Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Vào Trong Huyễn Mộng

12/06/201106:57(Xem: 3128)
Vào Trong Huyễn Mộng
phong canh dep
VÀO TRONG HUYỄN MỘNG
Cư sĩ Liên Hoa

Đêm qua, trăng đến muộn
vạn vì sao lao xao
đời người, tâm nở muộn
cơn gió làm lao đao
ai người vào huyễn mộng
hãy ôm lấy mảnh tâm
dù qua bao sóng gió
phong sương chẳng bạc màu

Chiếc áo thời gian đã bào mòn theo năm tháng, với những cơn gió nồng nàn của thăng trầm vinh nhục. chúng ta sẽ ra sao trên cuộc đời nầy, chân bước vào sương khuya ư, để nghe tiếng gió reo, nghe lời thơ cao vút tận trên nền sỏi đá, nghe lại tâm mình trong những lúc cô liêu, có con hạc trắng bay về đâu trên cành hư không, cất lên tiếng gọi, gọi đời sống, gọi con người, gọi tấm lòng, mời gọi đi vào huyễn mộng. Trong hoang vắng của ngày đêm, tâm tình chân chất như có mặt hôm nay, để ta bay bỗng, trên chót vót của đỉnh núi, nằm nghiêng mình nghe sương khuya rơi rụng, những hoang lạnh, những mộng tưởng, những hoang vu hiu hắt đời người, có từng cơn gió kỳ bí, từng hạt bụi thời gian mỏng manh vân du trong vũ trụ, từng hạt vi trần cất lên lời ca tiếng hát, để cho ta bắt lại mầu nhiệm của thưở đã từng nuôi dưỡng mộng đẹp để sống, hát cho cuộc đời mở đầu những bình minh xuân sắc..

Là trăng rơi hay đời là mộng huyễn
là sương chiều, có gió thoảng ngày qua
hỡi trần gian, thơm cỏ lúa vàng màu
tâm cũng đã chất ngất đời hư ảo
vầng trăng tâm chừng bao lần rung khẽ
Khi trăng tàn, ngồi nhìn suốt đêm thâu
bóc mảnh tâm để phô diễn sơn hà
cho ngàn cánh trăng vàng bay rạng rỡ
Hãy cười vang cho ươm nụ sơn khê
lòng lắng đọng bên gánh đường tâm tĩnh
chờ đến lúc càn khôn thôi mộng mị
ta nằm im, nghe gió gọi bao lòng
tìm ánh trăng tâm, lúc rủ áo ra đi
trên vạn nẽo đường xa, gió động
vạn ánh nắng nằm phơi bờ cát mịn
chở vào tâm bao ước nguyện trần sa …

Mảnh trăng vàng vẫn còn đó, dù là ngày đêm, dù là sóng cồn biển rộng. Người lữ khách vẫn đi trên vạn dậm nẻo đường, có gió mát soi đường, có lời ca ngút ngàn trong sâu thẳm của tâm. Một hạt cát, mỗi vì sao, từng cơn gió bụi như mang nụ cười hồn nhiên trong nhật nguyệt, để chúng ta cùng thắp nén hương quay về chánh niệm, bắt gặp vùng trời “ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, vì ngàn trùng vẫn trôi qua, vì pháp giới vẫn là dòng sông êm ả, đưa dẫn bao tâm con người trên bến bờ sanh tử. Lục Tổ nói rằng “ nào ngờ bản tánh vốn thanh tịnh”, sao bao người ngờ ngợ vẫn ra đi tìm, mong tìm dòng suối ngọt bờ môi, nếm mùi hương hoang tưởng. Sóng có là nước hay nước là sóng, nằm trong cuộc ba sinh, hỏi tử sanh bao lối, có thấy chăng dòng hạt kim cương huyền diệu của năm uẩn thưở nào từng bị bóc vỏ giả huyễn hơp duyên, để nêu rõ chân tình, tìm thấy tường tận “bản lai diện mục”

từ thưở nào ta hỏi
phong trần xưa gió lộng
bến bờ muôn năm trước
chở từng hạt vô sinh
ai vóc màu sương gió
để ngàn gió lộng ngôn
trong miền riêng nhìn lại
chân không chợt mỉm cười…

