Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
(Xem: 628)
Đầu tháng 5.2020 dịch Covid-19 giảm dần từ một ngàn ca nhiễm mỗi ngày chỉ còn vài trăm rồi vài chục, chính quyền Thụy Sĩ ký sắc lệnh ngày 28.5.2020 mở cửa cách ly, mọi người và mọi tổ chức, nhất là tôn giáo được phép sinh hoạt cho tới 300 người bắt đầu từ 6.6.2020, nhưng vẫn sử dụng những biện pháp ngăn ngừa: Giữ khoảng cách, đeo khẩu trang, và sát khuẩn. Đặc biệt nữa chùa phải ghi danh, số phon, địa chỉ người tham dự, phòng khi phát hiện sự lây nhiễm sẽ khoanh vùng người liên hệ. Mọi người thở phào nhẹ nhõm như bị tù lâu ngày được lệnh ân xá!
(Xem: 824)
Từ đầu năm 2020 dịch Corona bùng phát khắp thế giới, một loại dịch nguy hiểm chết người, dễ lây lan, không thuốc chữa. Đã có vô số người chết và nhiễm bịnh. Con số kể ra thật chóng mặt, đau lòng. Chỉ riêng Thụy Sĩ thôi, nước nhỏ, dân số 10 triệu người, mà hằng ngày cả ngàn ca nhiễm, hằng trăm người chết. Chao ôi, cứ đà này là hết dân số!
(Xem: 1048)
Đại Lễ Phật Đản lần thứ 2644 tại Chùa Pháp Hoa Nam Úc, thứ Bảy 06-06-2020. Trụ trì Thượng Toạ Thích Viên Trí
(Xem: 949)
Muốn thành một vị Phật, một người tu hành phải trải qua ba nguyên tắc đào luyện tu tập; nếu không hoàn thành ba nguyên tắc này thì người đó dù ở địa vị nào ở cấp bực nào đem xét nghiệm thì sẽ nhận biết họ không bao giờ được thành Phật.
(Xem: 1467)
Cõi trời Đâu Suất Bồ Tát giáng trần Khi quán Sa Bà nhân duyên hội đủ Hoàng hậu Ma Da nằm mộng đêm đó Thấy Voi Sáu ngà nhập ở bên hông
(Xem: 1390)
Một sáng tinh sương ..... Đức Thế Tôn thành đạo . Phiền não đoạn tận, chiến thắng ma quân , Ánh sáng Giác Ngộ lan tỏa đến tha nhân Gieo rắc niềm tin ...khổ đau được chuyển hoá !
(Xem: 1840)
Ngày thành đạo của đức Thế Tôn cách đây 26 thế kỷ, đã mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới. Một kỷ nguyên của chánh kiến, thấy rõ thế gian là vô thường và những gì cấu tạo nên nó chỉ là do quan hệ duyên khởi và trống rỗng tự ngã. Những nỗi khổ đau của con người ở trong thế gian không do một ai có thẩm quyền áp đặt, mà chính là do lòng tham dục, tính hận thù và sự kiêu căng nơi tâm họ tạo nên. Tâm cũng vô thường như bất cứ những sự vô thường nào ở trong thế gian, nên những khổ đau của con người không phải là tuyệt lộ. Nó có thể thay đổi khi nhân và duyên của nó được thay đổi. Nhân và duyên làm thay đổi khổ đau của thế giới con người là Bát Thánh Đạo. Thực hành Bát Thánh Đạo, do đức Phật công bố tại vườn Nai, sau khi Ngài thành đạo, trong thời thuyết giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như, tại vườn Nai thì những khổ đau của thế giới con người sẽ bị diệt tận.
(Xem: 1467)
Cõi trời Đâu Suất Bồ Tát giáng trần Khi quán Sa Bà nhân duyên hội đủ Hoàng hậu Ma Da nằm mộng đêm đó Thấy Voi Sáu ngà nhập ở bên hông
(Xem: 2259)
Bài viết này để trả lời một câu hỏi: Làm thế nào để ngộ? Ngộ đây là ngộ tông chỉ Thiền, tức ngộ tông chỉ Phật. Người viết không dám trả lời minh bạch, vi bản thân tu và học đều chưa sâu, nơi đây chỉ trình bày qua nhiều kinh luận để giúp độc giả tham khảo.
(Xem: 2663)
Người tu Phật ai ai cũng có đức tin, nhưng nếu không rõ được rành mạch những lịch sử hoặc những hành vi của các vị Bồ tát phải hành thế nào để thành được một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và do nhờ pháp Ba-la-mật (PÀRAMITA) nào đưa các ngài qua tới bờ giác ngạn là Niết Bàn, thì đức tin ấy có khi cũng mơ hồ và có khi cũng lầm lạc. Vì vậy nên tôi không nệ tài hèn học kém, ráng sao lục tóm tắt theo Tam Tạng Pàli (TIPITAKA) bộ kinh Chánh giác tông (BUDDHAVAMSA) và quyển Chư Bồ tát vị lai (ANÀGATAVAMSA) để đem lại một vài tia sáng cho các nhà tu Phật. Ai là người có chí muốn thành một bậc Chánh Biến Tri, hãy noi theo gương lành của các Ngài và thực hành theo mới mong chứng quả được. Trong quyển kinh này có nhiều đoạn hơi khó hiểu hoặc không thể tin được vì oai lực và pháp Ba-la-mật của một vi Phật Tổ khác Thường xuất chúng và thời đại cũng khác nhau vượt qua khỏi trình độ suy nghĩ hoặc hiểu biết của phàm nhơn. Nên độc giả xem quyển kinh này nên dùng đức tin mà hiểu biết rằng: "Muốn thà
(Xem: 8362)
Video: Hành Trình Khám Phá về Sự Thật Xá Lợi của Đức Phật (Rất hay, rất cảm động khi xem, quý vị nên tranh thủ vào xem liền, chân thành cảm ơn nhà văn, nhà khảo cô người Anh Charles Allen đã thực hiện cuốn phim tài liệu công phu và độc nhất vô nhị để tôn vinh và tìm ra sự thật về xá lợi của Đức Thế Tôn sau 26 thế kỷ, from Thích Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức)

Nghệ Thuật Biểu Thi Nhân Dạng Đức Phật

25/10/201103:03(Xem: 497)
Nghệ Thuật Biểu Thi Nhân Dạng Đức Phật

NGHỆ THUẬT BIỂU THI
NHÂN DẠNG ĐỨC PHẬT

Hoang Phong

Trong kinh Cula-Malunkya-sutta(Trung A Hàm, Majjhima Nikaya, 63) mộtđệ tử của Đức Phật là Malunkyaputta có hỏi Đức Phật rằng "một bậc Giác Ngộ sau khi tịch diệt có còn hiện hữu haykhông?". Đức Phật giữ yên lặng và không trả lời, lý do là vì câu hỏi đãđược đặt sai, và vì đấy chỉ là một hình thức vướng mắc trong sự bám víu và biệnluận. Thật thế, tên gọi của Ngài là "Thích-CaMâu-Ni",có nghĩa là "Bậc TríGiả Trầm Lặng trong họ Thích-Ca", hoặc người ta còn gọi Ngài bằng danhhiệu "Mahamauni" có nghĩa là"Bậc Yên Lặng Lớn Lao"hay "Vị Đại Thánh Nhân của Yên Lặng".

Như vậy thì sau khi ĐứcPhật tịch diệt, người ta đã ghi lại sự hiện hữu của Ngài như thế nào và bằng cácphương cách nào? Làm thế nào để có thể diễn đạt một cách cụ thể sự yên lặng lớnlao và sự tịch diệt nơi cõi Niết-bàn? Nói một cách khác là nghệ thuật tạo hình(iconography) của chúng ta có đủ khả năng để biểu thị những gì không thể biểuthị được chăng?

Thật vậy đó là một sựthách đố lớn lao đối với Nghệ thuật Phật Giáo nói riêng và tín ngưỡng Phật Giáonói chung. Dầu sao thì cũng vì nhu cầu tín ngưỡng nên người sau đã phải tìm đủmọi cách để gợi lại sự hiện diện của Đức Phật bên cạnh họ. Nghệ thuật biểu thị đódiễn tiến qua hai giai đoạn như sau:

- giai đoạn thứ nhất gọilà giai đoạn phi-ảnh-tượng (aniconic, aniconism). Trong giai đoạn này hình tướnghay nhân dạng của Đức Phật không hề được biểu hiện một cách cụ thể và trực tiếp,mà chỉ được thể hiện một cách gián tiếp bằng một số hình ảnh tượng trưng.

- giai đoạn thứ hai gọilà giai đoạn ảnh-tượng (iconic, iconism) thì trái lại hình tướng nhân dạng của ĐứcPhật được diễn tả và biểu thị một cách trực tiếp bằng nghệ thuật điêu khắc vàtranh ảnh đủ loại.

Các chữ aniconic và coniclà những từ mà các học giả Tây phương đã sử dụng để gọi hai giai đoạn trên đây.Những chữ này xuất phát từ các chữ icon (tiếng Anh) và icône (tiếng Pháp)..., vàcác chữ này cũng lại xuất phát từ chữ Hy Lạp cổ là eikon, có nghĩa là hình ảnh. Vậy hai giai đoạn phi-ảnh-tượng(aniconic) và giai đoạn ảnh-tượng (iconic) là gì?

