Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Hai thứ quý báu nhất của loài người

30/12/201104:17(Xem: 529)
Hai thứ quý báu nhất của loài người



Hoa Sen Trang
HAI THỨ QUÝ BÁU NHẤT

 CỦA LOÀI NGƯỜI

 

Đức Hạnh

 

Trên đời này có hai thứ cao quý nhất đó là bảy thứ: vàng, bạc, ngọc lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não còn được gọi là thất bảo và phật pháp tăng.

Các thứ cao quý ấy được xuất phát từ thế gian. Các loại ngọc và vàng bạc được có trong lòng đất với thời gian cả ngàn năm, tỷ năm do môi trường của đất tạo nên. Các thứ ngọc gọi là đá quý, còn vàng bạc gọi là kim loại quý.

            Phật pháp tăng cũng do từ thế gian mà có. Pháp Phật vốn có trong thế gian, đúng như lời lục tổ Huệ Năng nói: “ Phật pháp bất ly thế gian pháp”. Nhưng phải có con người đi xuất gia làm Tăng, tu hành qua nhiều kiếp, được tỉnh thức, giác ngộ mới tìm thấy Chánh Pháp Phật; như thái tử Tất Đạt Đa đã xuất gia làm Tăng ( đạo sĩ ) tu hành trong nhiều kiếp. Đến kiếp cuối cùng ở ngôi vị thái tử, cũng đi xuất gia làm tăng tu hành suốt sáu năm khổ hạnh trong rừng, được giác ngộ thành phật, tìm ra Chánh pháp. Vì thế được nhân loại tôn xưng là bậc cao quý nhất.

            Cao quý ở đây là tâm không còn bị ô nhiễm bởi các tính tham, sân, si, ác trược, phải thật trống rỗng, trong suốt, sáng rực như các thứ ngọc lưu ly ( Mani ), pha lê ( kim cương )…, cho nên mới gọi phật pháp tăng và các thứ vàng ngọc ( thất bảo) là hai thứ quý báu nhất của loài người là như vậy.

            Không quý báu sao được. Trái đất rộng bao la, nhưng rất ít chỗ trong lòng đất được tạo ra vàng, ngọc. Nhân loại cả tỷ người, nhưng rất ít người xuất gia làm Tăng tu hành đạt đạo giác ngộ thành Phật như thái tử Tất Đạt Đa.

Tâm của chư Phật, Bồ Tát, Tổ sư là tâm ngọc, bởi vì không còn bị các thứ vô minh, phiền não, chấp ngã….chi phối đúng như lời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: “ Ta được sanh ra, lớn lên giữa cuộc đời, ta không bị đời làm ô nhiễm, ta chinh phục đời, ta là Phật”. Vì thế, chư Phật, Bồ Tát, chư vị Tổ Sư suốt đời không bao giờ đeo vàng, ngọc, nhưng vẫn nhận sự cúng dường vàng, ngọc của thí chủ, bởi vì các thí chủ có tấm lòng quý trọng Phật, Bồ Tát, chư tổ như quý trọng vàng ngọc.

            Để hằng thuận tâm con người tôn kính cúng dường, đúng như nguyện thứ chính của Đức Bồ Tát Phổ Hiền là luôn luôn mở lòng hằng thuận chúng sanh. Cho nên chư Phật, Bồ Tát, Sư tổ hoan hủy chấp nhận sự cúng dường vàng ngọc của thí chủ. Điều ấy được thấy rõ ở trường hợp Thái Tử Kỳ Đà đem vàng đến cúng dường Phật, bằng cách đem vàng lát trên mặt đất Tịnh Xá Phật tại vườn ông Cấp Cô Độc trong thành Xá Vệ.

            Cũng như được thấy trong Kinh Phổ Môn có đoạn nói: Bồ Tát Vô Tận Ý đem chuỗi ngọc cúng dường cho Bồ Tát Quan Thế Âm, nhưng Bồ Tát Quan Thế Âm không nhận. Sau đó được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khuyên Bồ Tát Quan Thế Âm nên nhận để cho Bồ Tát Vô Tận Ý được vui lòng, được phước đức. Bồ Tát Quan Thế Âm liền hoan hỷ nhận chuỗi ngọc, nhưng Bồ Tát Quan Thế Âm phát tâm cúng dường lên Đức Thích Ca nửa chuỗi, còn lại đem cúng dường vào tháp Phật Đa Bảo.