Bàn tay nào chạy trốn, trái tim nào hoang vu, gió nào rung bờ cát tâm cho lay động, dù là Chân tâm vẫn hằng trụ, vô khứ vô lai, vô tận cùng của sự im lặng, nhưng tất cả tất cả là cuộc trùng phùng của nguyện lớn, xé bỏ bờ tâm vọng tưởng, bắt lại ngàn lời thơ của sớm chiều trong sáu chữ Đại minh. Viên ngọc của hoa sen vẫn còn đó, vẫn diệu hiền nở sáng trong tâm, dù người có quên bến về, dù người có mang lời nguyện lớn, dù có tĩnh lặng bên dòng đời nghe tâm bao lần lao xao hay chập chùng sóng gió, dù người có soải mình trên dòng sông định mệnh, lắng nghe hơi thở hắt hiu lúc xuân về, có hoa nở đẹp hay các mùa thay da thịt, cho đất trời thêm xinh đẹp, có tiếng chim vỗ cánh bay xa, vút tận trời không, đoá sen đó vẫn hằng an trú trong tâm.

chiếc y sờn năm tháng
theo người vào gió bụi
hồn nhiên đùa nhật nguyệt
từng lớp ánh trăng vàng
vai mang lượng pháp giới
nghe lại bờ tâm xưa
đời vui buồn có mặt
vẫn trọn tấm lòng son
đường xưa, mây trắng xoá
dòng đời, đá trổ hoa
người vào trong huyễn mộng
tìm lại mảnh trăng xưa ..

Ai đã từng ngồi im lặng suốt miên trường, để hỏi đời là gì, sống là gì, lý tưởng cưu mang là gì và ai là người vấp chân ngả gục trên lưng đồi sương gió, mịt mùng bụi thời gian. Tư tưởng có thể bay nhảy trên vùng đồi hư tịch, im lặng của vô cùng, của dòng sống miên man tràn ngập, dâng tràn trong tâm thức, dù là huyễn mộng.

Chúng ta có thể nắm bắt tư tưởng, xoay chuyển cuộc đời, biến mình theo từng giọt mưa, hạt nắng, kiêu sa trong mộng mị, ngập ngừng trong chiều sâu của mỗi niệm, từng sát na, để thấy, để tập, để tự thắng mình như lời của Huệ Năng “Bồ đề bổn vô thọ
Tâm phi minh kính đài. Bản lai vô nhất vật. Hà xứ nhá trần ai”, nhưng bước chân của người lãng tử vẫn cần lắng lại tâm, chậm rãi nghe như hơi thở của Thần Tú, với: “Thân thị bồ đề thọ. Tâm như minh kính đài. Thời thời thường phất thức. Vật sử nhá trần ai”, người mang nổi tịch liêu, cô đơn trên vùng trời của tâm. Tâm có thể bay cao, vẫy vùng trên dòng sóng của thức, biến chuyển, luân lưu, tuôn chảy, trào dâng, cựa mình, lay động, biến vũ trụ trong hạt trần sa, biến hạt vi trần là cả ba ngàn cõi mộng, vi diệu…”Bờ thẳm buông tay, tự nhận đảm đang, Chết rồi sống lại, dối người chẳng được.(Huyền nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương, Tuyệt hậu tái tô, khi quân bất đắc.) của Tổ Liễu quán. Đây là hố thẳm vực sâu của tâm thức, có thể là bóng cây qua cửa, là sương đậu đầu cành, là huyễn mộng trong huyễn mộng, là sự sống sau khi trải qua cơn chết để hồi sinh, là hiện tại nhiệm mầu, là một trong tất cả hay tất cả là một, như như, như thị, vô ngã, bất sanh bất diệt. Nhưng, đi tìm tâm vẫn là những bước chân trong chánh niệm, để khai mở nguồn sống vi diệu của đời người, của sinh mệnh kỳ bí của mỗi người, trên từng bước chân, để cảm nghiệm, trải nghiệm, sống thực trong “thời thời thường phủi bụi, chớ để vướng trần ai”… để trở về với những căn bản vũng chắc thường tình của Giới, của Định, của Tuệ… Có cần gì phải gấp để đánh mất mình trong hình nhi thượng học hay siêu thực hoặc lao vào chân trời viễn mộng, một chút ánh trăng cũng là ánh trăng, một hạt vi trần cũng là pháp giới … để nếu không, chúng ta sẽ bay cao quá, siêu vượt trong thế giới của tâm, chập chùng trong mộng mị chưa nắm bắt được, trong khi thực chưa đủ tầm vóc đón nhận những chiều sâu vô biên của Chân tâm và một ngày nào đó, cơn sóng vô tình sẽ đưa ta chạm mặt với tất cả dòng sinh mệnh với những băn khoăn, do dự?

