn Ly Theo Tông Khách Ba

Trong Ba Phương Diện Chính Của Con Đường Giác Ngộ, Tông Khách Ba phân biệt:

1- Viễn ly giai đoạn khởi đầu mà với nó chúng ta hướng sự quan tâm chính yếu của chúng ta với việc làm lợi ích đời sống này để tạo nhân lợi ích cho đời sống tương lai (không để sa vào ba cõi địa ngục, ngã quỷ, súc sinh).

2- Viễn ly giai đoạn giữa mà với nó chúng ta hướng sự hấp dẫn chính yếu của chúng ta với việc tạo nhân lợi ích cho những đời sống tương lai để đạt đến việc giải thoát khỏi lập lại sự tái sinh không thể kiểm soát trong vòng sinh tử luân hồi.

Cấp độ thứ nhất là sự viễn ly phát triển thường lệ với những người không phải Phật tử, những người với khuynh hướng để lên thiên đàng. Cấp độ thứ hai là hoàn toàn của Đạo Phật.

Hiện Pháp Viễn Ly

Chúng ta có thể bổ sung sự phân biệt này bằng việc thêm vào cấp độ sơ bộ, “Hiện Pháp Viễn Ly”. “Hiện Pháp Viễn Ly” là việc hướng sự hấp dẫn chính yếu của chúng ta với việc tỉnh thức từng thời khắc để làm lợi ích cho những thời khắc tiếp theo đấy trong đời sống này hay những phát sinh sau đó.

Tuy thế, “Hiện Pháp Viễn Ly” chỉ có giá trị như một bộ phận của con đường Phật Giáo khi chúng ta nhìn nó chỉ đơn thuần như một viên đá đặt chân để tiến đến hai cấp độ thật sự của Phật Pháp. Để tiếp cận hai cấp độ thật sự, chúng ta cần thấu hiểu giáo huấn Phật Pháp về tái sinh một cách đúng đắn và tin tưởng chúng là thật sự, căn cứ trên lý trí. Bằng nếu không làm thế nào chúng ta có thể hành động một cách chân thành để làm lợi ích cho những đời sống tương lai hay để đạt đến giải thoát khỏi việc lập lại sự tái sinh không thể kiểm soát được?

Với Hiện Pháp viễn ly, sau đó, chúng ta nhìn vào những rắc rối hàng ngày chúng ta có trong đời sống - trong những mối liên hệ, trong việc đối phó với những khó khăn, v.v... Chúng ta cũng nhìn vào những nguyên nhân và chúng ta đang sẳn lòng từ bỏ cả hai, nhằm để cải thiện phẩm chất của cuộc sống này - và không chỉ ngay lập tức mà cũng là sau này trong cuộc sống. Đây là sự viễn ly trên một cấp độ thông thường với trị liệu tâm lý.

Song song với cấp độ này, chúng ta có thể có một kiểu mẫu Hiện Pháp viễn ly của việc đặt mình vào một phương hướng an toàn trong đời sống (sự quy y). Chúng ta đặt phương hướng an toàn trong đời sống của chúng ta của việc hành động để sống với chứng loạn thần kinh (vọng tưởng điên đảo) của chúng ta vì thể chúng chỉ có thể gây nên những rắc rối tối thiểu mà thôi. Chúng ta nhìn đến những ai những người đã đạt đến điều này, hoàn toàn hay cục bộ, như việc minh họa cung cách.

[See: "Dharma-Lite" Versus " The Real Thing" Dharma.]

Viễn Ly Tạm Thời Và Phương Hướng An Toàn(Quy Y)

Lamrim (Con đường tiệm tiến) trình bày chủ đề phương hướng an toàn hay quy y trước nhất trong dạng thức của giai đoạn viễn ly khởi đầu. Ở đấy, nó được căn cứ sự đe dọa của những sự tái sinh tệ hại và niềm tin trong sự kiện rằng Ba Ngôi Tôn Quý có thể đưa đến sự tái sinh tốt đẹp hơn. Giống như những kiểu mẫu của Hiện Pháp viễn ly, trình độ viễn ly này và sự quy y cũng chỉ là tạm thời. Chúng cũng không phải là những hình thức quyết định toàn hảo.

Pháp bảo thật sự là việc chấm dứt khổ đau và nguyên nhân của nó, và thật tâm đạo (con đường chân thật) hướng dẫn đến chỗ chấm dứt khổ đau. Tuy thế, trên trình độ khởi đầu, Pháp bảo không thật sự là Pháp bảo. Những khổ đau mà chúng ta muốn chấm dứt chỉ là khổ đau thô phù; nguyên nhân của nó chỉ là sự không tỉnh thức về hành trạng nhân quả; sự chấm dứt chỉ là tạm thời; và phương pháp là ngăn ngừa khỏi thái độ tàn phá.

Hơn thế nữa, những ai đã đạt đến điều gọi là Pháp bảo này là những người ở trong tình trạng tốt nhất của tái sinh - như cõi người và cõi trời, không phải chư Phật và không nhất thiết là cộng đồng thánh tăng nhị thừa, những bậc vô thức tính không.