            Sở dĩ con người trong các giới xã hội đem dâng cúng vàng ngọc cho chư Phật, Bồ Tát, Tổ Sư như vậy là vì nhìn thấy quý ngài đều có cái tâm đại bi, đại trí biết thương yêu tòan thể chúng sanh, nên không nỡ ngồi nhìn chúng sanh gây chiến tranh giết chóc, đánh phá, chia rẽ, hận thù nhau…phải luôn ra đi làm sứ giả hòa bình, dấn thân vào mọi giai cấp, không phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa…để tìm phương cách cứu khổ, đem lại an vui, hạnh phúc cho nhân loại bằng giáo pháp phật, giống như các thứ vàng ngọc có sức mạnh đem ấm no vật chất, an vui, hạnh phúc và làm đẹp bản thân con người.

            Do vì nhìn thấy chư Phật, Bồ Tát, Tổ Sư có tâm trong sáng như các thứ ngọc Mani ( lưu ly), kim cương ( pha lê ) mã não….cho nên gặp được các khối ngọc liền đem tạc thành tượng Phật ngọc. Các thứ tượng Phật, Bồ Tát, Tổ Sư bằng đá, gỗ, giấy, đều có khắc, vẽ chuỗi ngọc, người ta nấu vàng phết lên các pho tượng. Có những nơi, người ta đem vàng đúc thành tượng Phật với nhiều cỡ lớn nhỏ. Điều đó được thấy ở Campuchia, Lào và Thái Lan, trong chùa của họ đều có Phật bằng vàng để tỏ lòng tôn kính, quý trọng, cũng như để biểu tượng cho pháp thân chư Phật, Bồ Tát đều có ánh hào quang vàng rực như vàng, trong suốt như các loại ngọc.

            Với chư vị Tăng trong phật giáo tại các nước trên thế giới nói chung, cũng có nhiều vị chân tu có tâm phật ngọc thật trong sáng như kim cương, pha lê, lưu ly do không còn bị ô nhiễm bởi các tính vô minh, chấp ngã. Tâm đó là tâm phật, có năng lực giao tiếp với chư Phật, Bồ Tát đúng như lời Phập nói: “ Tâm Phật, chúng sanh thường rỗng lặng, là đạo cảm thông không thể nghĩ bàn”

Vì thế cho nên, Đức Lạt Ma Zopa Rinpocher đã được Đức Bồ Tát Phổ Hiền đến gặp ngài trong lúc ngài đang ngủ trong đêm, gọi là nằm mộng. Giấc mộng này được gọi là mộng vàng, vì rất là mầu nhiệm trên hai cơ sở vật chất hiện thực và tinh thần.

Vật chất hiện thực, đó là chỉ cho thấy tảng ngọc to lớn nằm sau trong làng đất, cùng với ánh sáng xanh biếc của khối ngọc với diện tích cả hai cây số vuông. Về tinh thần, đó là tâm truyền tâm, trong đó chứa đựng tư tưởng thỉnh Phật ngọc trụ thế, mà vai trò của các trưởng tử Như Lai, là phải biết giá trị vô giá và công dụng của tảng ngọc, là được khai quật, tạc thành hình tượng của đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, là bài pháp không lời, có sức mạnh đánh thức tâm ý con người trong các giới, các nơi, ai đó đã và đang gây cho đồng loại, đồng bào, đồng môn bị thương tích, chết chóc, khổ đau, buồn phiền, chia rẽ, hận thù, oán ghét, đánh phá, vu khống nhau…do còn những tính tham, sân, si, nhân ngã, danh lợi, ác trược, chấp trước… là con đường dẫn tới ba đường ác, không thể tránh khỏi, thì hãy đến chiêm bái Phật ngọc. Từ đó con người sẽ được nghe bài pháp không lời từ pho tượng Phật ngọc phát ra rằng : “ Tâm Phật, chúng sanh thường vốn rỗng lặng. Ai đó chưa được rỗng lặng, phải tạo cho được rỗng lặng, trong sáng như Phật ngọc bằng con đường tu tập để giải thoát cho mình mai sau. Còn hiện tại thì đem lại an bình, hạnh phúc cho mọi người, là một thứ phước đức lớn”.