Do Thái giáo và Hồi Giáotuyệt đối cấm đoán không được biểu thị vị Trời của tôn giáo mình dưới bất cứ hìnhthức nào, trong khi đó không thấy giáo lý Phật Giáo đưa ra một điều khoảng nào ngăncấm tín đồ biểu thị một cách cụ thể "hình ảnh" của vị Thầy đã thuyếtgiảng Đạo Pháp cho họ. Tuy nhiên trong một vài kinh sách xưa người ta cũng thấynêu lên tính cách "không thể so sánhđược"của Đức Phật, "khôngcó một khái niệm nào có thể diễn tả được bản thể của Phật". Ngoài nhữngđiểm này ra thì sau khi đã hội nhập vào cảnh giới của Đại Bát Niết Bàn thì ĐứcPhật đã hoàn toàn tịch diệt, chỉ còn lại Đạo Pháp thay Ngài làm Thầy cho chúngta. Kinh Sutta-Nipatalà một bộ kinhngắn rất xưa bằng tiếng Pali có nêu lên là "tất cả mọi ý tưởng [của chúng ta] về Đức Phật đều không hàm chứa một ý nghĩanào cả, [do đó] tất cả mọi phát biểu về Ngài đều hoàn toàn vô ích".

Những điều nói trên cóthể là một số lý do giải thích tại sao trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VItrước Tây lịch đến khoảng đầu thế kỷ thứ I, không có một biểu tượng nào tượngtrưng cho "hình tướng" hay "nhân dạng" của Đức Phật. Dầusao thì cũng không nên hiểu sự kiện đó như là một sự cấm đoán, vì trong thờigian phi-ảnh-tượng sự "hiện diện" của Đức Phật bên cạnh các đồ đệ củaNgài vẫn được tượng trưng một cách gián tiếp bằng một số ký hiệu nào đó.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ Ibước sang đầu thế kỷ thứ II thì lúc đó người ta mới thấy xuất hiện hai trung tâmtạc tượng nhân dạng của Đức Phật: một được thiết lập trên đất Ấn và một trêncon đường tơ lụa thuộc lãnh thổ của nước Pakistan ngày nay. Hai trung tâm này đạidiện cho hai trường phái khác nhau và đã bành trướng nhanh chóng sau đó để đánhdấu cho giai đoạn ảnh-tượng (iconic). Cả hai trường phái này đã trực tiếp ảnhhưởng đến nghệ thuật tạc tượng hình tướng Đức Phật trong tất cả các nước Phậtgiáo suốt từ những thời kỳ ấy cho đến ngày nay.

Giai đoạn phi-ảnh-tượng (aniconic)

Giai đoạn này kéo dài hơn năm trăm năm từ thế kỷ thứVI trước Tây lịch đến thế kỷ thứ I sau Tây lịch. Trong giai đoạn này Đức Phật tứclà Vị Thánh Nhân của Yên Lặngduy nhấtchỉ được tượng trưng bằng một số ký hiệu nêu lên sự hiện hữu của Ngài nơi thếgian này hoặc để nhắc lại các biến cố trọng đại liên quan đến cuộc đời của Ngài.Các loại ký hiệu này được sử dụng để trang trí các bảo tháp và các kiến trúcmang tính cách thiêng liêng. Ngày nay các loại di tích này vẫn còn được tìm thấykhắp nơi, chẳng hạn như tại các bảo tháp của Bồ-đề Đạo-tràng (Bodh Gaya), Kiến-chí(Sanchi), Bharhut, hoặc tại các hang động như Ajanta,v.v... Tuy giai đoạn ảnh-tượng (iconic) đã khởi sự bành trướng kể từ thế kỷ thứI, thế nhưng giai đoạn phi-ảnh-tượng (aniconic) vẫn còn tiếp tục kéo dài đến thếkỷ thứ II và thứ III tại một vài nơi, chẳng hạn như tại Amaravati vàNagarjunakonda (tiểu bang Andhra Pradesh ngày nay). Tóm lại hai giai đoạn này cũngđã phát triển song hành hay "gối đầu" nhau ít ra cũng hơn hai trăm nămtừ thế kỷ thứ I đến thứ III.

Các cách biểu thị giántiếp Đức Phật trong giai đoạn phi-ảnh-tượng gồm có một số ký hiệu tiêu biểu chẳnghạn như một chiếc ngai trống không, một cái lọng, một khoảng trống ở giữa một tấmđiêu khắc, một cột trụ tưởng niệm, hoặc các tấm điêu khắc vết chân của Ngài...Ngoài các ký hiệu mang đặc tính tổng quát trên đây còn có thể kể thêm một số cácký hiệu ghi lại các biến cố trọng đại, chẳng hạn như Đức Phật sinh ra đời thìđược tượng trưng bằng một gốc cây và một cái lọng vì Hoàng hậu Ma-da (Mâyâ) hạsinh Đức Phật dưới một gốc cây, Đức Phật rời bỏ cung điện của vua Cha thì đượctượng trưng bằng một con ngựa và bên cạnh có một vị thần linh (deva) che lọng, thếnhưng trên lưng ngựa thì không có người cưỡi. Một số các sự kiện quan trọng khácchẳng hạn như sự Giác Ngộ thì được tượng trưng bằng cội Bồ-đề, Đức Phật chuyểnPháp luân lần đầu thì được tượng trưng bằng hai con hươu nơi vườn Tiên-uyển (LộcUyển - Sarnah) hoặc bằng bánh xe Đạo Pháp, Đức Phật tịch diệt và hội nhập vào Đại-bátNiết-bàn thì được tượng trưng bằng một bảo tháp...

Tuy nhiên biểu tượngthường thấy nhất trong giai đoạn phi-ảnh-tượng là một chiếc ngai trống không. ĐứcPhật được so sánh như một vị đế vương vì Ngài đã chiến thắng được vô minh. Chiếcngai tuy không có người ngồi thế nhưng thường được trang trí thêm với một tọa cụvà bên dưới chiếc ngai thì có hai vết chân, và nơi lòng bàn chân thì có hình bánhxe Đạo Pháp, vết chân và bánh xe Đạo Pháp là những dấu vết đã in đậm trong thếgian này.

Tóm lại nghệ thuật PhậtGiáo trong giai đoạn phi-ảnh-tượng đã cho thấy một nổ lực lớn lao nhằm nêu lên thểdạng vắng lặng và an bình vô biên của Đấng Thế Tôn và khái niệm tánh khôngtrong Đạo Pháp. Suốt trong giai đoạn này người xưa đã tuyệt đối tránh né không trựctiếp nêu lên nhân dạng của Đức Phật, sự sùng kính của họ mang tính cách siêunhiên, thoát tục và giải thoát nhiều hơn.

hinhtuong-50hinhtuong-51hinhtuong-52

1 2 3

hinhtuong-01hinhtuong-02

4 5

hinhtuong-03hinhtuong-04hinhtuong-05

6 7 8

hinhtuong-06hinhtuong-07

9 10

H.1: Điêu khắc nổi trên vách một bảo tháp (stupa) tại Amaravati (đông namnước Ấn, thế kỷ thứ II), tượng trưng cho sự "Ra đi Trọng đại" củahoàng tử Tất-đạt-đa. Trên lưng ngựa không có người cưỡi, tuy nhiên sự hiện diệncủa vị Bồ-tát được tượng trưng bằng một cái lọng che trên lưng ngựa, bốn vịthần linh nâng bốn vó câu hầu tránh không gây ra tiếng động khiến có thể đánhthức những người hầu cận trong hoàng cung.

H.2:. Điêu khắc nổi trên vách một bảo tháp mô tả cảnh Ma Vương quấy pháĐức Phật. Chú ý: dưới cội Bồ đề là chiếc bệ trống không với tọa cụ và gối lótlưng có khắc chữ Vạn (Svastika, Swastika), dưới chân bệ là hai vết chân tượngtrưng cho sự hiện diện của Đức Phật. Ma quân phóng lao vào Ngài, Ma vương (ngồiở góc trái bên dưới) với cử chỉ và vẻ mặt thất vọng. Góc trái bên trên thì môtả cảnh Ma vương đang cỡi voi bỏ chạy. (Ganthacala - Amaravati).

H.3: Cộttrụ tưởng niệm tại Vệ-sá-li (tên mới ngày nay là Besarh gần thành phố Patna) dovua A-dục dựng vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch. Pho tượng sư tửtrên đầu cột trụ tượng trưng cho sức mạnh của Đạo Pháp. (Hình chụp từ trên đỉnhbảo tháp).

H.4:Sau khi Đức Phật đạt được Giác Ngộ thì các vị thần linh từ khắp nơi kéo đến để tônvinh Ngài và khẩn cầu Ngài thuyết giảng Đạo Pháp cho họ. Vì không thể biểu thị ĐứcPhật bằng hình tướng con người, nên sự hiện hữu của Ngài dưới cội Bồ-đề đượctượng trưng bằng một cái bệ trống không. (Kiến-chí - Sanchi, khoảng thế kỷ thứI).

