Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phật Giáo Trong Một Thế Giới Dân Chủ

17/03/201101:51(Xem: 2599)
Phật Giáo Trong Một Thế Giới Dân Chủ

PHẬT GIÁO TRONG MỘT THẾ GIỚI DÂN CHỦ
Prof. Kurt F. Leidecker
Thích Minh Diệu chuyển ngữ

Phật giáo là một phương cách sống và cũng là một quan điểm. Hai yếu tố này đã tạo thành một đạo Phật độc nhất trên thế gian. Vậy, phương cách sống của Phật giáo là gì và bằng cách nào để Phật giáo hội nhập vào giới hiện đại?

1. Phật giáo không thể tồn tại nếu không có hình ảnh cao thượng của đức Phật. Trước hết, chúng ta hãy khảo xét vấn đề này và tìm vài dẫn chứng cho vấn đề khả thi về phương cách sống mà chúng ta cho là “một quan điểm dân chủ” đã được Đức Phật dạy.

Mặc dù đức Phật được xem như là nhà sáng lập ra “phương thức sống” được chúng ta gọi là Phật giáo, ngài không bao giờ đặt mình vào vị trí nổi bật này. Thay vì, ngài đặt “trí tuệ” mà ngài đạt được vào vị trí cao tột này qua hình thức giáo pháp (tức là lời dạy của đức Phật). Ngài không ép buộc mọi người phải theo ngài. Đối với một vấn đề, ngài khuyên mọi người cũng như ngài nên suy xét trước rồi mới chấp nhận vấn đề đó qua sự thấu hiểu hợp lý. Ngài không có ý định phải thay đổi cá tính của đệ tử. Vì vậy trong Phật giáo, chúng ta thấy quan điểm của Đức Phật về cá tính con người được tôn trọng hơn hết. Dạy và giảng giáo pháp được thực hiện trong đường lối lý tưởng nhất, không có dấu vết giáo điều, không có tình trạng ép buộc. Nếu đệ tử muốn trình bày điều gì, vị ấy được đề nghị phải giữ tâm mình trong trạng thái hoàn toàn trung thực. Đây là lối giáo dục mà chúng ta đã có từ lâu. Giáo dục là sự phát triển tâm thức và tính cách. Điều này cũng giống như một mảnh vườn thì cần có người chăm xóc, còn đệ tử thì cần có thầy hướng dẫn. Người làm vườn phải cuốc đất, làm cỏ và tưới nước. Hoa màu thu được tùy thuộc vào phẩm chất hiện hữu của cây trồng. Chúng ta thấy nền tảng của lối giáo dục này đã có mặt trong xã hội dân chủ và sau này nó được gọi là giáo dục cải cách. Hơn nữa, chúng ta còn biết rằng các nền tảng giáo dục này đã hiện hữu từ xa xưa và đã được các vị tôn sư ứng dụng đến nó. Vì thế, đức Phật tránh việc đề cập đến cá nhân mà ngài chỉ đặt sự lưu tâm vào giáo pháp (phương pháp giáo dục).Ngài thiết kế giáo pháp như những dấu chỉ đường, bằng cách này giáo pháp sẽ được mọi người quan tâm đến hoặc làm ngơ đi, chính nhờ cách này mà lần lượt nhiều người tìm ra được lối đi hơn là những người bị lạc lối. Không có cách nào tốt hơn là đọc để hiểu thông tin trước rồi thực hiện theo chỉ dẫn đó để thu hoạch kết quả lợi ích cho mình. Tất nhiên, đức Phật cũng làm như vậy cho lợi lạc chính mình. Cũng như vậy, bốn chân lý chắc thật được chấp nhận hay từ chối tùy vào lựa chọn mỗi người. Bát chánh đạo cũng được tuyên thuyết một cách khách quan. Ở đây có thể nói rằng Bát Chánh Đạo hoàn toàn trung lập đối với vị tuyên thuyết về nó.