Với chư tăng trong Phật giáo trên thế giới, ai cũng dư biết các thứ ngọc được biểu thị cho pháp thân chư Phật, Bồ Tát, Tổ sư đắc đạo. Cho nên sau khi tỉnh giấc mộng vàng ngọc ấy, đức Lạt Ma Zopa Rinpocher đã biết được công việc về tinh thần trong giấc mộng, mà người Tăng bảo phải làm gì sau đó bằng nhiều hình thức hiện thực qua tảng ngọc. Do vậy, ngài Lạt Ma Zopa Rinpocher gọi điện thoại cho hai đệ tử của ngài là ông bà Ian Green ở Úc Châu được biết và mời qua VancouverCanada. Từ đó, thầy trò bàn luận với nhau về giấc mộng mầu nhiệm, vì biết được chính xác vị trí của tảng ngọc mười tám tấn và ánh sáng của ngọc. Sau đó, ông bà Ian Green phát tâm khai quật tảng ngọc và vâng lời Đức Lạt Ma Zopa Rinpocher là đem tạc thành tượng phật Thích Ca Mâu Ni. Tạc thành xong tượng phật, Đức Lạt Ma Zopa Rinpocher đặt tên tượng là “ Phật ngọc hòa bình thế giới” và nhã ý nên đem triễn lãm vòng quanh thế giới để kêu gọi nhân loại ngưng chiến tranh, đem lại hòa bình.

Trong các kinh phật thường đề cập đến “ Tâm phật trong sáng như ngọc, kim cương, pha lê. Thân Phật trong sáng như Mani lưu ly.

Ai được có tâm phật như vậy, là có ngay con đường giải thoát, cho nên mới nói rằng Tam bảo ba ngôi báu. Các thứ vàng ngọc là vật quý của thế gian. Qua đây cho ta thấy chữ “ bảo” tức là báu vật thuộc tinh thần. Còn chữ “ qúy “ thuộc vật chất. Tuy nhiên, đôi khi người ta cũng gọi ba ngôi Phật Pháp Tăng là ba viên ngọc quý. Cho nên, chữ quý chỉ cho Phật Pháp Tăng, được cắt nghĩa là hiếm có.

            Hai chữ “ quý “ và “ báu “ được chỉ cho các thứ vàng ngọc và Phật Pháp Tăng, gọi là quý báu. Các thứ vàng ngọc có bản thể hiện thực hữu tướng, còn Phật Pháp Tăng thuộc tâm linh vô tướng khó thấy.

            Các thứ vàng ngọc, chúng tự cấu tạo lấy bản thể. Từ những khối đất trong lòng đất biến dạng qua thành đá, càng lúc càng rắn chắc, làm cho bản thể của đá tuần tự chuyển đổi thành vàng, ngọc, kim cương…với thời gian cả trăm năm, ngàn năm.

            Sự chuyển đổi bản thể của đất qua đá, đá thành vàng, ngọc. Chính là sự thải ra những chất dơ, nhớp, cặn bã trần cấu. Chỉ còn lại chất tinh túy, tinh khiết, không còn tỳ vết, sáng rực, trong suốt muôn đời, không thể bị nhiễm các chất hôi thúi, bùn lầy, đất cát... Dù cho bị rơi vào hầm xí, bị gói vào miếng vải dơ…vàng ngọc vẫn là vàng ngọc sau khi được dội nước sạch. Về Phật Pháp Tăng dù là ba ngôi, nhưng chỉ có một. Một đó là Tăng. Tăng tu hành được giác ngộ thành Phật, tìm ra Chánh Pháp. Cho nên trong Tăng được có Phật và Pháp. Cả ba, ngôi báu xuất xứ từ thế gian.