H.5: Mộtchiếc ngai (không nguyên vẹn, chỉ còn phần dưới) cho thấy tọa cụ có khắc chữ Vạn.Bên dưới chiếc ngai có hai con hươu tượng trưng cho vườn Tiên Uyển (Lộc Uyển -Sarnath), khoảng trống giữa ngực hai con hươu có tạc hai vết chân của Đức Phật.

H.6: Vếtchân của Đức Phật. (Gandhara, thế kỷ thứ I, lưu giữ tại chùa Zenyou Mitsu, NhậtBản).

H.7:Cội Bồ-đề tượng trưng cho Thiền định và sự Giác Ngộ (Sa thạch đỏ, Bảo tàng việnBangkok).

H.8:Bánh xe Đạo Pháp và hai con hươu trong vườn Tiên Uyển (Lộc Uyển - Sarnath), tượng trưng cho bài thuyết giảngđầu tiên của Đức Phật. Cổng chùa Jokhang tại Lhassa. Jokhang là ngôi chùa xưanhất và thiêng liêng nhất của Tây Tạng, thế kỷ thứ VII).

H.9:Một phiến đá điêu khắc nổi (không nguyên vẹn) cho thấy bốn người phụ nữ đang vái lạy ĐứcPhật. Phần trên của chiếc ngai bị mất, chỉ còn lại hai vết chân của Đức Phật.(Đá hoa trắng, trường phái Amaravati, thế kỷ thứ II).

H.10:Hình chạm nổi một bảo tháp (stupa) tượng trưng cho sự tịch diệt của Đấng ThếTôn. Toàn bộ mặt đá đều được chạm trổ thật cầu kỳ cho thấy ảnh hưởng của nghệthuật điêu khắc I-ran. (tìm thấy tại Amaravati, đông nam Ấn Độ, thế kỷ thứ II).

Giai đoạn ảnh-tượng (iconic)

Các pho tượng đầu tiên tạc hình tướngcủa Đức Phật đánh dấu cho giai đoạn ảnh-tượng (iconic) xuất hiện vào thế kỷ thứI dưới triều đại Kanisha, một triều đại đã bảo vệ và phát triển Phật giáo rấttích cực. Sự xuất hiện của các pho tượng biểu thị nhân dạng của Đức Phật trùnghợp với sự bành trướng của Đại Thừa Phật Giáo vào thời bấy giờ. Đại Thừa là mộttông phái mang nặng tính cách sùng kính (bhakti,devotion), do đó đã phải cần đến các ảnh tượng để tôn thờ. Thật vậy sự sùngkính tất nhiên sẽ đòi hỏi phải có những đối tượng để sùng kính nhằm cụ thể hóamột sự giao tiếp thiêng liêng nào đó giữa người tu tập và chính vị Thầy đã hướngdẫn họ. Dầu sao thì từ nhiều thế kỷ trước đó cũng đã thấy xuất hiện các khuynhhướng xem trọng tính cách sùng kính đối với giáo lý của Đức Phật. Một bằng chứngcụ thể là Vua A-dục vào thế kỷ III trước Tây Lịch đã cho xây dựng bảo tháp khắpnơi nhằm mục đích mang xá lợi đến gần với người Phật tử trên toàn thể đế quốc củaông.

Song song với sự xuất hiện ảnh tượngngười ta cũng thấy xuất hiện một số trước tác ghi chép mạch lạc và chi tiết hơnvề sự tích và cuộc đời của Đức Phật, chẳng hạn như các tập Phật sở Hạnh tán (Buddhacarita,thế kỷ thứ I) và tập Phổ Diệu Kinh (Lalitavistara, thế kỷ thứ II-III).Trước đó các biến cố liên quan đến cuộcđời của Đức Phật chỉ thấy nhắc đến rải rác trong các kinh sách. Tóm lại sự tônthờ và sùng kính của Đại Thừa được phản ảnh qua hai lãnh vực khác nhau: lãnh vựcthứ nhất thuộc "nghệ thuật" điêu khắc, và lãnh vực thứ hai mang tínhcách "văn chương" và "thi phú". Tập Phật sở Hạnh tánlà một tác phẩm văn vần do đại luận sư Mã Minh(Asvaghosa) trước tác kể lại toàn bộ cuộc đời của Đức Phật, toàn bộ gồm 28 bài thơ thế nhưng một phần đã bị thấttruyền, ngày nay chỉ còn lại 13 bài bằng tiếng Phạn. Tập Phổ diệu kinhgồm 8 quyển kể lại sự tích Đức Phật với một văn phonghàm chứa nhiều xúc cảm.

hinhtuong-08hinhtuong-09hinhtuong-10hinhtuong-11

11 12 13 14

hinhtuong-12hinhtuong-13hinhtuong-14hinhtuong-15hinhtuong-16

15 16 17 18 19

H.11: Tượng Đức Phật (trường phái Gandhara, thế kỷ thứ I). Đức Phật đượctạc trong tư thế du-già, mặc áo của người La Mã và Hy Lạp, gương mặt chìm sâutrong thiền định, và mang một số tướng tốt nêu lên trong kinh sách như: trên đỉnhđầu có bướu ushnisha(tượng trưng chotrí tuệ), giữa lông mày có dấu hiệu ûrnâ(chòm lông trắng và xoăn), cổ có ba ngấn, tay dài đến đầu gối,... Ngoài ra còncó thể nhận thấy hai trái tai thật dài có đeo trang sức, tóc xoăn, động tác trênhai tay tượng trưng cho các thủ ấn (mudrâ)...Sau gần sáu thế kỷ của giai đoạn phi-ảnh-tượng thì đây là một trong những photượng Phật đầu tiên đã xuất hiện, thế nhưng cũng đã nêu lên gần đầy đủ các biểu tượng lý tưởng và chính yếunhất để chỉ định nhân dạng của Đấng Thế Tôn. (Bảo tàng viện Dehli, Ấn Độ).

H.12: Chân dung Đức Phật (trường phái Gandhara, thế kỷ thứ III). Tuymang nét mặt người Âu châu, thế nhưng hai mắt thì nửa khép nửa mở biểu hiện thểdạng thiền định. Tóc xoăn, trên đầu có bướu ushnisha,giữa hai lông mày có chòm lông ûrnâ, haitrái tai thật dài và có lỗ để đeo trang sức. (Victoriaand Albert Museum, Luân Đôn).

H.13: Tượng Phật thời kỳ Kushana (đế quốc Kushan, thế kỷ thứ I - III). "Chiphái" này phát triển tại hai nơi, một gần trung tâm Gandhara và một gầntrung tâm Mathura,cho thấy một số chuyển hướng rất tinh tế. Thân thể Đức Phật có dáng dấp trẻtrung, vô tính (không biểu hiện nam tính hay nữ tính), vai thon nhỏ..., lòng bàntay có hình bánh xe Đạo Pháp. Các đường nét gân guốc và khoẻ mạnh trước đây (ảnhhưởng Hy Lạp và La Mã) của hai trường phái Gandhara và Mathura được thay thế dầnbởi những đường nét mềm mại hơn, nhằm làm nổi bật thể dạng tinh thần và nội tâmcủa pho tượng. Áo có các nếp gấp thật đều đặn, mềm mại và ôm sát vào người,ngang hông có ngấn cho thấy như có một giải khăn quấn ngang người nơi phía dướibụng (quần áo lót?). (Bảo tàng viện Mathura, Ấn Độ). Xin xem tiếp các nét chínhcủa chi phái này trong phần giải thích của H.14 tiếp sau đây.

H.14: Tượng Phật thời kỳ Kushana (thế kỷ thứ III). Gương mặt của Đức Phậttrong thời kỳ này có nhiều nét biến đổi, mang vẻ suy tư hơn, môi thanh và hơinhếch tạo ra cảm giác như sắp nở một nụ cười (riêng trong pho tượng này thì môikhá đầy đặn), hai mắt gần như khép lại và tương tự như hai búp hoa sen, lôngmày thon dài không rậm như trước, tóc không gợn sóng nhưng xoắn lại thành nhữnglọn hình trôn ốc. (Bảo tàng viện Guimet, Paris).

H.15: Chân dung Đức Phật thời kỳ Gupta (thế kỷ thứ IV - VI). Gương mặt đềuđặn, trong sáng, phảng phất nét mặt người Ấn, hai trái tai dài, nụ cười thật hiềnhòa, suy tư và hướng vào nội tâm, hai lông mày thật thanh và dài, tóc gồm nhữnglọn nhỏ hình trôn ốc. Nói chung tượng Phật thuộc thời kỳ Gupta mang nhiều sắcthái tâm linh hơn là các nét thuần túy nhân dạng trước đây, ảnh hưởng bởi nghệ thuậttạo hình của Hy lạp và La Mã. Nhiều đường nét trừu tượng và siêu thoát làm hiểnhiện hình tướng khác thường của Đức Phật. Chẳng hạn khi nhìn vào gương mặttrong hình này thì mọi người đều có thể nhận ra ngay đấy chính là Đức Phật,không thể nhầm lẫn với bất cứ một nhân vật nào khác. (Bảo tàng viện Mathura, ẤnĐộ).