Qua việc này cho thấy rằng đức Phật tránh việc tôn thờ cá nhân, trong các thế kỷ đầu lịch sử Phật giáo những biểu tượng ám chỉ về đức Phật được biểu hiện như bánh xe pháp, trụ đá, cây bồ đề, thiền tòa; vì thế các biểu tượng đã trở thành vật tượng trưng cho đức Phật cũng như quan điểm được ngài thuyết giảng. Vì vậy, đức Phật là một vị lãnh đạo trong ý nghĩa ngài là vị đã khám phá ra con đường, sự khám phá này bất cứ ai cũng có thể làm được một khi người ấy được truyền trao đầy đủ các dữ kiện. Vai trò lãnh đạo của ngài xuyên suốt không gián đoạn và ngài thật sự là một vị lãnh đạo đáng tôn kính. Ngài không cỡi trên lưng ngựa để thể hiện mệnh lệnh hoặc dọa dẫm, mà ngài ngồi, đứng hoặc đi bộ bằng những biểu hiện của người nhắc nhở, dạy dỗ, biểu hiện tình thương cao thượng và được chiếu sáng từ trí tuệ nội tại.

2. Người Á châu có tinh thần tôn Sư trọng đạo. Vì vậy, sự tôn kính cho thấy rằng kiến thức và trí tuệ có giá trị siêu việt hơn danh vọng và vật chất. Vì mục đích tầm cầu kiến thức thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ quê hương; vì mục đích mở thông trí tuệ thái tử đã thành tựu, các cấp độ trí tuệ giải thoát trong tiến trình tu tập, rồi lại từ bỏ tất cả. Một cách thực tập mà các bậc cha mẹ ở Thái Lan khuyên con mình trải qua ít nhất 3 tháng thực tập như đức Phật trong cuộc đời của chúng đó là: từ bỏ dục lạc, giàu sang và tất cả những cám dỗ, để khoát lên mình tấm y vàng. Nhờ vậy, khi trở lại đời sống thế tục,ít nhất một lần trong đời người con lãnh hội được một kinh nghiệm về lối sống giản dị, khiêm tốn là điều kiện phát sinh trí tuệ và tuệ giác ly tham mặc dù họ chưa hoàn toàn giác ngộ.

Sự tôn kính đức Phật thể hiện trong các biểu hiện bằng hình tượng của ngài chứ không phải qua việc thờ cúng. Tôn kính đặc tính vĩ đại của vị thầy, vì ngài đã khám phá để thành tựu đạo quả tối thượng, nhưng ngài không hề trốn tránh thế giới khổ đau để hưởng thụ giải thoát cho riêng mình mà ngài cống hiến không mỏi mệt để truyền đạt trí tuệ do ngài đạt được thành những lời dạy giảng dị, hướng dẫn qua nhiều phương cách và tiến trình để cho tất cả chúng sanh từ bình dân đến trí thức đều có thể hiểu được.Quan điểm này không chứa đựng tư tưởng vị kỷ mà là tư tưởng xã hội trong ý nghĩa cao nhất. Ngay cả trong trạng thái an lạc không thể nghĩ bàn của Niết- bàn, đức Phật hướng tâm về chúng sanh với lòng từ bi vô hạn. Chính vì tính cách này mà các Phật tử tôn kính Đức thế tôn, với đôi mắt hiền từ khép lại và nụ cười thanh thoát trên khuôn mặt của ngài. Ngài là bậc chiến thắng, không phải chiến thắng kẻ thù mà đã chiến thắng cái gọi là các yếu tố nền tảng để hình thành bản chất con người, đã thu hút người Phật tử qui ngưỡng về Tam Bảo. Chúng sinh cúi lạy ngài không phải vì sự hào nhoáng vinh quang của Thái Tử Tất Đạt Đa mà vì ngài đã chứng vô thượng giải thoát dưới cội bồ đề, là kho tàng của trí tuệ. Các yếu tố dẫn đến một đời sống có trí tuệ và một phong thái bình an đều là những phát minh (của Đức Phật). Nhờ những phát minh này mà những người Phật tử cần cống hiến khả năng của mình vào việc xây dựng một lối sống dân chủ.

3. Địa vị và danh vọng không được đệ tử đức Phật tôn kính ở cấp độ cao tột như trí tuệ. Giáo lý nhà Phật có nhấn mạnh đến khái niệm về tính cao thượng. Không chỉ Bốn Chân Lý chắc thật và Tám Con Đường Chân chánh dẫn đến Niết bàn cao thượng; mà sự cao thượng thật sự chính là “người” thực hành theo Tám con đường chơn chánh. Hay nói cách khác, cuộc đời mà bạn hướng đến, tư tưởng mà bạn nghĩ đến sẽ làm cho bạn cao thượng, chứ không phải y phục bạn mặc, hoặc tên tuổi và địa vị bạn nắm giữ làm bạn cao thượng. Các vị xuất gia là các vị thánh cao thượng hay Tăng đoàn của các vị thanh cao.

Tất cả những điều đã trình bày cho chúng ta thấy rằng trong Phật giáo giá trị chân thật được chuyển đổi từ hình thức vật chất và thế gian sang hình thức tâm linh, tinh thần nhưng không hề bài bác về của cải và tài năng như một sự xấu xa tội lỗi. Vì vậy, điều được công nhận là những thứ này (của cải, tài năng) vẫn còn có giá trị cần thiết cho đến khi nào chúng ta thành tựu trí tuệ tối thượng. Vương vị và danh vọng đều được thế gian chấp nhận; nhưng chân lý cao thượng không có sự sự tồn tại của những thứ này.

Đức thế tôn giao thiệp với mọi người, ngay cả với những người hạ đẳng và ngài không hề hối tiếc về việc từ bỏ giai cấp quí tộc của mình. Thực vậy, ngài đã nhận ra một nghĩa lý đó là: “giai cấp” là biểu hiện của sự phân chia của con người trong xã hội qua nghề nghiệp.

Ngài đồng ý có vua, có giáo sĩ Bà la Môn trong một quốc gia (Ấn Độ cổ đại). Ngài thừa nhận có sự bất công trong xã hội vì ngài biết rằng sự công bằng chân thật không bao giờ có mặt ở thế giới hiện tượng này. Một Bà la Môn chân chính, một minh quân không phải biểu hiện bề ngoài mà phải có giá trị thực sự từ bên trong đó là tư tưởng và tính cách cao thượng.

Vì vậy, đức Phật không phải là nhà cải cách, phần nhỏ nào đó ngài là nhà cách mạng qua đánh giá của các học giả Tây phương thường gán cho ngài như vậy. Ngài còn bị gán cho là có tư tưởng muốn thiết lập lại xã hội Ấn giáo và xóa bỏ giai cấp. Nếu như, hệ quả về lời dạy của ngài, sự giải phóng khỏi các giới hạn ép buộc trong xã hội Ấn giáo đã xảy ra, thì đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Một trong những nhận định sai lầm cho rằng đức Phật đã phát động cải cách xã hội. Mục tiêu của ngài là sự giác ngộ và đoạn trừ phiền não và khổ đau bất cứ nơi nào nó có mặt chứ không phải giải thoát đau khổ cho những người ở giai cấp thấp trong xã hội. Điều đức Phật quan tâm đến là bản chất và nguyên lý của khổ và chết chứ không phải quan tâm đến những nỗi khổ vì những xa đọa và bất công trong xã hội.

Thực ra, trong lời dạy của ngài đức Phật đã khéo léo biện minh để hóa giải những xung đột giai cấp trong xã hội.Phương châm của ngài là hòa bình. Hòa bình không nhất thiết phải thay đổi quyền lực mà phải thiết lập lối suy nghĩ của mình dẫn đến sự giải thoát, hòa bình không thể đạt được chỉ hoàn toàn nhờ vào các phương tiện bên ngoài. Chính sự cải thiện tinh thần từ bên trong rồi sau đó mới biểu hiện ra ngoài qua những hành vi đạo đức. Chúng ta không thể làm những việc tốt mà không có một quan điểm hoặc khái niệm về điều thiện.