Phật được xuất phát từ con người. Con người biết xử dụng chánh pháp trên đường tư tập để thải hồi tất cả những tính tham, sân, si, nhân ngã, vô minh, ác trược…ra khỏi tâm thức thật rốt ráo, không còn một mảy may nào phiền não, thật trống rỗng, trong sáng như ngọc. Tâm đó là Tâm phật, là phật ngọc.

            Con người bất luận là ai, được có tâm phật ngọc, người đó là Phật ngay hiện tiền không đâu xa. Con người được có tâm phật ngọc rồi, dù cho bị ở vào các cảnh giới đầy biển sắc dục tình, tâm không hề bị nhiễm ô, lây động, vẫn an nhiên, thanh tịnh hay được đi vào giữa trường đời đầy ma lực vật chất, tiền tài, danh lợi, địa vị, chức tước trong vai trò đem đạo vào dòng đời để dắt dẫn con người vượt thoát biển mê, qua bờ giác ngộ, tâm vẫn là phật ngọc, luôn an định trước các biển sắc dục tình thế gian, không hề bị các sắc trần chi phối quyến rũ, giống như những thỏi vàng, viên ngọc bị rơi vào hầm xí, bị gói trong miếng vải dơ. Bản thể vàng ngọc vẫn là vàng ngọc.

            Người xưa có quan niệm rằng: các giới vua, chúa, bá tước, quan quyền, gọi là giai cấp quý tộc, mới được có vàng ngọc. Cho nên chữ “ quý “ ở lĩnh vực này có hai nghĩa là Sang, là hiếm có. Do vậy, đeo vòng ngọc vào tay, ở cổ.

            Ngày nay, người nào có nhiều tiền là có vàng, có ngọc, là có làm sang cho bản thân đủ kiểu vòng vàng, vòng ngọc, do vậy chữ “ quý “ không còn độc quyền của vua chúa, bá tước làm sang nữa.

Chữ “ báu “, được dịch từ tiếng Trung Hoa là “ Bảo”. Báu ở đây cũng có nghĩa là hiếm có, thuộc tâm linh, chỉ cho vị Tăng chân tu đắc đạo giác ngộ được thành Phật, tìm ra ba ngôi báu. Chứ không gọi là ba ngôi quý ( tam quý ). Sở dĩ có một vài chư tôn đức gọi Phật Pháp Tăng là ba viên ngọc quý, cũng là hàm ý ám chỉ cho ba ngôi Phật Pháp Tăng rất hiếm có mà thôi! Chứ không phải Quý ở nghĩa sang đối với Phật và Tăng. Chính thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ ngôi vị vua chúa là giai cấp quí tộc, làm người dân thường, xuất gia tu khổ hạnh ở ngôi vị khất sĩ ( xin ăn) từ lúc tu hành, cho đến khi thành Phật, nói Pháp Độ Sanh, vẫn làm Khất Sĩ, thì đâu còn quý tộc nữa mà làm sang!

            Vì thế nên, hai chữ Quý và Báu dù có chung nghĩa là hiếm, nhưng rất khác nhau về hình thể và sự cấu tạo. Chữ Quý chỉ cho đất đá tự kết tinh thành vàng, ngọc hữu thể. Còn chữ Báu chỉ cho con người. Người ấy là Tăng, gồm có hai giới xuất gia Tăng Ni và tại gia Cư Sĩ Phật tử, chứ không phải Tăng chỉ riêng cho Tăng Ni. Cả hai giới đều đi tìm cho mình con đường giải thoát bằng phật pháp, cho nên ai cũng lấy Phật pháp kết tinh tâm mình thành tâm Phật ngọc, là tâm trống rỗng, không còn mảy may trần cấu, qua quá trình công phu tu luyện với thời gian không hạn định là bao giờ, tức là không lâu hay mau, đủ để đạt được tâm phật ngọc là được.

            Con người được giàu có vàng, ngọc, không có tâm Phật Ngọc, thì luôn luôn thích làm sang cho bản thân mình bằng vàng, ngọc đủ kiểu, đủ cỡ, cùng phục sức thật là thời trang.