H.16: Tượng Phật thời kỳ Gupta (thế kỷ thứ IV - VI). Tượng Phật đứng,hai chân hơi dạng ra. Áo phủ cả hai vai, áo có các nếp gấp đều đặn và ôm sátvào người (trường phái Gandhara), búi tóc trên đầu trước đây đã hoàn toàn trởthành bướu trí tuệ ushnisha. Tượng tạcbằng sa thạch đỏ. (Bảo tàng viện Mathura, Ấn độ).

H.17: Tượng Phật thời kỳ Gupta thuộc trường phái Mathura. Áo phủ cả haivai, mỏng và ôm sát vào người, nhưng không có các nếp gấp (tiêu biểu cho trườngphái Gandhura). Cổ có ba ngấn. Tư thếhoa sen thật uy nghi. Tượng được tạc bằng sa thạch màu xanh nhạt hơi xám). (Bảotàng viện Sarnath).

H.18: Tượng Phật khổ hạnh tạc bằng diệp thạch, thời kỳ Kushan (thế kỷ thứII - III). Các tượng Đức Phật khổ hạnh là một sáng tạo của trường pháiGandhara, các loại tượng này tương đối hiếm, có lẽ không được mến chuộng nhiềuvì mang tính cách quá hiện thực của sự khắc khổ (?). (Bảo tàng viện Lahore, Pakistan).

H.19: Chân dung Đức Phật khổ hạnh, tạc bằng một loại đá xanh nhạt, máhóp, mắt thụt sâu, gân máu nổi lên ở trán. (Gandhara, thế kỷ thứ II, Bảo tàngviện Anh quốc BritishMuseum).

Tóm lại Đại Thừa PhậtGiáo đã triển khai thêm một số khái niệm mới về giáo lý và đồng thời đặt nặng sựsùng kính và tôn thờ. Các đặc điểm này cho thấy tông phái Đại Thừa có khuynh hướngxem Đạo Pháp của Đức Phật như là một "tôn giáo", giống như các tôn giáokhác thời bấy giờ. Hình ảnh khắc khổ, trong sáng, siêu nhiên, trầm lặng và siêuthoát của Đấng Thế Tôn vào thời kỳ phi-ảnh-tượng cũng đã đổi thay để trở thànhmột Đức Phật nhân bản hơn, thiêng liêng và gần gũi với con người hơn. Hai trườngphái tạc tượng "hình tướng" Đức Phật phát triển gần như đồng lượt vớinhau vào khoảng thế kỷ thứ I và đầu thế kỷ thứ II đã đánh dấu một cách rõ rệtcho sự chuyển hướng này.

Trường phái thứ nhất pháttriển tại Gandhara, ngày nay thuộc bắc Pakistan và không xa thủ đô Islamabadbao nhiêu. Không lâu sau đó thì trường phái thứ hai xuất hiện và phát triển tạiMathura, ngày nay là một thị trấn nằm về phía nam của thủ đô Dehli trên trục lộdẫn đến thành phố Agra nơi tọa lạc của ngôi điện nổi tiếng Taj Mahal. Thật rathì cả hai trường phái này đều chịu ảnh hưởng của nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp,vì vào thời bấy giờ các cuộc chinh phạt của A-lịch-sơn Đại Đế (Alexander theGreat) trong toàn vùng cận đông và bắc Ấn đã tạo ra một đế quốc mênh mông, và cácnghệ gia người Hy Lạp nhân đó cũng đã đổ đi khắp nơi. Tuy nhiên trường phái Mathura tại bắc Ấn mangnhiều nét tiêu biểu cho nghệ thuật Ấn Độ hơn. Tiếp theo hai trường phái trên đâyngười ta thấy xuất hiện vào các thế kỷ thứ III và IV một trường phái thứ ba tạitrung tâm Amaravati (tiểu bang Andhra Pradesh, tây nam Ấn độ). Tượng Phật củatrường phái này được tạc với với gương mặt thật trầm lặng, tóc xoăn thành lọn hìnhtrôn ốc, áo cà-sa dài đến gót chân. Các trường phái này sau đó đã truyền bá nghệthuật tạo hình biểu thị cho Đấng Thế Tôn ra khỏi nước Ấn và vùng cận đông bằnghai con đường khác nhau:

- Con đường phía Bắc: xuất phát từ Trung Á kể từ thế kỷ thứ I trước Tâylịch, xuyên ngang thung lũng Tarim đến vùng Tân Cương của Trung Quốc, hoặc xuấtphát thẳng từ Ấn Độ và du nhập vào Trung Quốc bằng con đường tơ lụa. Sau đó thìnghệ thuật tạo hình Đức Phật từ Trung Quốc lại được truyền sang Triều Tiên, NhậtBản, Việt Namvà Tây Tạng. Trường hợp của Tây Tạng rất đặc biệt vì chịu ảnh hưởng nghệ thuật từba hướng khác nhau: Ấn Độ, Trung Á và cả Trung Quốc.

- Con đường phía Nam: xuất phát từ Ấn Độ và một phần nhờ vào đường biển.Nghệ thuật tạo hình Đức Phật của Ấn Độ và cả giáo lý Phật Giáo nói chung đã đượcdu nhập vào Tích Lan và các nước Đông Nam Á như Miến Điện, Thái Lan, Campuchia,Chiêm Thành, Inđônêxia bằng con đường này. Các quốc gia vừa kể ngoại trừ TíchLan, trước hết theo Phật giáo Đại Thừa đặc biệt là Kim Cương thừa, và sau đó mớichuyển sang Phật giáo Nguyên Thủy.

Nói chung thì Kim Cươngthừa vào khoảng thế kỷ thứ VI đã mượn cả hai con đường trên đây: con đường tơ lụaphía bắc để phát triển sang Trung Quốc, Nhật bản, Tây Tạng và cả con đường biểnphía nam để phát triển sang các nước Đông Nam Á trong đó có cả Indônêxia. Kim Cương thừa trở thành Thiên Thaitông (Tientai) tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ VI, sau đó được truyền sang Nhật Bảnvà trở thành Thiên Thai tông Nhật Bản (Tendai) vào thế kỷ thứ IX. Một tông pháikhác của Kim Cương thừa là Chân Ngôn tông (Zhenyan) cũng đã phát sinh ở TrungQuốc vào thế kỷ thứ VII và sau đó truyền sang Nhật Bản và trở thành Chân Ngôn TôngNhật Bản (Shingon) vào thế kỷ thứ VIII. Sở dĩ nêu lên trường hợp của Kim cươngthừa là vì tông phái này phát triển một nghệ thuật tạo hình thật đặc thù, rấtphức tạp và mang một vài khía cạnh có vẻ thần bí.

Trong khi đó thì cũng vàothế kỷ thứ VI, Bồ-đề Đạt-ma (Bodhidharma) đã mượn con đường biển phía nam để đưaphép tu tập Thiền Định (Dhyana) vào Trung Quốc. Phép tu tập này trở thành ThiềnTrung Quốc (Chan), sau đó được truyền sang Triều Tiên vào thế kỷ thứ VIII để trởthành Thiền Triều Tiên (Sôn), và cũng trong thế kỷ này đã được du nhập vào NhậtBản rồi trở thành Thiền Nhật Bản (Zen). Các tông phái Thiền nói chung đều chủtrương sự đơn sơ và giữ nguyên nghệ thuật tạo hình cổ điển.

Tuy nhiên vấn đề thenchốt vẫn là làm thế nào để tạc hình tướng của Đức Phật một cách trung thực nhất,vì trên thực tế không có một bức chân dung nào của Đấng Thế Tôn được lưu lại vàNgài thì đã tịch diệt từ gần sáu thế kỷ trước.

Các biểu tượng hay dấu hiệu biểu thị nhândạng của Đức Phật

Nghệ thuật tạc tượng tronggiai đoạn đầu nhằm biểu thị nhân dạng của Đức Phật có lẽ đã chịu ảnh hưởng trựctiếp của nghệ thuật tạo hình truyền thống của Hy Lạp và La Mã. Riêng đối với Phậtgiáo thì Đức Phật không hề tượng trưng cho một vị Trời để phải khúm núm và cũngkhông phải là một vị thần linh có quyền lực ban bố ân huệ để cầu xin. Nếu vìnhu cầu phải bắt buộc biểu thị Đức Phật bằng hình tướng nhân dạng, thì hình tướngđó không thể chỉ biểu lộ các đường nét lý tưởng đơn thuần của thân thể con ngườitheo tiêu chuẩn nghệ thuật Hy Lạp và La Mã, mà còn phải nêu lên hình tướng của mộtcon người siêu nhiên hàm chứa một nội tâm thật an bình và trong sáng, biểu hiệnđược sự Giác Ngộ và Trí tuệ. Tóm lại hình ảnh của Đấng Thế Tôn phải đủ sức thểhiện tính cách siêu nhiên của một vị Phật và phản ảnh được Đạo Pháp. Nếu muốn đạtđược các tiêu chuẩn như vừa kể tất nhiên phải cần đến một số biểu tượng hay kýhiệu thật chính xác và được quy định hẳn hoi.

hinhtuong-17hinhtuong-18hinhtuong-19hinhtuong-20

20 21 22 23

hinhtuong-21hinhtuong-22hinhtuong-23hinhtuong-24

24 25 26 27

H.20: Tượng Phật Thái Lan (chi tiết) thời kỳ Sukhothai (thế kỷ XIII -XV), cho thấy bên trên bướu trí tuệ ushnishacòn có thêm một ngọn lửa biểu hiện sự Giác ngộ. Mũi hơi khoằm là một trong số 80tướng tốt của Đức Phật. Trái tai thật dài và có lỗ để đeo trang sức. (Bảo tàngviện Bangkok).