Đó là trở về với Chánh Niệm, đưa về nằm an nhiên tự tại với hơi thở trong veo, thanh tịnh, làm cho chúng ta có cái nhìn khác về cuộc đời, khi dẫm chân trên mặt đất của tâm địa, ngay hiện tại, bây giờ với cái tâm trong, nghe tiếng sáo cất lên trong nắng sớm chiều hôm, được mất khen chê, sống chết… chỉ là chuyện thế gian tương đối, thường tình, hằng diễn.

Có phải chăng ai người bước chân trên mảnh đất của tâm, một lần đến, đã cảm nhận, nhận thức được điều kỳ diệu của chân ngôn, thấy được bức màn của sanh tử, để vượt qua, vuợt qua theo nhân duyên “ngộ thì đốn, tu thì tiệm”. Hành trang đi vào trong vô thường để tìm chân thường, biết huyễn mộng vẫn đi vào huyễn mộng, để tìm lại con người chân thật, con người của thảnh thơi, thanh tịnh, hạnh phúc trong cõi đời, mà đã bao năm trong cuộc vong thân, mình quên lãng trong một góc đời của tâm, để mây phủ đầy rong rêu, để bụi bám dày đặc, để ánh trăng tâm nằm ẩn khuất sau những vọng động thường tình …. Thế giới kỳ diệu của huyễn mộng đã có mặt để ta nhìn lại vầng trăng, đúng không?

Này em,
rồi một ngày nào đó
ta bỏ ra đi như cuộc lữ hành muôn thưở
trong dòng đời sanh tử
sanh già bệnh chết
như lẽ vô thường của đời sống
nhưng bên ta, em à
có gánh nhẹ cõi tâm kinh
tự tại, nhẹ nhàng
khi quán lại tâm mình
có lời sáu chữ vẫn rền vang trong các cõi
ngọc đại bi vẫn êm dịu vô cùng
để trở về, trở về
không còn lưu dấu vết
nếu,
em muốn đến cùng ta
trong dòng sóng vô thường
hãy niệm đến lòng từ
hãy gọi đến tình người
hãy tìm lại tâm tình
trong suối ngọt chân tâm
bỏ phấn son giả huyễn
mở trái tim sen
để hương sen ngào ngạt
chất ngất lời từ ái
để nhìn rõ mặt nhau
gương mặt của đức Phật hiền
có trong em,
có trong ta
cuộc đời phải chăng xinh đẹp
êm ái, nhẹ nhàng
trong tình nhân loại bao la
hạnh phúc của người
là hạnh phúc của mình
người con Phật vẫn lắng nghe lời Phật dạy
làm cho cuộc sống màu mỡ, tươi vui
khổ đau không còn có mặt
để nụ cười rạng rỡ trẻ thơ nuôi lớn con người
nước mắt cạn vơi
an bình toả sáng
lòng người nở nhụy hoa sen
có phải đời người
cùng nhau thân phận
biết khổ đau
mong từng hạnh phúc
cùng có nhau trong vũ trụ
mịn màng như từng hạt cát
lăn vào gió bụi
mang hơi ấm tình người
sáng tỏ đời nhau
trong từng hạt bụi
cả pháp giới cùng nhau hiện hữu
tay nắm lấy bàn tay
gói tâm mình trong hành lý Hoa Nghiêm
để cho nhau tâm tình chân chất
nọ lòng từ chia sẻ
kia đưốc tuệ soi đường
cho hạnh phúc luôn ngời ngời rạng sáng
đưa con người vượt thoát khỏi khổ đau
đức Phật mỉm cười
theo từng bước chân của mỗi sinh linh
chỉ rõ nẻo về
có vầng trăng, ôi sao thật đẹp
sáng rực trong tâm
em cùng ta hãy bắt lấy
để trăng soi rõ bờ mê
thấy lối đi về
trong dòng đời huyễn mộng.....

Ghi lại những tâm tình

Sau thời thiền tọa, nhìn thấy hình ảnh Phật cười..