Con người được giàu về Tâm Phật Ngọc thì luôn luôn thấy mình là con của Phật, đang giống Phật ở chỗ tâm vô ngã, từ bi, trí tuệ là bức thông điệp, là những tiếng chuông thường hằng cảnh  tỉnh tâm hồn mình luôn nhớ rằng mình đã quay về ( quy y) Đức Phật là đấng phước trí vẹn toàn, được học và tu tập giáo pháp của Phật, là cái đạo thoát ly tham dục. Chính là đặc thù của đạo phật mang tính chất giải thoát cho mình, cho chúng sanh ra khỏi sanh tử luôn hồi khổ đau, đến bờ giác ngộ. Thì không vì một lý do nào, có thể đủ can đảm quay lưng Phật, quay lưng chư vị tổ sư, phá bỏ giới lục hòa, chạy theo các thế lực tham dục đầy ba đường ác, sẽ gây khổ đau cho mình và người, là hành động không thể có đối với bổn chúng đệ tử phật có tâm phật ngọc. Từ lúc Phật còn tại thế đến nay, đúng với những câu: “ Hạnh phúc thay Đức Phật ra đời. Hạnh phúc thay giáo pháp xương minh – Hạnh phúc thay Tăng già hòa hợp. Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu “.  Cho nên trong bốn chúng đệ tử phật, ai được có tâm Phật ngọc, là sự nghiệp xây dựng cõi tịnh độ vào tâm thức cho mỗi con người hiện tiền ngay thực tại kiếp này bằng nhiều phương tiện giáo vụ khác nhau, giống như xây dựng một ngôi nhà vật chất. Trong đó có phần cơ bản như nền móng, cột kèo, tường, mái…

Cũng như vậy, ngôi nhà Tịnh Độ tâm linh cho con người được xây dựng bằng phật pháp trên nền tảng cơ bản vừa phước vừa trí tương duyên nhau. Trong đó xây dựng những pho tượng Phật, Bồ Tát bằng đá, bằng gỗ, đồng, vàng, ngọc ngay tại các nơi chốn dễ nhìn thấy, đó là trong sân chùa, công viên, bên đường đèo, trên ngọn đồi, dưới cây đại thọ, trong tháp…Để cho con người đến lễ bái, cúng dường tạo phước, cũng như được thức tỉnh tâm hồn thấy mình là người có nhiều tội lỗi, liền bắt chước làm theo hạnh lành của Phật, Bồ Tát mà lo xây dựng cho mình một cõi Tịnh độ trong lòng, để cho đời sống mình và người được an bình, hạnh phúc hơn xưa. Qua đó, cho ta thấy xây dựng các pho tượng Phật, Bồ Tát bằng vàng, ngọc, đá, gỗ…đứng, ngồi tại bất cứ nơi đâu trong chánh điện, ngoài sân chùa, ở công viên, bên đường đèo, trên đồi núi, mà đệ tử phật xuất gia, tại gia có tâm phật ngọc đã làm từ xưa nay trên các nước có đạo phật hiện hữu. Chính là đã thực hành hạnh nguyện thứ bảy của Bồ Tát phổ Hiền, đó là thỉnh Phật trụ thế.  