H.21: Tượng Đức Phật đang cất bước trên đường Giải thoát. Tượng trong tưthế đang bước là một sự sáng tạo tiêu biểu của trường phái Sukhothai, nhằm manglại sự linh động và uyển chuyển, tương phản với tư thế đứng im của các pho tượngtrước đây. Dáng dấp của toàn thân pho tượng thật nhẹ nhàng và uyển chuyển, tươngtự như thân hình một người phụ nữ. Hai tay dài ngang đầu gối, áo mỏng và trongsuốt. (Thái Lan, tkế thế kỷ XIV. Bảo tàng viện Bangkok).

H.22: Đức Phật theo trường phái Khơ-me (Kampuchia), các loại tượng này thườngđược gọi là "Đức Phật Mucilinda".Mucilinda (Chơn-liên-đà) là tên của con Long Thần (Naga) đã che chở cho Đức Phật dưới một cơn giông tố khủng khiếp khiNgài đang ngồi thiền dưới cội Bồ-đề. Các pho tượng Phật Khơ-me nói chung thườngcó khuôn mặt hình tam giác, cằm vuông, tư thế thật thẳng và cứng, một vài đườngnét nơi gương mặt biểu lộ sự nghiêm trang và khắc khổ.

H.23: Tượng Phật rất nổi tiếng tại chùa Phật Ngọc (Temple de Jade) tạiThượng Hải. Trên ngực có khắc chữ Vạn cho thấy ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Áo củapho tượng nhăn một cách tự nhiên và đấy là do ảnh hưởng từ nghệ thuật tạc tượngMiến Điện. Tượng Phật Trung Quốc nói chung thường có vóc dáng đẫy đà, các đườngnét tròn trịa, mặt và đầu tròn, mắt nhỏ. Đó cũng là những nét tổng quát chungcho các pho tượng Phật thuộc bắc Á châu, gồm có Triều Tiên, Nhật Bản và cả ViệtNam.

H.24: Tượng Phật Triều Tiên (Hàn Quốc). Tượng thường có vóc dáng đẫy đà,bằng gỗ hay bằng đồng thếp vàng và dặc biệt có bướu trí tuệ thật to.

H.25: Tượng Phật trong ngôi chùa của Tổng hội Phật giáo Pháp trong côngviên Vencennes của thành phố Paris, tạc vào năm 1931. Ngôi chùa cũng được xây dựngvào năm này, nhân dịp "Hội chợ Thuộc địa". Gương mặt của pho tượngmang các đường nét của người Tây phương.

H.26: Tượng Phật tại chánh điện của ngôi chùa chính tại Bồ-đề Đạo-tràng(thế kỷ XIII?). Các nhà sư của ngôi chùa Tây Tạng gần đó đã khoác thêm chiếc áocà-sa bên ngoài (y thượng) lên pho tượng.

H.27: Phật Ngọc kết hợp các tiêu chuẩn tạc tượng của một số các quốc giaPhật giáo khác nhau, chẳng hạn như ngọn lửa bên trên bướu trí tuệ (Thái Lan),tay cầm bình bát (Phật giáo Nguyên Thủy), cổ có ba ngấn (Ấn độ), hai mắt to vàmở rộng (Tây tạng)... Tuy nhiên trên bình diện tổng quát pho tượng mang nhiều nétkhá giống với pho tượng nơi chánh điện của ngôi chùa chính tại Bồ-đề Đạo-tràng(xem H.26).

hinhtuong-25hinhtuong-26image053

28

H.28: Tượng Đức Phật Đồng Dương. Tỉnh Quảng Nam, thế kỷ thứ VIII - IX. Tượng đồngcao 119cm, ngang 38cm, dầy 38cm, được khám phá vào năm 1911. (Bảo tàng viện Lịchsử, thành phố Hồ Chí Minh, BTLS 4419). Động tác của tay phải cho thấy Đức Phậtđang luận giải (vitarka mudrâ),taytrái cầm một chéo áo khoác ngoài (y thượng,còn gọi là uất-đà-la-tăng- uttarasanga) để giữ cho áo khỏi bị tuộtkhỏi vai. Bên dưới y thượng là áo cà sa bên trong hay áo lót (gọi là nội y, ngũđiều y, tiểu y, hay an-đà-hội - antaravasana)ôm sát vào người. Trong số các tướng tốt thì có thể nhận thấy: da màu vàng ròng(tượng thếp vàng), hai bàn chân vững vàng (supratisthitapada),gót chân lớn, nở ra phía sau (ayatapadaparsni),các ngón chân và ngón tay thật dài (dirghanguli),hệ thống các đường chỉ tay trông thấy rõ (các đường chỉ ở bàn chân không trìnhbày được vì tư thế đứng của pho tượng) (jalavanaddhahastapada),nửa phần thân thể bên dưới hẹp tương tự như hông sư tử (simhapurvardhakaya), tương phản với nửa người bên trên với hai vairộng và khoẻ (xem hình toàn thân bên cạnh: vai nở nang, hai cánh tay to, hôngnhỏ, giống như thân của một con sư tử), toàn thân có những đường nét "tròntrịa của một cội cây sung" (nyagrodhaparimandala),một túm lông nhỏ ở giữa hai lông mày (ûrnâ)xoắn từ trái sang phải, đỉnh đầu có bướu trí tuệ (ushnisa), tóc gồm những lọn nhỏ xoắn trôn ốc từ trái sang phải (ekaikaromapradaksinavarta), hai trái taidài là do thuở nhỏ đeo trang sức quá nặng, phía sau đầu (xem hình bên cạnh) cómột chỗ lồi ra dùng để gắn chiếc đĩa hào quang (nhưng nay đã mất). Tóm lại trênđây là một số các tướng tốt góp phần tạo ra vóc dáng của một bậc siêu nhiên.

Về nguồn gốc của pho tượng thì nhà khảo cổ Ananda Coomaraswamy cho rằngđây là một tác phẩm của Ấn Độ hoặc Tích Lan được đúc vào khoảng thế kỷ thứIII. Một số các nhà khảo cổ khác (như DouglasBarett) thì cho rằng pho tượng thuộc trường phái Amaravati (tiểu bang AndhraPradesh của Ấn độ ngày nay) và thuộc thế kỷ thứ VIII. Nhà khảo cổ Pierre Dupontthì cho rằng pho tượng này là tác phẩm của người Chàm (Châm - Chiêm Thành) thuộcthế kỷ thứ III-IV. Nhà khảo cổ Alexander Griswold thì cho đấy là một tác phẩmTích Lan thuộc thế kỷ thứ V. Nhà khảo cổ Diran Kavork Dohanian cũng nghĩ là củaTích Lan và được tạc trễ hơn, tức vào hậu bán thế kỷ thứ VIII. Nhà khảo cổ JeanBoisselier khảo cứu nhiều nhất và công phu nhất về pho tượng này thì kết luận rằngthật hết sức khó để xác định một cách chính xác đấy là một pho tượng Ấn Độ hayTích Lan và theo ông thì được đúc vào giữa các thế kỷ thứ IV và thứ VI. Nhà khảocổ Ulrich von Schroeder thì cho rằng đây là một tác phẩm thuộc giai đoạn saucùng của trường phái Amaravati (thế kỷ thứ VI-VII).

Tóm lại theo các nhà khảo cổ trên đây thì dù sao pho tượng cũng không phảilà tác phẩm của người Chàm, thế nhưng thật khó để xác định tuổi và nguồn gốc mộtcách chính xác. Gần đây hơn thì phần đông các nhà khảo cổ đều cho rằng pho tượngnày thuộc nghệ thuật đúc đồng của Tích Lan thuộc trung tâm Anuradhapura (mộttrong các cựu kinh đô của Tích Lan, thế kỷ thứ V đến thứ X), các nhà khảo cổ nàykhi đưa ra giả thuyết trên đây đã căn cứ vào dáng dấp của toàn thân, hai mắt mởto, mép miệng nhếch cao, và nhất là áoôm sát vào cơ thể với các nếp gấp đồng tâm, bướu trí tuệ (ûrnâ) tương đối nhỏ và thấp.

Tuy nhiên các nhà khảo cổ này còn nhận thấy thêm một số chi tiết thật đặcbiệt khác nữa nơi pho tượng: đó là cặp lông mày dầy và dính liền nhau, thật uyểnchuyển, đây là nét đặc thù của nghệ thuật Chàm quy định vẻ đẹp của gương mặt nóichung. Cặp lông mày trên đây không hề thấy trong nghệ thuật tạo hình Amaravaticủa Ần Độ và cả Anuradhapuracủa Tích Lan. Sau khi quan sát thật kỹ thì các nhà khảo cổ nhận thấy đôi chânmày đã được gắn thêm vào gương mặt pho tượng, hơn nữa đôi mắt cũng đã được sửađổi, đuôi mắt được khắc rộng ra và con ngươi cũng được đục cho to hơn. Cáctiêu chuẩn nghệ thuật này là những nét đặc thù của nghệ thuật Đồng Dương củangười Chàm xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ IX, vì thế các nhà khảo cổ nghĩ rằngpho tượng được đúc không lâu trước đó và đã được mang đến vùng này vào cuối thếkỷ thứ IX.