4. Một trong những nền tảng được chấp nhận trong một xã hội dân chủ đó là: nó phải được thiết lập và nên được thiết lập qua tính đa dạng của các cá nhân và tính cách của mỗi cá nhân phải được bảo vệ. Đây cũng là ý nghĩa nền tảng của dân chủ và cũng là sự quan tâm của Phật giáo. Trong Kinh Mi Tiên Vấn Đáp (Milindapanna Sutta) có dạy rằng: “ví như các loại cây cỏ có sự khác nhau là tùy theo tính chất hạt giống của chúng, cũng vậy tính cách và thân phận của mỗi người khác nhau là do các việc làm của họ khác nhau rồi dẫn đến kết quả tương ứng khác nhau.” Đây là giáo lý về nghiệp (kamma: hành động), giáo lý này phổ biến rộng rãi trong tư tưởng Ấn độ. Một người trở nên tốt qua việc làm tốt và trở nên xấu do việc làm xấu. Người Phương Tây bảo đây là giáo lý về trách nhiệm cá nhân. Có một sự khác biệt là Phật giáo cho rằng: đời sống hiện tại của một cá nhân là kết quả của quả khứ và còn ảnh hưởng đến tương lai của cá nhân đó. Tuy nhiên, nội dung then chốt thì tương đồng với nhau. Mỗi cá nhân phải có trách nhiệm toàn bộ những tư duy và hành động của mình, ngược lại bất cứ việc làm sai lầm nào của một cá nhân đều có thể sám hối để sửa đổi và luật pháp sẽ vô hiệu hóa tội lỗi ấy. Xã hội sẽ thay đổi, cũng như thiên nhiên chịu sự chi phối của qui luật nhân quả cho quá trình tồn tại của nó từ quá khứ cho đến tương lai, nhưng không phải tất cả đều phải chịu sự chi phối của qui luật này.

Trong xã hội dân chủ không phải mọi người đều hoàn hảo. Trong tự, qua giao thiệp với đồng loại con người phát triển quan điểm niềm tin về nghiệp báo. Chính quan điểm này, Phật giáo cho rằng: một người có thể và phải hoàn hảo qua thể hiện thiện nghiệp (hành vi tốt) của anh ta. Vâng, có nghiệp quốc gia, và mọi người thuộc các cộng đồng trong quốc gia tin nhận điều này. Chúng ta là những người thừa tự tội lỗi cũng như đạo đức của tổ tiên để lại.

5. Theo lý thuyết về nghiệp thì mỗi cá nhân tự do thực hiện các quyết định của mình. Theo quan điểm của đức Phật một cá nhân nào đó muốn hướng đến giải thoát (vimukti) và Niết-bàn (nibbana) thì chính cá nhân đó phải quan tâm đến con đường giải thoát và Niết bàn.Vì vậy, đức Phật muốn ám chỉ rằng: trong xã hội cũng cần phải có các điều kiện cần thiết cho việc chứng đạt Niết-bàn. Hay nói cách khác, tự do phải được bảo hành ở đời này.

Thực vậy, tự do chính là huyết mạch của tôn giáo, trong bất cứ hình thức tôn giáo nào tựu trung chỉ có một khuynh hướng là tìm đến tự do. Bất kỳ xã hội nào tôn thờ tính ngưỡng về học thuyết định mệnh thì kết quả sẽ nhốt kín con người vào một thế giới tư tưởng và hành động ở đó con người không còn hoạt động tự do nữa, và tự do không thể thực hiện bằng nổ lực của mỗi cá nhân.

6. Chính Emerson, một người Mỹ, đã phát biểu rằng: “văn minh y cứ vào đạo đức”. Với quan điểm này, mọi Phật tử sẽ đồng ý rằng giới là nền tảng đối với đời sống con người. Chánh ngữ (sammavaca), chánh mạng (sammakammanta) và chánh nghiệp (sammaajiva) là ba yếu tố quan trọng (thuộc về giới) trong Bát Chánh Đạo, nếu chúng bị phá hoại, ví dụ: nếu sự chân thật và tôn trọng trong ngôn ngữ là chất liệu liên kết trong các mối quan hệ của con người không còn giữ gìn nữa, nếu không có ngôn ngữ thì con người không còn là người nữa, xã hội sẽ tan hoại và văn minh sẽ sụp đổ. Tương tự như vậy là sự thực hành hạnh chân thật bằng thân hành trong cư xử; cư xử trong xã hội, nếu chúng ta làm tổn hại đồng loại qua việc làm của thân (thể), hoặc lấy cắp những gì không phải sở hữu của chúng ta, hoặc chúng ta tham gia vào các hoạt động không mang lại hài hòa và hạnh phúc cho đồng loại.

Chúng ta đánh giá cao các nước Tây phương về mặt đạo đức và những quốc gia theo thể chế dân chủ và tôn thờ tinh thần tự do được bao hàm trong thành ngữ “sữa của những người rộng lượng”. Tương tự trong Phật giáo, cả hai giới: xuất gia và tại gia được khuyến khích để hướng đến và làm cho mọi người sống trong “các cảnh giới cao thượng” đó là Từ, Bi, Hỷ và Xả.

Từ (Metta`) là tấm lòng tốt và tình bạn tốt, với lòng từ một Phật tử chân chánh sẽ làm cho nó thấm nhuần khắp mọi nơi. Tương tự đối với Bi (karuna`), thương yêu tất cả chúng sanh, vì chúng sanh là thừa tự các phiền não và khổ đau của ác nghiệp. Một số học giả chưa đồng ý về nội dung của Hỷ (mudita`). Họ gọi nó là tình thương vô cầu, như thể tình thương luôn ban ra mà không mong sự báo đáp. Có lẽ sự cảm thông “sympathy” là từ Anh ngữ tương đương. Xả (Uppekkha`) được chuyển nghĩa như “trạng thái thờ ơ đối với các dục lạc hoặc là sự lãnh đạm đối với các dục lạc”; nhưng: “trạng thái thanh thản” có lẽ là sự phiên dịch chính xác.

7. Một xã hội chủ trương quan điểm tự do hơn là sự đàn áp và ngăn cấm, một tôn giáo cho phép mọi người thực tập không giới hạn thì tự nó sẽ hoàn hảo, và chắc chắn sự cảm thông sẽ được hiển bày. Có hai loại cảm thông, một là cảm thông với người không tôn giáo và hai là hết lòng quan tâm đến cái gọi là không chính giáo mặc dù không tán thành về nó. Quyền bất đồng quan điểm được bảo vệ trong tất cả các quốc gia dân chủ. Vì, con người phải hiểu rằng: chân lý tối thượng không thuộc sở hữu của riêng ai, con người chỉ dò dẫm được nó (chân lý) qua khía cạnh khái niệm, tuy nhiên bao lâu con người còn bị giới hạn những hiểu biết của mình thì chân lý tối thượng vẫn vững tồn.

Quyền tương tự như vậy được đề cập trong tư tưởng Phật giáo. Vì, thực tại tối hậu (Niết-bàn) không thể định nghĩa hoặc trình bày.Vì vậy, nếu bạn hoặc tôi khởi hành tìm đến nó chúng ta phải tìm bằng kiến thức và nỗ lực của chính mình. Nếu đạo đức mà phải tranh đấu bởi vì có sự khác biệt là điều không hợp lý.

8. Tôi nghĩ, kết luận bây giờ hơi sớm về vị trí của Phật giáo trong thế giới dân chủ. Vị trí của Phật giáo được xác định chắc chắn ở đó. Phật giáo ắt hẳn cống hiến lớn cho tình thương và tự do, được thực hành một cách dân chủ ở các quốc gia và còn là niềm tự hào của họ.Khi nào lời dạy của đức Phật còn hành trì thì đời sống của người Phật tử vẫn còn an vui và ổn định. Kẻ thù trước mặt dễ nhận ra, nhưng ý tưởng để khắc phục kẻ thù thì thật sự rất tinh vi. Vì vậy, cách hay nhất trong xây dựng nền tảng để khắc chế kẻ thù không chỉ bằng thực hành mà còn phải hiểu biết về triết lý Phật giáo nữa. Khi chúng ta nói “chánh” nghiệp, “chánh” tư duy, “chánh” tinh tấn có nghĩa là chúng được thực hành hoàn hảo chứ không phải chỉ hiểu đúng thôi. Nhưng không phải bằng trực giác, bằng thói quen mà có thể làm đúng hoặc làm hoàn hảo công việc. Cần phải suy tư đến vấn đề: “thế nào là “đúng””.