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/09/201818:42(Xem: 544)
Tu Tứ Đế Pháp, Bốn Chân Lý Chắc Thật, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi Chứng Đạo dẹp tan sự quấy nhiễu của ma quân ở cõi Trời Tha hóa thứ sáu vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Tân-Mùi. Việt lịch Năm 2256 HBK*. Tr.BC.596. Sau Thời Hoa Nghiêm Phật đến vườn Lộc Dã Uyển truyền dạy Bốn Pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị từng theo Phật cùng tu thuở trước, thành bậc Tỳ Khưu đắc đạo. Năm vị đó là: 1/. A Nhã Kiều Trần Như, 2/. A-Thấp Bà, (Mã-thắng) , 3/ .Bạt-Đề, 4/. Ma-Ha-Nam, 5/. Thập-Lực-Ca-Diếp. Năm Vị nghe pháp Tứ Đế rồi, tu tập chứng A La Hớn Quả. Tứ Đế Pháp: 1. Khổ Đế. 2. Tập Đế. 3. Diệt Đế. 4. Đạo Đế. -Khổ Đế, là Ác quả của Tập Đế. -Tập Đế, là tạo Nhân xấu của Khổ Đế. -Diệt Đế, là Thiện quả của Đạo đế. -Đạo Đế, là Nhân tu của Diệt Đế.
13/08/201807:26(Xem: 490)
Các Phân Khoa Phật Giáo Thích Thái Hòa Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu. Trong Phật giáo có năm phân khoa như sau: 1/ Phật giáo Đại chúng Thời Phật, xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn giai cấp, gồm: - Bà-la-môn (Brāhmaṇa): Giai cấp Tăng lữ, giai cấp học giả của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Họ tự nhận sinh ra từ miệng Phạm-thiên. Giai cấp này làm mai mối giữa thần linh với con người. Họ có sáu quyền hạn: Tự ý làm đền thờ trời; làm thầy tế để tế trời; tự ý đọc Phệ đà (veda); dạy người khác đọc Phệ đà (veda); tự bố thí và tự nhận sự bố thí.
03/06/201813:32(Xem: 1032)
CHÁNH PHÁP Số 79, tháng 06.2018 NỘI DUNG SỐ NÀY:  THƯ TÒA SOẠN, trang 2  TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3  THÁNG SÁU EM VỀ HẠ CHỨA CHAN (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 7  CÚNG DƯỜNG CHÁNH PHÁP (Sa môn Thích Tín Nghĩa), trang 8
17/03/201815:48(Xem: 799)
Con người càng ngày càng đông đảo trên thế gian nhưng từ trước đến nay có được bao người giác ngộ, giải thoát khỏi nghiệp chướng, khổ đau? Cho dù, Phật Pháp có đơn giản, dễ dạy đến đâu nhưng khi mà nhân duyên chưa tới với những kẻ độn căn thì cho dù bồ tát có tái sinh, cố tâm chỉ độ pháp Phật cao siêu vi diệu cho nhân sinh còn đầy vô minh cũng chỉ tốn công vô ích, chẳng khác gì đem đàn gảy cho trâu nghe. Một trong những pháp môn đơn giản nhứt của Phật Pháp đó là thiền định (Zen). Zen khả dĩ có thể giúp cho hành giả giảm bớt căn thẳng tâm thần. Nếu luyện tập chuyên cần, Zen có khả năng giúp thân tâm có đủ sức mạnh lẫn nghị lực tinh thần để chuẩn bị đối phó với trở ngại xãy ra. Zen có thể giúp ta hóa giải tâm lý lúc mà đau khổ tái phát làm khổ tâm thân trong cuộc sống thay vì mong tu hành giác ngộ, giải thoát, thành Phật quá xa vời. Cũng như những pháp môn khác, Zen có mục đích giúp ta lúc “đa tâm bấn lo
14/03/201808:41(Xem: 841)
Sài Gòn- Trần Củng Sơn- Sáng ngày Thứ Sáu 9 tháng 3 năm 2018, giáo sư Vũ Thế Ngọc đã trình bày về triết học của Tổ sư Long Thọ tại chùa Xá Lợi Sài Gòn với sự tham dự khoảng một trăm thiện hữu tri thức Phật Giáo. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc- một cây bút nổi tiếng trong nước về những bài viết về tuổi trẻ và Phật Giáo- đại diện Ban tổ chức giới thiệu diễn giả.
13/03/201809:06(Xem: 1295)