Cũng xin nhắc thêm là từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ IX miền bắc Việt Nam chịu ảnh hưởngcủa Phật giáo Đại Thừa Trung quốc. Vương quốc Chàm được sáp nhập vào lãnh thổViệt Nam (Đại Việt) vào năm 1471 dưới triều đại Lê Thánh Tông, và sau đó thì vươngquốc này đã hoàn toàn biến mất kể từ năm 1720, và đã trở thành lãnh thổ Đại Việtsau 250 năm kháng cự. Các pho tượng Phật và nghệ thuật tạo hình nói chung của vươngquốc Chiêm Thành chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, Khơ-me và đảo Java, trong khi đó thìnghệ thuật tạo hình của miền bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Quốc.

Các dấu hiệu biểu thị ĐứcPhật đều được căn cứ từ các tiêu chuẩn lý tưởng mô tả trong các kinh sách dùngđể xác định một vĩ nhân (mahapurusha)theo truyền thống văn hóa Ấn Độ. Các dấuhiệu này gồm có 32 tướng tốt chính yếu, và 80 tướng tốt thứ yếu, chẳng hạn như haibàn chân vững chắc, hai chân và hai cánh tay mềm mại, mắt cá chân ở vị thế khácao, các ngón chân và ngón tay rất dài và gần bằng nhau, hai cánh tay đầy đặn vàdài đến đầu gối, đầu hình bầu dục giống như một quả trứng, đỉnh đầu có một bướulớn, miệng có 40 răng, hàm sư tử, thân thể có màu vàng đồng thật sáng, hai mắt đenláy và hình dạng giống như hai đóa sen, lông mày dầy và giữa hai lông mày có thêmmột túm lông màu trắng, mũi khoằm tương tự như mỏ két, v.v. và v.v... Một cáchtổng quát Đức Phật có thân người cân đối, các đường nét mềm mại, vai rộng, hônghẹp, hai tay thật dài, chân giống như chân hươu, da màu vàng và sáng chói, toànthân giống như một con sư tử.

Các hình tượng biểu thịcho Đức Phật đều có tóc trên đầu. Sau khi rời khỏi hoàng thành của vua cha thì hoàng tử Tất-đạt-đa cắt tóc và phần chântóc còn lại gồm có những lọn xoắn theo hình trôn ốc từ trái sang phải. Hầu nhưtất cả các nước Phật giáo ngày nay, nhất là các nước Á châu đều xem dấu hiệu nàylà một trong các quy ước quan trọng nhất để phân biệt Đức Phật với tất cả cácnhân vật của các tôn giáo khác. Tuy nhiên một Phật tử trung kiên và học giả Phậtgiáo là Michel Henri Dufour trong một bài viết ngắn có cho biết là một vài photượng xưa nhất biểu thị Đức Phật tìm thấy trong vùng Mathura có đầu cạo trọc, thếnhưng hiện tại thì người viết bài này chưa tìm thấy tài liệu hay hình ảnh nào vềchi tiết này. Dầu sao thì hầu hết các pho tượng biểu thị Đức Phật đều có tóc. Cácpho tượng xưa nhất của trường phái Gandhara cho thấy tóc của Đức Phật là nhữnglọn dài và gợn sóng, hoặc búi cao và xoắn theo hình trôn ốc.

Điểm tiêu biểu và đặcthù thứ hai là chòm lông xoắn màu trắng ở giữa hai lông mày gọi là ûrnâ, từ vị trí của ûrnâphát ra các tia sáng của trí tuệ chiếu rọi khắp vũ trụ. Chòmlông ûrnâthường được trình bày dưới cáchình thức biến dạng chẳng hạn như một hình bán cầu nhỏ bằng thủy tinh, bằng vàng,hay đá quý. Sau này Kim Cương thừa có xu hướng xem dấu hiệu ûrnânhư là "con mắt thứ ba".Hai trái tai của Đức Phật thòng xuống rất dài. Hầu hết các học giả Tây phương đềucho rằng đấy là vì thái tử Tất-đạt-đa khi còn nhỏ phải đeo bông tai quá nặngđúng theo truyền thống vương gia thời bấy giờ.

Trên đầu của Đấng Thế Tônthì có một vầng hào quang sắc vàng tỏa rộng biểu hiện của "Ánh sáng Trí tuệ".Vầng hào quang này về sau được một số các tôn giáo khác bắt chước để biểu hiện chocác nhân vật thiêng liêng của họ. Ngoài ra trên đỉnh đầu của Đức Phật luôn luôncó một bướu to hình bán cầu (ushnisha)tượng trưng cho Trí Tuệ và sự Giác Ngộ.

Lòng bàn tay và bàn châncủa Đấng Thế Tôn có in hình bánh xe Đạo Pháp. Vào thời kỳ phi-ảnh-tượng(aniconic) thì hình bánh xe được điêu khắc trên mặt đá cùng chung với vết châncủa Đấng Thế Tôn. Trong thời kỳ ảnh-tượng (iconic) thì bánh xe Đạo Pháp thườngđược thấy nơi lòng bàn chân của các pho tượng nằm.

Cũng cần nhắc thêm là ĐứcPhật luôn luôn được trình bày một cách thật đơn sơ, tinh khiết và siêu thoát, mặcchiếc áo cà-sa của người tu hành và không bao giờ mang trang sức hoặc các thứthêm thắt màu mè rườm rà. Chỉ có ảnh tượngcủa các vị bồ-tát và các thần linh thì mới được trang trí thêm với các thứ thêmthắt đủ loại. Khi rời khỏi cung điện thì vị Bồ-tát Tất-đạt-đa đã bỏ lại tất cảnhững gì của thế tục, "kỷ niệm" duy nhất còn lại là hai trái tai có lỗđể đeo nữ trang. Ngài luôn luôn được biểu thị qua hình dạng của một người còntrẻ hoặc trung niên, và người ta không bao giờ trông thấy một ảnh tượng nào củaĐức Phật với những nét già nua, kể cả các pho tượng nằm, tượng trưng cho sự tịchdiệt, tuy rằng lúc đó Ngài đã tám mươi tuổi.

Ngoài một số dấu hiệuchính yếu nhằm xác định nhân dạng và hình tướng của Đấng Thế Tôn, người ta cònnhận thấy một số tiêu chuẩn quy ước liên quan đến các tư thế của thân thể ĐứcPhật và các động tác của hai tay gọi là thủ ấn (mudrâ) nhằm gợi lên một ý nghĩa nào đó.

Các ký hiệu liên quan đến tư thế của thânthể và động tác trên hai tay

Nói chung nghệ thuật tạohình biểu thị Đức Phật gồm có hai cách khác nhau: cách thứ nhất trình bày ĐứcPhật một cách riêng rẽ nhằm vào việc tôn thờ, cách thứ hai trình bày Đức Phật lồngtrong một bối cảnh hay một sự kiện nào đó trong cuộc đời của Ngài. Dầu sao thìcả hai đều mang tính cách "kể chuyện", tức biểu thị Đức Phật trong mộttư thế nào đó, chẳng hạn như đứng, ngồi hoặc nằm, hoặc với những động tác củahai tay gọi là thủ ấn (mudrâ), (xemhình 29 bên dưới). Vào thế kỷ thứ XIV, trường phái Sukhothai của Thái Lan cònsáng tạo thêm tượng Đức Phật đang bước đi, hoặc đang nằm để tiếp rước thầnIndra (tức là vị Trời của tất cả các vị trời theo huyền thoại trong kinh Vệ-đà),các pho tượng nằm này không hề mang dụng ý nói lên sự tịch diệt.

hinhtuong-28

Từ trái qua phải: hành trên: A, B. Hàng thứ 2: C, D, E & Hàng thứ 3: F

H.29

H.29: Các thủ ấn (mudrâ) còn gọilà pháp ấn, có nghĩa các động tác của hai tay nhằm nêu lên một ý nghĩa nào đó. Ýnghĩa của các hình từ trái sang phải và từ trên xuống dưới:

a) Dharmacakra-mudrâ:chuyển pháp luân (thuyết giảng)
b) Dhyâna-mudrâ:thiền định
c) Abhaya-mudrâ:vô úy, sự che chở
d) Vara-mudrâ:bố thí
e) Vitarka-mudrâ:luận giải, lý luận
f) Bhûmisparsa-mudrâ:tay phải chạm vào mặt đất và xem đấy là một nhân chứng