Thành phố Hương Thông ( Houston)
Sáng ngày 10.06.2011
www.lien-hoa.net
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/09/2022(Xem: 577)
Duyên khởi cho bài viết này là từ một bản tin BBC News có nhan đề “Thiền định chánh niệm có thể khiến con người xấu tính đi?”--- và từ một số cuộc nghiên cứu khác đã giúp chúng ta có cái nhìn đa diện hơn về Thiền chánh niệm, một pháp môn nhà Phật đang thịnh hành khắp thế giới. Trong khi Thiền chánh niệm (Mindfulness meditation) lợi ích nhiều vô tận, vẫn có một số bất lợi sinh khởi. Có phải là vì thế gian chưa làm cho phù hợp? Do vậy, người viết đã tìm đọc nhiều hơn, để nhìn lại vấn đề theo nhiều khía cạnh. Và rồi dò theo con đường xưa, Đức Phật đã dạy thiền như thế nào? Kinh điển rất mực mênh mông, bài viết này chỉ là tổng hợp một phần nhỏ, chủ yếu là trích dẫn những lời dạy thực dụng của Đức Phật. Đối với các sai sót có thể có, người viết xin được sám hối.
26/08/2022(Xem: 645)
Sai lầm lớn nhất của con người là cố chấp cái nhìn cục bộ của mình. Thực ra chân lý là pháp phổ biến, không dành riêng cho bất cứ ai. Mỗi người giác ngộ chân lý qua tầm nhìn của mình về chính mình và vạn pháp. Người có tầm nhìn lớn nhất là người thông suốt được tất cả tầm nhìn của nhân loại. Như đức Phật thấy được 62 tà kiến của thế gian. Đừng hiểu tà kiến là thấy sai, cái sai không phải ở thấy mà ở cố chấp cục bộ. Ví dụ như những người mù sờ voi, cho con voi là cái chân, cái bụng, cái lưng, cái ngà, cái đuôi, cái vòi, cái tai, con mắt
25/08/2022(Xem: 657)
Thiền tập CHÁNH NIỆM sẽ giúp cho chúng ta cảm nhận được sự an lạc trong từng giây phút của cuộc sống. Thiền cũng tăng sự tập trung, tăng kỹ năng nhớ, vượt qua áp lực căng thẳng trong đời sống hằng ngày… Thể theo nhiều yêu cầu của các bạn trong và ngoài nước, buổi họp ra mắt lớp Thiền Tập Chánh Niệm và Yoga sẽ được họp qua hệ thống ZOOM. Vào: * Ngày 24 tháng 09, 2022 lúc 6:30pm-8:00pm (Central time/Hoa Kỳ-Tối Thứ 7 tại Hoa Kỳ) *Nhằm ngày 25 tháng 09, 2022 lúc 6:30am-8:00am (sáng Chủ Nhật tại Việt Nam)
07/01/2022(Xem: 1984)
Chứng ngộ không phải là một kết luận mà người ta đạt được bằng suy luận; nó coi thường mọi xác định của trí năng. Những ai đã từng kinh nghiệm điều nầy đều không thể giải thích nó một cách mạch lạc và hợp lý. Một khi người ta cố tình giải thích nó bằng ngôn từ hay cử chỉ, thì nội dung của nó đã bị thương tổn ít nhiều. Vì thế, kẻ sơ cơ không thể vói tới nó bằng những cái hiển hiện bên ngoài, mà những ai đã kinh nghiệm qua một lần chứng ngộ thì thấy rõ ngay những gì thực sự không phải là nó. Kinh nghiệm chứng ngộ do đó luôn luôn mang đặc tính ‘bội lý,’ khó giải, khó truyền. Theo Thiền sư Đại Huệ thì Thiền như là một đống lửa cháy lớn; khi đến gần nhất định sém mặt. Lại nữa, nó như một lưỡi kiếm sắp rút ra khỏi vỏ; một khi rút ra thì nhất định có kẻ mất mạng. Nhưng nếu không rút ra khỏi vỏ, không đến gần lửa thì chẳng hơn gì một cục đá hay một khúc gỗ. Muốn đến nơi thì phải có một cá tính quả quyết và một tinh thần sung mãn. Ở đây chẳng có gợi lên một chút suy luận lạnh lùng hay phân biệt
12/12/2021(Xem: 2004)
Thế Tôn là bậc tuệ tri mọi pháp, bậc y vương, thầy của trời người trong tam giới. Vì thế, Đấng Thiện Thệ trong 45 năm thuyết pháp đã để lại cho thế gian một kho tàng pháp bảo, là những diệu dược tùy theo bệnh (tham sân si) của chúng sanh mà kê toa thích ứng nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, niết bàn. Riêng trong tạng Pali, ngoài tứ niệm xứ, minh sát tuệ, Thế Tôn từ mẫn với trí tuệ toàn giác (tuệ tri mọi pháp) đã 'có nhiều phác đồ điều trị khác nhau trên nền tảng của đạo đế: Bát Chánh Đạo' diệu dụng mà theo đó tùy theo căn cơ (tùy pháp, hành pháp), sẽ đến bờ giải thoát, hoặc bậc hữu học vv.
16/11/2021(Xem: 4046)
01. Niết-bàn 02. Vô minh 03. Giáo lý Vô thường 04. Không có ngã hay Không phải ngã 05. Pháp môn Không phải ngã 06. Định nghĩa của Niệm 07. Giáo dục lòng Từ Bi 08. Tin vào Trái Tim: Giáo lý về Saṁvega & Pasāda 09. Làm sao để hiểu tâm mình? 10. Hoà Giải, Phải & Trái 11. Gốc rễ của chủ nghĩa Lãng mạn Phật giáo * AFFIRMING THE TRUTHS OF THE HEART - BUDDHIST ESSAYS by Thanissaro Bhikkhu CONTENTS 01. The Image of Nirvāṇa 02. Ignorance 03. All About Change 04. No-self or Not-self? 05. The Not-self Strategy 06. Mindfulness Defined 07. Educating Compassion 08. Affirming the Truths of the Heart: The Buddhist Teachings on Saṁvega & Pasāda 09. How to Read Your Own Mind 10. Reconciliation, Right & Wrong 11. The Roots of Buddhist Romanticism
06/11/2021(Xem: 4826)
Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã (40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Đà (80 quyển) . Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Đại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Đức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.
18/06/2021(Xem: 5314)
Tác phẩm này là tuyển tập 7 bài pháp thoại của tôi trong các khóa tu thiền Vipassanā tại chùa Giác Ngộ và một số nơi khác. Kinh văn chính yếu của tác phẩm này dựa vào kinh Tứ niệm xứ thuộc kinh Trung bộ và kinh Đại niệm xứ thuộc kinh Trường bộ vốn là 2 bản văn quan trọng nhất giới thiệu về thiền của đức Phật. Thiền quán hay thiền minh sát (Vipassanā bhāvanā) còn được gọi là thiền tuệ (vipassanāñāṇa). Giá trị của thiền quán là mang lại trí tuệ cho người thực tập thiền. Minh sát (vipassanā) là nhìn thẩm thấu bằng tâm, nhìn mọi sự vật một cách sâu sắc “như chúng đang là”, hạn chế tối đa sự can thiệp ý thức chủ quan vào sự vật được quan sát, khi các giác quan tiếp xúc với đối tượng trần cảnh. Khi các suy luận dù là diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, phân tích… thoát ra khỏi ý thức về chấp ngã chủ quan và chấp ngã khách quan, lúc đó ta có thể nhìn sự vật đúng với bản chất của chúng. Cốt lõi của thiền quán là chính niệm trực tiếp (satimā) và tỉnh giác trực tiếp (sampajāno) với đối tượng
03/04/2021(Xem: 2970)
Trước khi vào nội dung bài viết ta nhắc lại một vài kiến thức của vật lý cấp 2 phổ thông cần thiết cho chủ đề này. Một vài thuật ngữ: Trọng tâm G của một vật: là điểm đặt của trọng lực P tác dụng lên vật đó (P được biểu thị bằng một mũi tên thẳng đứng có chiều hướng xuống dưới). Chân đế: là đa giác lồi nhỏ nhất chứa tất cả các điểm tiếp xúc giữa một vật với mặt phẳng đỡ nó. Chân đế là một hình phẳng, nó cũng có trọng tâm G1, với những hình đặc biệt như hình vuông thì trọng tâm của nó là giao điểm của 2 đường chéo, nếu là hình tam giác thì trọng tâm của nó là giao điểm của 3 đường trung tuyến.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,214,513