Ý Nghĩa Viễn Ly Và Phương Hướng An Toàn(Quy Y)

Chỉ trên trình độ thứ hai (bậc trung) của con đường tiệm tiến lamrim chúng ta mới tìm thấy một sự định nghĩa đầy đủ của viễn ly và một sự định nghĩa trọn vẹn của phương hướng an toàn. Những đau khổ thật sự ở đây là tất cả ba loại (đau đớn, thay đổi, cùng khắp), nguyên nhân thật sự là việc không tỉnh giác về tính không, sự chấm dứt thật sự vĩnh viễn - không chỉ tạm thời nhưng tiến lên những trình độ tái sinh cao hơn hay thể trạng thiền định - và những con đường tâm thức thật sự là những tâm vô thức của tính không.

Một cách tương ứng, ở đây, chúng ta đặt ý nghĩa phương hướng an toàn trong đời sống chúng ta và hướng đến Pháp bảo thật sự của việc chấm dứt chân thật (diệt đế) và những con đường chân thật, khi hiện hữu trọn vẹn trên những sự tương tục tinh thần của chư Phật và tồn tại trên những sự tương tục của thánh giả tăng già.

[See: Identifying the Objects of Safe Direction (Refuge).]

Trình Độ Bồ Tát Của Viễn Ly Và Phương Hướng An Toàn

Trên trình độ thứ ba (bậc rốt ráo) của con đường tiệm tiến lamrim là động cơ bồ tát, những khuynh hướng viễn ly vì sự giải thoát của tất cả khỏi khổ đau luân hồi và nguyên nhân của nó - không chỉ khổ sở của đớn đau, và không chỉ khổ đau của một số chúng sinh nào đó. Nguyện ước này là cho tất chúng sinh khác hoàn toàn giải thoát khỏi khổ đau và nguyên nhân của nó, với lòng tin vững chắc rằng điều này là có thể, và điều này gọi là "từ bi". Từ bi là một khía cạnh của trình độ viễn ly của bồ tát.

Để mang đến khả năng để hổ trợ giải phóng tất cả chúng sinh khác, chúng ta cần những khía cạnh khác của viễn ly bồ tát. Chúng ta cần từ bỏ không chỉ những chướng ngại cảm xúc (phiền não chướng) ngăn trở sự giải thoát của chúng ta, nhưng cũng những chướng ngại nhận thức (sở tri chướng) ngăn ngại sự toàn tri. Xét cho cùng, điều này bao hàm sự thấu hiểu toàn tri toàn giác, những sự chướng ngại ngăn trở, và niềm tin vững vàng rằng có thể giải thoát chính chúng ta khỏi những chướng ngại này vĩnh viễn. Nó cùng bao hàm niềm tin vững vàng rằng tất cả mọi người có thể giải thoát chính mình mãi mãi khỏi những chướng ngại đó.

Kết Luận

Cùng với toàn bộ con đường Phật Giáo, rồi thì, chúng ta cần ý chí từ bỏ khổ đau và nguyên nhân của đau khổ. Do thế, chúng ta cần nhận ra những nguồn cội khổ đau của chúng ta, sự vị kỷ , giải đải, chấp trước, sân hận, v.v...; hãy từ bỏ chúng tối đa như chúng ta có thể ngay bây giờ; và cố gắng cố gắng sớm nhất như chúng ta có thể để giải thoát chính chúng ta khỏi chúng vĩnh viễn.

Trong mật tông tantra, chúng ta ngay cả cần sự viễn ly sâu xa hơn. Chúng ta cần ý chí từ bỏ và rồi thì buông bỏ, tối đa như có thể, những ý tưởng thông thường của chính mình (tự ngã ý tưởng) và sự đồng nhất của chúng ta với chúng. Viễn ly thực tế là một sự thực tập sâu sắc và vươn xa, từ Hiện Pháp đến tận cùng của mật tông tối thượng.

Nguyên tác: Renunciation - The Determination to Be Free
Ẩn Tâm Lộ ngày 12/01/2012
http://www.berzinarchives.com/web/en/archives/sutra/level2_lamrim/intermediate_scope/renunciation_free.html?query=renunciation

Bài liên hệ:

1- Viễn ly - Quyết định giải thoát

2- Đi từ viễn ly đến từ bi

3- Giải thoát cho tất cả chúng sinh



[1]Phật giáo hướng đến mục đích giác ngộ, giải thoát - bình đẳng; chứ không phải chân thiện mỹ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/2025(Xem: 72)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt rất đồ sộ của Dự Án Phật Học Tinh Hoa Thế Giới do thầy Thích Pháp Cẩn trụ trì Chùa Phổ Giác (Marina, California) giới thiệu. Nhân dịp này thầy đã ký tặng tôi cuốn Thiền Trong Kinh Điển Pali do một nhóm dịch thuật. Đây là cuốn sách do Ni Sư Tiến Sĩ Sarah Shaw hiện đang giảng dạy tại Đại Học Oxford (Anh Quốc) trước tác từ nghiên cứu kinh tạng Pali và được giới thiệu như là, “Đây là cuốn sách tổng hợp đầu tiên giới thiệu cho người đọc về sự đa dạng của giáo huấn về Thiền trong kinh điển Pali. Điều đó chứng tỏ rằng truyền thống Thiền của Đức Phật vẫn mở ra một con đường hành Thiền bí ẩn, nhưng đầy cảm hứng nhưng vẫn dễ tiếp cận như bản chất Thiền vốn có từ nhiều thế kỷ trước đây và thu hút sự quan tâm từ các thiền sinh, học giả, và cả những người tu hành theo đạo Phật.”
22/10/2025(Xem: 2119)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
25/08/2025(Xem: 1264)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
31/05/2025(Xem: 2127)
“Đào tạo thanh, thiếu, đồng niên trở thành người Phật tử chân chính nhằm xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.” Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam không phải là một khẩu hiệu suông. Đó là một tuyên ngôn giáo dục – tâm linh – xã hội sâu sắc. Từng từ trong câu mục đích là một viên gạch xây nên lý tưởng và phương hướng hoạt động của tổ chức. Để thực sự thực hành đúng vai trò Huynh Trưởng, chúng ta cần thẩm thấu từng khía cạnh sau:
31/05/2025(Xem: 1159)
Trong đạo Phật, sự tự do nội tâm, tỉnh thức trong thực tại và giác ngộ cá nhân luôn được đặt lên hàng đầu. Đức Phật không lập giáo điều, không lập giáo hội,không áp đặt niềm tin, cũng không thiết lập một cơ chế tổ chức mang tính quyền lực hay mệnh lệnh. Ngài chỉ chỉ bày con đường như ngón tay chỉ mặt trăng: Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo – con đường đưa đến thân lạc tâm an, tỉnh thức mọi lúc và giải thoát khổ đau. Vì thế, tất cả những văn bản, văn kiện, định chế như Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
25/04/2025(Xem: 2628)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
22/04/2025(Xem: 2771)
Trong quá trình tiếp cận những vị đạo sư kính quý, người viết đã bao lần theo dõi từ ngày trên những chuyến hoằng pháp của quý Ngài hoặc trên đất Âu Châu, hay thi thoảng đến đất nước Hoa Kỳ để rồi đã tự hỏi : “Phải chăng việc hoằng pháp đòi hỏi sự chia sẻ và hợp tác giữa người nghe và người giảng?” Vì sao vậy ? Theo sự tham cứu người viết được biết : Chia sẻ là một đặc tính có sẵn trong mỗi con người chúng ta. Nó giúp chúng ta kết nối, tạo ra xã hội loài người, học hỏi lẫn nhau, phát triển, tăng cường tri thức thay đổi nhận thức xã hội tốt hơn, và thành công hơn trong cuộc đời ( Share là cách chúng ta dạy những gì chúng ta biết, thu nhận phản hồi củng cố kiến thức ta có và đồng thời giúp đỡ người khác (Information Acquisition).
19/10/2024(Xem: 4906)
Thân-Khẩu-Ý (身-口-意; P: Kāya-Vacī-Mano; S: Kāya-Vak-Mana; E: Body-Speech-Thought) là 3 thứ tách biệt nơi con người, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, Ý là yếu tố có sự tác động đến cả Thân và Khẩu. Nếu một hành động của Thân hay lời nói của Khẩu mà không có Ý tác động vào thì khó mà có kết quả.
19/10/2024(Xem: 7930)
Tứ y pháp (四依法; S: Catuḥpratisaraṇa; E: The four reliances) là 4 pháp phương tiện quan trọng theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, với mục đích giúp hành giả rõ biết pháp nào nên hoặc không nên nương tựa, nhằm thành tựu giác ngộ, giải thoát.
14/10/2024(Xem: 9007)
Bầu không khí chính trị trên thế giới hiện nay đang nóng bỏng vì khuynh hướng độc tài, cực đoan, chia rẽ, hận thù và cuồng vọng không thua kém gì bầu khí quyển của địa cầu đang nóng dần lên do khí thải nhà kính gây ra. Cả hai đều do con người tạo ra và đều là thảm họa cho nhân loại! Nhưng thảm họa này không phải là điều không thể giải quyết được, bởi lẽ những gì do con người gây ra cũng đều có thể do con người ngăn chận và hóa giải được. Cụ thể là hàng chục năm qua, Liên Hiệp Quốc đã nỗ lực kêu gọi, bằng các nghị quyết, các quốc gia cố gắng thực hiện các biện pháp giảm khí thải nhà kính, với các chính sách cắt giảm lượng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, gia tăng sản lượng xe chạy bằng điện năng, v.v… Dù kết quả chưa đạt được mức yêu cầu, nhưng cũng đã gây được ý thức và thể hiện quyết tâm của cộng đồng thế giới trong việc giải quyết thảm họa của khí thải nhà kính.