Từ lúc sinh ra, tất cả chúng ta muốn sống một đời sống hạnh phúc và đó là quyền của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều người cùng chia sẻ quan điểm rằng hệ thốn giáo dục hiện hữu của chúng ta là không đầy đủ khi đi đến việc chuẩn bị cho con người yêu thương hơn – một trong những điều kiện để hạnh phúc. Như một người anh em nhân loại, tôi nguyện làm cho mọi người biết rằng tất cả chúng ta cùng sở hữu những hạt giống của từ ái và bi mẫn. Có một bộ não thông minh chưa đủ; vì chúng ta cũng cần một trái tim nhiệt tình
05/03/201819:40(Xem: 408)
Chân Thường Cuộc Sống Con Người! Thanh Quang Mỗi Con Người đều có Một Cuộc Sống- Cuộc Sống để Làm Người, nếu Con Người không có Ý Tâm- Cuộc Sống, Con người không thể Sống! Cuộc Sống Con Người, người ta thường phân ra Cuộc Sống Tinh thần Ý Tâm- Tâm Ý và Cuộc Sống Vật chất. Hai cuộc sống đó không thể tách rời nhau! Cái Thân Con Người ai cũng biết là duyên sinh giả hợp, tùy duyên theo luật sống Vô Thường-Sinh, Lão, Bệnh, Tử, không ai có thể sống hoài, sống mãi, vấn đề là Sống Với ai? Sống để làm gì? Sống như thế nào? Đời này và mai sau….
05/03/201815:09(Xem: 504)
Giọt móc cỏ đầu phơi Tâm vô sắc tướng, có tạm bất an nhưng sẽ trở lại tự tánh không. Sắc thân, sinh diệt vô thường như mộng như ảo ảnh. An nhiên quán tự tại trong hiện tại không sợ hãi thất bại, đau khổ hay tham cầu mong thành công, hạnh phúc. Để tự nó đến đi tự nhiên rồi thì sẽ có đầy đủ cả hai. Để rồi đau khổ trong khoái lạc hay khoái lạc trong khổ đau? Vạn vật, có không,vô thường như sương ban mai đọng trên đầu những ngọn cỏ trước vô môn quan chỉ hiện hữu thoáng qua như những dòng chảytrong tâm tưởng. Tóm lại, AI (không có chủ từ ở những câu trên) đang bận tâm đây?
05/03/201814:32(Xem: 974)
Lại có chút Ý Duyên-Duyên Ý với tác giả Lê Huy Trứ qua bài viết “Tâm Tạo-Lê Huy Trứ chúng tôi có một vài vấn đề trao đổi thêm về “Ý” -Con đường đạo pháp Phật Đà.(xem thêm:”Một vài Ý qua bài viết ”Thì cành Mai đã nở” của Minh Đức Triều Tâm Ảnh ) 1.Con Người là cuộc sống Ý Tâm -Tâm Ý -Ý Ngời. Con Người ai cũng có Tâm, Tâm là Cuộc sống Tâm Ý của Con Người. Con Người Sống là-Sống Ý Tâm,“-Ý làm chủ-Ý Tạo”. Tâm là tất cả Cuộc Sống Con Người Ý-cả Ý Vô Ngã Không-Ý Ánh sáng Ý và cả ý Phân biệt, ý khổ, ý nghiệp…., và cả Ý giải thoát…Tâm Không chưa phải là có Ý Giải thoát…..; Giải thoát là Ý Trung-Ý Huệ-Ý Giải thoát….
05/03/201809:56(Xem: 1202)
Khoa học kỷ thuật hiện đại đang dùng “Tâm ta” để sáng tạo robots với Artificial Intelligence (AI) trong những robots máy kia. Dĩ nhiên với suy nghĩ và hành động đơn phương độc đạo như người. Đây có thể là nhược điểm của nhân sinh mà chúng ta đã biết nhưng vẫn chưa cải tiến được. Điều mà chưa ai nghĩ tới đó là những bồ tát robots này chưa biết vô minh là gì cho nên chưa thật sự được con người viết super program và quantum software làm cho robots trở thành vô minh với tham sân si như là người phàm phu thật sự. Vì con người chưa đủ kiến thức, chưa đạt tới trình độ để biết language của vô minh, tham sân si và nhất là Tâm là cái gì để có thể nắm bắt rồi bỏ tất cả chúng nó vào não robots như là “AI” đó đã cố tâm hay vô tình, lầm lỡ bỏ những cái nghiệp quả báo hại đó vào thân xác của ta, rồi làm cho ta cứ ngỡ nhầm đó là “tâm ta ở trong thân ta.”