PHẬT GIÁO VÀ VẤN ĐỀ DÂN CHỦ
Tác giả: Giáo Sư Kurt F. Leiderker
(dịch từ Bodhi Leaves No. B 17)
Hội in ấn kinh sách Phật giáo, Kandy 1973, Tích Lan.
Xuất bản lần thứ nhất (1961) 5000 bản
Xuất bản lần thứ hai (1973) 3000 bản
Người Dịch: Minh Diệu
Email: thichminhdieu@gmail.com
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/07/2022(Xem: 3511)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 3500)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
01/02/2022(Xem: 4032)
Với sự xuất hiện của virus SARS-CoV2 ở Vũ Hán - Trung quốc cuối năm 2019, và tiếp theo sau là sự lây lan rộng khắp thành một đại dịch toàn cầu, các tổ chức Phật giáo đã ra tay hành động khắp nơi trên thế giới. Đáp ứng của Phật giáo rất đa dạng, phản ảnh sự khác biệt giữa các tông phái và các nền văn hóa, tuy nhiên họ đã hội tụ quanh những chủ đề chung theo những tiền lệ đã được ghi sâu trong lịch sử. Một ví dụ về sáng kiến gần đây là dự án “ Làm Phẳng Đường Cong” do Hội Từ Tế ( Tzu Chi Foundation ) Chi Nhánh Hoa Kỳ công bố - đây là một Tổ chức nhân đạo Phật giáo khổng lồ đặt trụ sở trung ương tại Đài-loan, có trên 10 triệu hội viên và 45 chi nhánh khắp thế giới. Trong một thông cáo báo chí vào đầu tháng 4 , Hội Từ Tế Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ sẽ phân phối hằng triệu khẩu trang và dụng cụ y tế cho các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu, và khởi động một chương trình hỗ trợ cho những người chịu tác động của đại dịch về mặt kinh tế xã hội. Những sáng kiến ấy ở Hoa kỳ bổ sung cho
01/02/2022(Xem: 21078)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)
01/02/2022(Xem: 15417)
Nằm trong khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) 2014 tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 vừa qua, chương trình trò chuyện với các nhân vật nổi tiếng không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, có quan điểm về một cuộc sống hạnh phúc mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền bạc và quyền lực cũng đã diễn ra.
24/12/2021(Xem: 2197)
Việc thẳng tiến bước trên con đường đạo lý thanh cao hầu đạt đến chân lý hạnh phúc chẳng khác nào bơi ngược dòng đời là một vấn đề xuyên suốt quá trình phát triển của nhân loại. Sự tác động lẫn nhau giữa thiện và ác, chính và tà định hình số phận của các cá nhân và xã hội theo các chu kỳ, có thể biết được và không nhìn thấy. Các vị triết gia và nhà tư tưởng đã cân nhắc không chỉ điều gì tạo nên những chất đạo đức thanh cao mà còn cả những trợ duyên tác động nó. Đạo đức nhân văn là ngành học nghiên cứu các nguyên tắc đạo đức chi phối hành vi hoặc cách cư xử của mỗi cá nhân, và nó cũng là mảng kiến thức liên quan đến các nguyên tắc đạo đức.
05/12/2021(Xem: 2279)
Khi đặt lợi ích của người khác lên hàng đầu, chúng ta thiết lập các kết nối sâu sắc, và giúp những người xung quanh tránh bị kiệt sức.
17/11/2021(Xem: 10212)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 8537)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 5992)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,435,736