Ngoài ra cũng xin kểthêm là theo kinh sách của Phật giáo xưa (nguyên thủy) thì có bảy hoặc hai mươi bốn vị Phật đã xuất hiệntrước vị Phật lịch sử là Thích-ca Mâu-ni. Hình tướng của các vị này đều vay mượn"nhân dạng lý tưởng" của vị Phật lịch sử, chỉ khác là mỗi vị thiền địnhdưới một gốc cây khác nhau, không phải là cội Bồ-đề. Đại Thừa Phật Giáo dựa vàosự kiện này và cả khái niệm về vũ trụ quan cho rằng có vô lượng vũ trụ khácnhau và mỗi vũ trụ đều có một vị Phật hay một dòng tiếp nối của nhiều vị Phật, để"sáng tạo" hay "hình dung" ra thêm vô số các vị Phật khác,thí dụ như khái niệm Ngũ Phật gồm có các vị Phật: Tì-lô Giá-na (Mahavairocana),A-súc (Aksobhya), Bảo Sinh (Ratnasambhava), A-di-đà (Amitaba), Bất Không ThànhTựu (Amoghasiddi). Hình tướng của các vị này cũng được dựa vào hình tướng lý tưởngcủa Đức Phật lịch sử và đồng thời cũng vay mượn cả các thủ ấn của vị Phật lịchsử để sử dụng như những ký hiệu giúp xác định từng vị một, thí dụ như PhậtA-di-đà thì mượn thủ ấn nói lên sự thiền định (Dhyana-mudrâ), Phật A-súc thì chấm tay xuống mặt đất để minh chứng(Bhumisparsa-mudrâ)... Do đó nếukhông chú ý đến những điểm này thì rất dễ lầm lẫn giữa các vị Phật với nhau.

hinhtuong-29hinhtuong-30

30 31

H.30: Phật A-di-đà (Kamakura,Nhật Bản)

H.31: Phật A-súc (Aksobhya), phát hiện tại Mahoba (bắc Ấn Độ), triều đạiChandella, thế kỷ XI. (Bào tàng viện Lucknow Ấn Độ, No G-300)

Sau hết cũng xin nêulên một chi tiết nhỏ nữa là các pho tượng Phật được đặt trên ba loại bục (âsana) khác nhau. Loại bục thứ nhất là mộtcái ngai sư tử, đây là loại bục thường thấy nhất trong thời kỳ khởi nguyên thuộcgiai đoạn ảnh-tượng (iconic), Đức Phật ngồi trên ngai và hai chân buông thẳngnhư một vị đế vương. Ngai sư tử tượng trưng cho sự chiến thắng vô minh của ĐứcPhật và sự vinh quang của Đạo Pháp. Kinh sách thường ví tiếng rống của sư tử nhưlà tiếng thét đánh thức chúng sinh đang ngủ mê trong thế giới này.

Loạibục thứ hai mang hình dạng một tòa sen, rất phổ biến ngày nay. Hoa sen là mộttrong những hình ảnh tiêu biểu nhất của Phật giáo, tượng trưng cho "Phậttính" hay "bản thể của Phật" nơi mỗi chúng sinh, đấy là một kháiniệm đặc thù của Đại Thừa Phật Giáo. Ngoài ra hình ảnh hoa sen còn là biểu tượngcủa một thể dạng tâm linh tuyệt đối mang tính cách vũ trụ, ý nghĩa của khái niệmnày ảnh hưởng từ nền văn hóa Ấn Độ. Các loại bục dưới dạng tòa sen xuất hiện khátrễ và được tìm thấy trước nhất tại trung tâm Gandhara vào khoảng thế kỷ thứIII - IV. Vào thời kỳ này các bục hình tòa sen thường được đặc biệt sử dụng đểđặt các pho tượng Phật trong tư thế đang thuyết giảng.

hinhtuong-31hinhtuong-32

32 33

H.32: Động Ellorâ, hang số 10. Tượng Phậtngồi trên ngai theo tư thế của một vị đế vương, động tác của hai tay (thủ ấn)cho thấy Đức Phật đang thuyết giảng (thế kỷ thứ VII). Tấm điêu khắc tiêu biểucho Phật Giáo Đại thừa được đặt thêm vào phía trước một bảo tháp tiêu biểu cho thờikỳ phi-ảnh-tượng (aniconic) (thế kỷ thứ III-IV(?). Động Ellorâ nằm vào phía tâycủa bán lục địa Ấn Độ, gần thị trấn Aurangabad ngày nay, gồm tất cả 34 hang độngđục thẳng vào núi. Trong số này có 12 hang là các chính điện Phật Giáo, được thựchiện từ thế kỷ thứ III-IV đến thế kỷ thứ VII, 17 hang là các đền thờ Ấn Giáo(thế kỷ thứ VII-VIII) và 5 của đạo Ja-in (thế kỷ thứ VII-VIII). Sự kiện này chothấy tính cách khoan dung của nước Ấn trênphương diện tôn giáo.

H.33: Ảnh chi tiết (chụp gần) cho thấyhai bên chiếc ngai là hai vị bồ-tát và hai chân chiếc ngai là hai con sư tử.

Loại bục thứ ba là mộtloại bục hình vuông hay hình tròn gồm nhiều bậc nhỏ dần vào khoảng giữa và sauđó thì nở rộng ra, đó là hình ảnh của ngọn núi Tu Di (Meru, Sumeru) theo vũ trụ quan của Phật Giáo, khái niệm này cũng ảnhhưởng từ nền triết học Ấn Độ. Loại bục hình núi Tu Di rất phổ biến tại các nướcĐông Nam Á Châu và đôi khi tầng cuối cùng của bục còn được biến dạng thành mộttòa sen. Các tầng dưới của bục tượng trưng cho Dục Giới (Kamadhatu), các tầng trên tượng trưng cho Sắc Giới (Rupadhathu) và Vô Sắc Giới (Arupadhatu).

hinhtuong-33

34

ảnhLankapic (Internet)

H.34:Đức Phật nhập vào Đại-bát Niết-bàn. Tích Lan (Polonaruva, thế kỷ XII). Tượngđược tạc thẳng vào một vách đá, dài 14m. Cơ quan UNESCO xếp pho tượng này vào Giatài Văn hóa của Nhân loại. Xin chú ý tai trái và chiếc gối được tạc thật mềm mạivà tự nhiên.

Lờikết

Thoạt nhìn thì bài viếtnày mang phong cách của một bài khảo cứu khoa học hay khảo cổ, thế nhưng thậtra thì bài viết không hề nhắm vào chủ đích đó mà chỉ muốn nêu lên một vài dữ kiệnhay đúng hơn là một khía cạnh nào đó của nghệ thuật Phật Giáo để cùng chia sẻ vớingười đọc một vài điều đáng suy ngẫm. Thật vậy, các nhà khảo cổ và học giả sử dụngcác phương pháp mổ xẻ và phân tích để nghiên cứu và đã mang lại thật nhiều hiểubiết và khám phá mới. Thế nhưng trên một bình diện nào đó thì đấy cũng chỉ lànhững "hiểu biết của sự hiểu biết". Tuy rằng tất cả mọi sự hiểu biếtđều ích lợi nhưng có những thứ hiểu biết thật thiết yếu và những thứ hiểu biết kháckhông mang lại lợi ích gì nhiều, và đấy cũng là những gì khác biệt từ căn bảngiữa sự "hiểu biết" của một nhà khảo cổ và của một người tu tập PhậtGiáo. Một pho tượng Phật đối với nhà khảo cổ thì đơn giản chỉ là một đối tượngdùng để quan sát, mổ xẻ và nghiên cứu, thế nhưng đối với một người tu tập PhậtGiáo thì đấy là một phương tiện giúp khơi động những gì thiêng liêng trong lònghọ, gợi lại cho họ giáo lý của Đức Phật và giúp họ tìm thấy cái bản chất đíchthật của chính mình.

Thật thế nếu càng phântích một hiện tượng thì tính cách nhị nguyên, tức sự phân cách giữa chủ thểquan sát và đối tượng được quan sát lại càng trở nên gay gắt hơn và càng đẩy chủthể ra xa hơn với hiện thực. Tương tự như trường hợp một y sĩ giải phẩu, càng mổxẻ thì người y sĩ càng hiểu rõ hơn từng thớ thịt, từng đường gân, mạch máu cấutạo ra một cơ thể, thế nhưng việc mổ xẻ ấy không giúp gì nhiều cho người y sĩ tìmhiểu một con người trên bình diện tổng quát và sâu xa hơn, tức cái tổng thể kếthợp mọi thứ xung năng và xúc cảm với cái thân thể ấy. Đối với Phật giáo thì conngười là một sự kết hợp của ngũ uẩn, nhưng người y sĩ giải phẩu chỉ nhìn thấycó một uẩn duy nhất là hình tướng. Tương tự như thế, càng phân tích một pho tượngthì nhà khảo cổ càng nhận ra nhiều chi tiết thú vị giúp họ suy ra được tuổi tác,nguồn gốc, ý nghĩa của pho tượng cũng như kỹ thuật và vật liệu làm ra pho tượng,thế nhưng họ lại không thể nào hiểu được tại sao cũng pho tượng ấy lại tạo ra nhữngtác động có thể làm rung chuyển tâm thức của một số người khác, và những rung cảmấy thì nhà khảo cổ không hề cảm nhận được. Tóm lại cách phân tích và mổ xẻ manglại sự hiểu biết cho nhà khảo cổ chỉ là một hình thức cực đoan.

Tuy nhiên một ngườimang sẵn một niềm tin trong lòng, cảm nhận được sự thiêng liêng nơi pho tượng vàcũng rất có thể rơi vào một tình trạng cực đoan nào đó. Thí dụ người này đặtpho tượng lên bàn thờ, thắp hương, cắm hoa, đánh chuông, gõ mõ, cầu xin và tụngniệm liên tục để hướng tất cả sự thành tín cũng như ước vọng của mình vào đó,thế nhưng người này lại bất chấp hiện thực là gì, không cần biết pho tượng làmbằng thạch cao, bằng gỗ hay bằng đồng, có nghe được tiếng chuông, tiếng mõ vànhững lời khấn nguyện của mình hay không, đồng thời cũng không cần tìm hiểu ýnghĩa của những lời Phật dạy, không cần nhìn vào tâm thức mình xem có sự biến cảinào hay không. Đấy cũng là những gì tượng trưng cho một khía cạnh cực đoan theomột chiều hướng khác.

Tất cả mọi thể dạng cựcđoan đều sai lầm và nguy hiểm, do đó Phật Giáo luôn chủ trương con đường TrungĐạo. Cuộc sống vương giả trước kia của Đức Phật nơi cung điện của vua cha là mộtcực đoan, thế nhưng cuộc sống khổ hạnh trong khu rừng Ưu-lâu Tần-loa cũng lạilà một cực đoan khác. Vì thế mà vị Bồ-tát Tất-đạt-đa đã tự ngồi xuống dưới cộiBồ-đề để nhìn vào sự vận hành của tâm thức mình và tìm hiểu bản chất đích thật củahiện thực là gì, và đấy chính là con đường Trung Đạo. Con đường đó không tượngtrưng cho một sự tránh né hay "ba phải", không nghiêng sang bên nàycũng không ngả sang bên kia, không ăn quá ngon cũng không ăn quá dở. Trung Đạo đúnghơn là con đường giúp chúng ta nhìn thẳng vào bản chất đích thật của hiện thực,vượt lên trên bất cứ một thể dạng cực đoan và biến động nào trong bối cảnhchung quanh, và đồng thời nhìn thẳng vào bản chất sâu kín nhất của chính mình, khôngrơi vào những chuyển động của mọi xúc cảm bấn loạn dù đấy là những xúc cảm của hạnhphúc hay khổ đau, những thứ xúc cảm đó luôn tìm cách chi phối để hướng chúng tavào một một xu hướng cực đoan nào đó.

Thiết nghĩ chúng takhông nhìn một pho tượng Phật với con mắt phân tích và vô cảm của một nhà khảocổ, mà cũng không nên nhìn vào pho tượng với những xúc cảm bám víu và cầu xinđang kích động và chi phối chúng ta. Pho tượng chỉ là một phương tiện thiện xảo(upaya) giúp chúng ta nhìn thấy vị Phậtđích thật trong tâm thức của chính mình.

Có một câu chuyện nhỏ tríchtừ một quyển sách của một học giả Phật tử rất trung kiên và khá nổi tiếng ngườiMỹ tên là Jack Kornfield. Trong quyển sách này (Bouddha, Mode d'emploi, nxb Belfond, phát hành tháng 5, 2011, 560trang, ấn bản tiếng Anh: The Wise Heart,nxb Bantam Dell, 2008), lần đầu tiên Jack Kornfield cho biết sơ lược những cơ duyênnào đã đưa ông đến với Phật Giáo.

Tuổi thiếu thời của ôngthật bất hạnh. Cha ông là một người thật hung dữ, có thể nổi khùng bất cứ lúc nào,mẹ ông là một người lo âu, sợ hãi, chịu đựng đủ mọi thứ đớn đau, bốn anh emtrai của ông sống trong một bầu không khí khiếp sợ triền miên, tuy nhiên lúc nàoông cũng thương cha mẹ ông. Ông kể lại là khi ông được sáu hay bảy tuổi, cũngnhư tất cả những đứa trẻ khác, ông thường ước mơ được quay về với cái gia đình đíchthật của chính mình, trong cái gia đình thầm kín đó cha ông là một nhà vua và mẹông là một bà hoàng hậu.

Lớn lên ông học tại đạihọc Dartmouth và thi đỗ bằng cấp đầu tiên chuyên ngành về Á Châu. Thế nhưng sauđó ông bỏ học và xin gia nhập tổ chức thiện nguyện Peace Corps, với điều kiệnduy nhất là được gửi đến một nước Phật giáo. Ông thú nhận là quyết tâm ấy thậtra chỉ là một cách trốn tránh cái khổ đau của cha mẹ ông, và trên một bình diệnrộng lớn hơn thì đấy cũng là một cách giúp ông tránh xa cái chủ nghĩa vật chấtvà những khổ đau của nền văn hóa nước Mỹ - lúc ấy đang vướng vào cuộc chiến ởViệt Nam.

Ông được Peace Corps gửiđi giúp đỡ dân chúng tại các nước dọc theo con sông Mê-kông. Trong khi công tácông nghe người ta nói đến một vị sư Thái Lan tên là Ajhan Chah có nhận người tuhọc Tây phương. Sau nhiều tháng viếng thăm và nghe giảng tại ngôi chùa của vị sưnày tọa lạc trong một khu rừng, Jack Kornfield đã xướng lên trước mặt nhà sưAjhan Chah những lời nguyện quy y. Sau đó ông trở về Mỹ và tiếp tục học để lấybằng tiến sĩ, và hiện nay ông là một nhà tâm lý học trị liệu và quản lý mộttrung tâm dạy thiền Vipassana tại California, (www.jackkornfield.org).

Xin trở lại một câuchuyện nhỏ trong quyển sách của Jack Kornfield như đã nhắc đến trên đây:

"Câu chuyện xảy ra cách nay cũng đã khá lâu trong một ngôi chùa tạikinh đô cũ của Thái Lan là Sukhothai. Trong ngôi chùa này có một pho tượng Phậtrất xưa, thật to, làm bằng đất sét. Thật ra đối với nghệ thuật tạc tượng của TháiLan thì pho tượng này cũng chẳng phải là một tác phẩm đặc sắc hay tinh xảo gì cholắm, thế nhưng dân chúng trong vùng một lòng gìn giữ cẩn thận pho tượng được hơnnăm trăm năm, họ luôn nguyện cầu cho pho tượng được tồn vong mãi mãi. Đã bao lầnbão tố thổi ngang, đã mấy lần quyền bính đổi thay, các đạo quân xâm lược thì tiếpnối nhau cướp phá, thế nhưng pho tượng Phật vẫn còn nguyên vẹn.

Thế rồibỗng một hôm, các vị sư trong chùa nhận thấy pho tượng bị rạn nứt, họ nghĩ rằngđã đến lúc phải trùng tu và sơn lại. Lúc ấy đang vào mùa khô và tiết trời nóngbức, một đường rạn trên pho tượng bỗng nứt rộng ra thành một kẻ hở lớn. Trongchùa có một vị sư khá tò mò lấy đèn rọi vào bên trong. Thật hết sức bất ngờ, từbên trong pho tượng hắt ra một vầng ánh sáng lấp lánh và vàng rực! Các nhà sư trongchùa lúc đó mới khám phá ra là pho tượng Phật bằng đất sét thật bình dị, bất độngtừ năm trăm năm đã cất dấu bên trong một pho tượng Phật khác bằng vàng khối, tuyệtđẹp và to lớn nhất từ trước đến nay chưa hề có, kể cả trong toàn vùng Đông NamÁ. Ngày nay sau khi được gỡ bỏ lớp vỏ ngoài, pho tượng quý giá đó đã thu hútđông đảo người hành hương thành kính kéo về đây từ khắp các nẻo quê hương củanước Thái.

Các vịsư trong chùa nghĩ rằng tác phẩm tuyệt vời ấy sở dĩ còn tồn tại được đến naysau biết bao nhiêu cuộc chiến và hỗn loạn ấy cũng là nhờ vào lớp vỏ che bênngoài bằng thạch cao và đất sét. Tương tự như thế, mỗi con người chúng ta cũngđã từng trải qua những giây phút khốn cùng và những tình huống khổ đau và tất cảnhững thứ đó đã che khuất đi những gì cao cả hơn trong lòng của mỗi chúng ta. Trướcđây dân chúng nơi kinh đô Sukhotai không hề biết đến pho tượng bằng vàng quýgiá ấy, và chính chúng ta cũng thế, nào chúng ta có hay biết gì đâu về bản thểđích thực của chính mình. Thói thường chúng ta chỉ biết nhìn vào cái lớp vỏ chebên ngoài mà hành động để tự bảo vệ lấy mình. Thế nhưng chủ đích chính yếu nhấtcủa tâm lý học Phật Giáo là giúp chúng ta nhìn thấy được những gì bên trong cáilớp vỏ ấy hầu phát lộ lòng nhân từ tự tại nơi mỗi chúng ta, tức là bản thể củaPhật trong lòng của chính mình".

Không có một pho tượngPhật bằng gỗ, bằng đá hay bằng đồng nào, thuộc bất cứ một trường phái tạc tượngnào đã giúp cho Jack Kornfield tìm thấy Đạo Pháp, mà chính là pho tượng bằng vàngròng trong tận cùng của tâm thức ông, đã nắm chặt lấy tay ông mà dẫn ông đến tậnmột ngôi chùa ở Thái Lan để gặp nhà sư Ajahn Chah.

Bures-Sur-Yvette,24.10.11
Hoang Phong

(CÙNG TÁC GIẢ)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn