Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Hướng Tới Một Nền Văn Hóa Tỉnh Thức

27/12/201004:01(Xem: 2916)
Hướng Tới Một Nền Văn Hóa Tỉnh Thức


stephenbatchelor_1HƯỚNG TỚI MỘT NỀN VĂN HÓA TỈNH THỨC
Towards a Culture of Awakening

Tác giả: Stephen Batchelor trả lời phỏng vấn của Wes Nisker
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 02/12/2010

NISKER: Vào cuối quyển sách của ông, Sự Tỉnh Thức của Phương Tây, ông đã trích dẫn lời của Thiền Sư Nhất- Hạnh nói rằng “hình thức của Đạo Phật phải thay đổi nhưng căn bản vẫn duy trì.” Sau khi theo dấu Phật Pháp qua nhiều quốc độ và sự hiện thân của Đạo Phật, điều gì ông tin tưởng là cốt lõi của Đạo Phật?

BATCHELOR: Đây là một câu hỏi mà tôi đã từng tự hỏi mình lâu lắm rồi, và một cách thành thật, tôi không thể nói rằng tôi biết câu trả lời. Một trong những điều đã xãy ra cho tôi trong việc sáng tác quyển sách này là tôi đã phải mở rộng ranh giới của nhừng gì tôi đã bao hàm như “thuộc về Đạo Phật”. Như một kết quả tôi thấy thậm chí khó khăn hơn để định nghĩa “Đạo Phật”. Trong một ý nghĩa câu hỏi là quá Tây phương, sự tiếp cận duy lý đến chủ đề. “Đạo Phật là gì?” Câu hỏi tự nó là đáng ngờ.

Đặt điều ấy qua một bên, tôi sẽ mạo hiểm nói rằng cốt lõi đã thống nhất tất cả những truyền thống của Đạo Phật là ý tưởng tự do hay giải thoát. Một cách đặc biệt, tự do khỏi nguyên nhân của khổ đau là: tham lam, thù hận, và vọng tưởng. Trong khi điều này thường được định nghĩa như sự giải thoát “nội tại” hay tâm linh, nó cũng là những hình thức căn bản của một sự tự do “ngoại tại” hay văn hóa.

Tiến dần lên, tôi thấy Đạo Phật là một nền văn hóa: một hệ thống phong phú, kết hợp những giá trị và thực hành đã hình thành nên mọi khía cạnh của đời sống con người. Thí dụ, Phật Giáo Nguyên Thủy – Theravada - diễn tả thế giới như một câu chuyện buồn thảm, trong ấy thế gian được thấy từ khía cạnh khổ đau; trái lại Kim Cương Thừa diễn tả thế giới rực rở và xinh đẹp, đấy là nó được thấy từ nhận thức tự do hay giải thoát. Tất cả những nhận thức khác biệt này cùng với nhau cho phát khởi đến những gì chúng ta có thể gọi một cách tuyệt hảo nhất là một nền “văn hóa.”

Vì mỗi truyền thống Phật Giáo Á châu có khuynh hướng nhìn một khái niệm của Pháp Bảo như là chân lý, hay đúng hơn những tông phái khác, chúng ta phải tranh cải ồn ào quanh vấn đề giáo huấn cao nhất là gì, giáo lý thuần khiết nhất là gì, và v.v… Tôi không nghĩ rằng điều ấy sẽ xãy ra quá nhiều ở phương Tây, bởi vì chúng ta đang thâm nhập vào mọi truyền thống cùng một lúc: Theravada, Tây Tạng, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Pháp Hoa Tông (Nhật Bản). Quan điểm của bất cứ truyền thống nào vừa kể trên theo ý tôi là luôn luôn cục bộ bởi vì nó đang nhìn thế giới từ một quan niệm. Thử thách ở phương Tây theo tôi là: hãy tìm ra một sự hợp tác giữa tất cả những quan điểm ấy. Để làm điều này sẽ liên hệ đến việc hành động đối với một định nghĩa về nền văn hóa Phật Giáo, mà điều ấy sẽ tôn trọng, ngay cả hoan hỉ tiếp nhận những khác biệt trong khi cung ứng một tổng quan mạch lạc.

NISKER: Điều mà quyển sách của ông đã làm rõ ràng là Đạo Phật đã được định hình bằng những nền văn hóa quốc gia khác biệt phát khởi từ những thời điểm đặc thù trong lịch sử của nó.

BATCHELOR: Hoàn toàn đúng. Mỗi hình thức của Đạo Phật là một thí dụ của sự đồng sinh khởi tùy thuộc lịch sử. Kém may mắn thay, hầu hết những trung tâm Phật Pháp và tu tập thiền quán không dạy về lịch sử Phật Giáo. Những truyền thống khác nhau thường mù tịt về lịch sử phát triển của của chính họ, và do thế không thấu rõ về việc những nền văn hóa quốc gia khác biệt đã từng hổ trợ việc định hình cho sự thông hiểu và thực hành Phật Pháp hiện tại. Tôi hy vọng rằng Đạo Phật của thế giới hiện đại sẽ thúc đẩy với ý thức lịch sử hơn, và do vậy sẽ bao dung hơn với những khác biệt.

NISKER: Trong kinh điển Pali, Đức Phật lịch sử dường như thường thuyết giảng cho một tầng lớp đặc thù, đáng chú ý là “Thiện nam tử và thiện nữ nhân”. Có lẽ những tín đồ ban sơ của Đức Phật tương đồng đẳng cấp xã hội là những người có trình độ học vấn cao cấp và hầu hết là giới trung lưu là những người đang tiếp nhận Đạo Phật ở phương Tây.

BATCHELOR: Vâng, tôi nghĩ điều ấy là đúng. Chúng ta có thể tưởng tượng Đức Phật, trong thời đại của Ngài có một vị thế và thẩm quyền tương tự như một khôi nguyên Nobel vật lý trong nền văn hóa ngày nay. Ngài là một người nào đấy đã hoàn thành đức hạnh trọn vẹn và trở nên xứng đáng với một sự tôn kính bậc nhất. Chúng ta phải nhớ rằng Đức Phật đang được nói trong phạm vi của một nền văn hóa đã hổ trợ và quý trọng sự thân chứng tâm linh như hình thức cao nhất của sự thành đạt. Ở phương Tây, chúng ta có một hình thức khác biệt hơn về giá trị văn hóa mà nó đã định nghĩa những gì đáng được tôn trọng.

Một cách lịch sử nó luôn luôn là trường hợp mà Giáo Pháp đã thâm nhập vào một xã hội đầu tiên qua việc đạt được sự chấp nhận bởi một thiểu số thông suốt, và qua những người ấy Phật Pháp được truyền bá rộng rãi khắp toàn bộ nền văn hóa. Trong thời đại của Đức Phật, thiểu số này là những sa môn – tu sĩ du phương – những người buông xả một cách có hiệu quả – những người tìm kiếm một lối sống khác qua sự cúng dường của những người đương thời. Điều này cũng giống như ở Trung Hoa: những người ban đầu tìm đến Đạo Phật là những trí thức bất mãn và những đạo sĩ Lão Giáo. Không phải ngẫu nhiên mà những người như thế đó trong chúng ta liên hệ đến Đạo Phật ở phương Tây có khuynh hướng được sản sinh từ phong trào văn hóa những năm 1960 [1], trí thức, nghệ sĩ, những người bảo vệ môi trường (eco-nuts) và v.v…

NISKER: Ông có thấy hiếu kỳ rằng hầu hết những tư tưởng và triết gia lớn của thế giới Tây phương đã hoặc là không quan tâm đến hay gạt bỏ tư tưởng và sự thực tập của Đạo Phật hay không?

BATCHELOR: Hầu hết những tư tưởng gia Tây phương vẫn bị kẹt trong tư tưởng hạn hẹp của Âu châu. Họ dường như chắc chắn rằng triết học phải có nguồn gốc từ Plato [2] và là hoạt động riêng của phương Tây. Ngay cả những người như Nietzsche [3]khi bắt đầu đặt vấn đề triết học Tây phương, đã không quay sang phương Đông để tìm những nguồn gốc khác về thẩm tra triết học thay vì thế lại quay ngược trở lại lịch sử phương Tây, thời trước Socrate. Camus và Sartre [4], những người được xem là sáng chói, đã chỉ thật sự chói sáng trong giới hạn của những kiểu mẫu Tây phương.

Thật kỳ lạ đối với tôi rằng ngay cả hôm nay, Đạo Phật đã thất bại trong việc gây sự chú ý trong vòng xoay triết học Tây phương. Một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng nhất hiện tại, , Michel Foucault [5], đã đi thẳng vào lĩnh địa của Phật Giáo với nhiều ý tưởng của ông ta, tuy thế ông chưa bao giờ thực hiện một liên hệ nào với Phật Giáo. Giống như thế đối với Richard Rorty [6], một trong những nhà tư tưởng quan trọng nhất của Hoa Kỳ đương thời, quyển sách của ông ‘Ngẫu Nhiên, Mỉa Mai và Liên Kết’ đọc từng phần gần như là một kinh luận Phật Giáo. Thí dụ, sự phân tích của ông ta về ngẫu nhiên của tự ngã, là một sự phân tích thuần Đạo Phật, nhưng ông thậm chí chưa bao giờ đề cập đến Phật Giáo.

Những gì triết học Tây phương thiếu sót và Đạo Phật cung cấp là một hệ thống của tập quán. Phật Giáo không chỉ là những ý tưởng triết lý, tin tức và lý thuyết. Phật Giáo cung ứng những phương cách có hệ thống về nhận thức và hợp thành một thể thống nhất những quan điểm và những ý tưởng vào trong đời sống của chính chúng ta, chuyển hóa một cách thật sự cung cách chúng ta trãi nghiệm thế giới. Đấy là những gì thật sự phân biệt Đạo Phật và triết lý Tây phương.

NISKER: Ở phương Tây, tập quán duy nhất dường như là suy nghĩ hơn nữa. Hãy nghĩ phương cách thoát ra vấn nạn này của chúng ta, chúng ta nghĩ ra cho chính chúng ta.

BATCHELOR: Vâng, đấy là một sự vận động vô ích. Tôi cũng thấy đúng là kỳ lạ khi tôi gặp những hội viên học viện hay viện sĩ Tây phương và khám phá rằng đời sống của họ dường như tách rời thế nào ấy với việc làm như một triết gia. Nói một cách tổng quát, ông không thấy một sự cách biệt xa xôi như vậy khi ông gặp những Lạt Ma Tây Tạng hay những Thiền Sư (Zen).

Về măt khác, tôi nghĩ có một xu hướng sai lầm ở phương Tây khi thấy Đạo Phật như chống lại tri thức. Giáo Pháp được quan tâm như một sự lên án về lý trí của Rousseau cùng một sự gia tăng cảm nhận và trực giác đến một loại thể trạng lý tưởng nào đấy. Người ta tiếp cận Giáo Pháp như một chủ nghĩa lạc quan hồi sinh (hay chủ nghĩa lãng mạn trổi dậy), như một cung cách để quay trở lại tiếp xúc với cảm giác của họ. Người ta sai lầm với sự vượt ngoài những giới hạn của suy nghĩ với sự từ bỏ suy tư – và đơn giản rơi vào sự suy tưởng tùy tiện. Thật sự, Đạo Phật có một nền văn hóa rất cẩn trọng về lý trí. Chỉ đọc những đối thoại trong kinh điển Pali – Đức Phật chắc chắn không là một loại tân thời đại, nhấn mạnh sự gần gũi thân thể và cởi mở cảm xúc. Chúng ta phải nhớ rằng Tám Con Đường Thánh bắt đầu với Chính kiến (sự thấu hiểu đúng đắn), một quan điểm lý trí thận trọng về thực tại. Đức Phật không bắt đầu với thiền tập và chính niệm; bước đầu tiên là để tìm một sự thấu hiểu tri thức mạch lạc về nguyên nhân của đau khổ (khổ đế) và con đường đến giải thoát (đạo đế).

NISKER: Đạo Phật có thể không thâm nhập triết học Tây phương, nhưng dường như nó có một tác động trên tâm lý học Tây phương. Có lẽ tâm lý học là là nơi mà qua điểm ấy những quan điểm và sự thực hành của Đạo Phật sẽ tìm thấy con đường thâm nhập vào dòng chảy của văn hóa Tây phương.

BATCHELOR: Vâng, tôi cho rằng có thể là trường hợp này. Ngày nay, chúng ta chắc chắn thông thạo về tâm lý học hơn là triết học. Với sự nhấn mạnh của nó trên việc khai sinh tâm lý học về nổi khổ não và sự cung cấp một phương pháp để nhổ gốc rể chúng. Đạo Phật rõ ràng có một sự đối phó thuận lợi thông thường với những thực hành đương thời về tâm lý học. Không phải ngẫu nhiên mà một số lớn những người đến với Phật Giáo hoặc là qua trị liệu tâm lý hay đang thực hành như một nhà tâm lý trị liệu. Những người như vậy dường như sẽ là một trong những nhóm thiểu số thông suốt, và qua những người ấy Giáo Pháp có thể lan truyền vào trong nền văn hóa rộng rãi hơn.

Tuy thế, có một hiểm họa là Phật Giáo có thể bị hạ thấp thành môn tâm lý trị liệu, thí dụ, giống như yoga đã trở thành một môn thể dục thông thường. Hatha yoga là một phần của hệ thống tâm linh tiệm tiến, nhưng thường được dạy bên ngoài phạm vi thực tập tâm linh, vì thế đánh mất sự ý nghĩa rộng rãi hơn của nó. Tôi cho rằng Đạo Phật không bị hạ thấp trong cách này đến điều mà người ta có thể gọi là “sự thực tập đơn độc” của Đạo Phật. Không chỉ là về một loại thiền tập nào đấy, hay sự cố gắng giải quyết những gút mắt trong tâm hồn. Như một nền văn hóa, Đạo Phật thâm nhập trong toàn bộ đời sống của chúng ta.

NISKER: Có lẽ Đạo Phật sẽ là một loại thuốc lành cho những lo lắng thiên niên kỷ của thế giới Tây phương. Có lẻ, một sự tiêm truyền Giáo Pháp sẽ làm chúng ta chậm lại và cung ứng cho chúng ta một liều thuốc tinh thần lành mạnh và khiêm cung mà chúng ta rất cần vào thời điểm này trong lịch sử của chúng ta.

BATCHELOR: Chúng ta có thể hy vọng như thế. Tôi nghĩ nhiều về những gì Đạo Phật dạy là tính chất phá vở triết lý tiêu thụ của phương Tây. Như “Thở và mĩm cười” hay “Chỉ ngồi”. Đây là những ý tưởng có tính chất bộc phá mà trong ấy người ta giới thiệu một quan niệm hoàn toàn khác biệt về việc thể hiện nhân tính là tất cả. Đạo Phật thử thách nhiều giá trị và ưu tiên trong nền văn hóa của chúng ta. Cho đến nay, sự kiến lập nền văn hóa Tây phương có khuynh hướng tảng lờ Đạo Phật như điều quan tâm thứ yếu ngoại vi của một số ít người. Tuy thế, nếu Đạo Phật lan truyền rộng rãi hơn, rồi thì chúng ta có thể mong đợi một sự phê bình có tính phối hợp hơn – mà đấy sẽ là một điều rất tốt đẹp vì nó sẽ thúc đẩy những người Phật tử thông suốt một cách rõ ràng hơn những gì họ quý chuộng. Sự bôi bác mới gần đây trong quyển sách bán chạy nhất của Giáo Hoàng [Jean Paul II] có thể chỉ là một tràng pháo mở màn trong sự trao đổi xuyên văn hóa. Có nhiều đe dọa.

Cuộc phỏng vấn này được tiến hành bởi Wes Nisker cho tạp chí Inquiring Mindtại Berkeley, California, 1995.

[1] Thế hệ Beat Generation (thích tôn giáo Đông phương, không thích vật chất), phong trào hippy và chống chiến tranh Việt Nam.

[2] Plato – Platon: (428/427 TCN [a]- 348/347 TCN) triết gia của Hy Lạp cổ đại, là học trò của Socratesvà là thầy của Aristotle.

[3] Friedrich Nietzsche(1844-1900), Triết gia, nhà văn Đức gốc Ba Lan cha đẻ thuyết Siêu nhân.

[4] Albert Camus (7 tháng 11năm 19134 tháng 1năm 1960) là một nhà văn, triết gia, thủ mônbóng đángười Phápnổi tiếng.

Cùng với Jean-Paul Sartre, Albert Camus là đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh.

Jean-Paul Charles Aymard Sartre (thường được gọi ngắn gọn hơn là Jean-Paul Sartre; 21 tháng 6năm 190515 tháng 4năm1980) là nhà văn, nhà triết họchiện sinhPhápđược trao giải Nobel Văn họcnăm 1964 nhưng từ chối vinh dự này. Jean-Paul Sartre là một trong những nhà triết học hàng đầu của Pháp thế kỷ 20.

[5] Michel Foucault (Phát âm tiếng Pháp: [miʃɛl fuko]) sinh với tên Paul-Michel Foucault (15 tháng 10192625 tháng 61984) là một triết gia người Pháp. Ông giữ một ghế tại Collège de Francevới danh hiệu "Lịch sử hệ thống suy nghĩ" và cùng từng giảng dạy tại Đại học California, Berkeley.

[6] Richard Rorty (04 tháng 10, 1931 – 08 tháng 6, 2007) triết gia người Hoa Kỳ, giáo sư ngành Triết học tại Đại học Princeton, giáo sư ngành nhân văn tại Đại học Virginia , và Giáo sư Văn học so sánh ở Đại học Stanford.

[7] 1- quyển sách tựa là "Crossing The Threshold of Hope". Tác giả là Đức Giáo Hoàng (Pope) John Paul 2

“Ở trang 85 và 86, Đức Giáo Hoàng viết:

"The Dalai Lama, spiritual leader of the Tibetans, is a well-known figure in the West. I have met him a few times. He brings Buddhism to people of the Christian West, stirring up interest both in Buddhist spirituality and in its methods of praying. I also had the chance to meet the Buddhist "patriarch" in Bangkok, Thailand, and among the monks that surrounded him there were several, for example, who came from the United States. Today we are seeing a certain diffusion of Buddhism in the West."

Đức Đạt Lai Lạt Ma, người lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng, là một nhân vật nổi tiếng ở phương Tây. Tôi đã gặp ông vài lần. Ông mang đạo Phật tới người của phương Tây Thiên-chúa-giáo, khuấy động sự lưu tâm về cả tinh thần Phật giáo lẫn những phương pháp cầu nguyện. Tôi cũng đã có cơ hội gặp đức Tăng thống Phật giáo ở Bangkok, Thái Lan, và giữa những ông sư ở chung quanh ông có vài người, thí dụ, đến từ nước Mỹ. Ngày nay, chúng ta được chứng kiến một sự lan rộng nào đó của đạo Phật ở phương Tây.

2- "The Buddhist doctrine of salvation constitutes the central point, or rather the only point, of this system. Nevertheless, both the Buddhist tradition and the methods deriving from it have an almost exclusively negative soteriology.”

Giáo lý về sự cứu rỗi của đạo Phật tạo thành tâm điểm, hay đúng hơn, điểm duy nhất, của hệ thống này. Tuy nhiên, cả truyền thống của đạo Phật lẫn những phương pháp (tu tập) đến từ đó đều có lý thuyết về sự cứu rỗi gần như là kém cỏi một cách đặc biệt.

http://nguoivietnamchau.com/forums/showthread.php?t=10568

[8] Wes “Scoop” Nisker là một hướng dẫn viên thiền quán, chủ bút tạp chí Phật Giáo Inquiring Mind, Berkeley, California, và chương trình truyền thanh phổ biến thuộc vùng Vịnh San Francisco.

Bài liên hệ

GIẢI THOÁT LÀ CHẲNG CÓ AI: ĐẠO PHẬT, TÂM THỨC VÀ CHỨNG NGHIỆM

http://www.stephenbatchelor.org/online%20articles/culture%20awakening.htm

Stephen Batchelor is a contemporary Buddhist teacher and writer, best known for his secular or agnostic approach to Buddhism. Stephen considers Buddhism to be a constantly evolving culture of awakening rather than a religious system based on immutable dogmas and beliefs. In particular, he regards the doctrines of karma and rebirth to be features of ancient Indian civilisation and not intrinsic to what the Buddha taught. Buddhism has survived for the past 2,500 years because of its capacity to reinvent itself in accord with the needs of the different Asian societies with which it has creatively interacted throughout its history. As Buddhism encounters modernity, it enters a vital new phase of its development. Through his writings, translations and teaching, Stephen engages in a critical exploration of Buddhism's role in the modern world, which has earned him both condemnation as a heretic and praise as a reformer.

Stephen was born in Dundee, Scotland, on April 7, 1953. He grew up in a humanist environment with his mother Phyllis (b. 1913) and brother David (b. 1955) in Watford, north west of London. After completing his education at Watford Grammar School, he travelled overland to India in February, 1972, at the age of eighteen.

He settled in Dharamsala, the capital-in-exile of the Dalai Lama, and studied at the Library of Tibetan Works and Archives with Ven. Geshe Ngawang Dhargyey. He was ordained as a novice Buddhist monk in 1974. He left India in 1975 in order to study Buddhist philosophy and doctrine under the guidance of Ven. Geshe Rabten, first at the Tibetan Monastic Institute in Rikon, Switzerland, then in Le Mont Pelerin, Switzerland, where Geshe Rabten founded Tharpa Choeling (now Rabten Choeling). The following year he received full ordination as a Buddhist monk. In 1979 he moved to Germany as a translator for Ven. Geshe Thubten Ngawang at the Tibetisches Institut, Hamburg. In April 1981 he travelled to Songgwangsa Monastery in South Korea to train in Zen Buddhism under the guidance of Ven. Kusan Sunim. He remained in Korea until the autumn of 1984, when he left for a pilgrimage to Japan, China and Tibet.

He disrobed in February 1985 and married Martine Fages in Hong Kong before returning to England and joining the Sharpham North Community in Totnes, Devon. During the fifteen years he lived at Sharpham, he became co-ordinator of the Sharpham Trust (1992) and co-founder of the Sharpham Collegefor Buddhist Studies and Contemporary Enquiry (1996). Throughout this period he worked as a the Buddhist Chaplain of HMP Channings Wood. From 1990 he has been a Guiding Teacher at Gaia Housemeditation centre in Devon and since 1992 a contributing editor ofTricycle: The Buddhist Review.

In August 2000, he and Martine moved to Aquitaine, France, where they live in a small village near Bordeaux with their cat Zoë. While at home he pursues his work as a scholar, writer and artist. For several months each year, he travels worldwide to lead meditation retreats and teach Buddhism (see Schedule). He is the translator and author of various books (see books) and articles on Buddhism (see Publications) including the bestselling Buddhism Without Beliefs(Riverhead 1997). His most recent publication is Living with the Devil: A Meditation on Good and Evil(Riverhead, 2004). His book Confession of a Buddhist Atheistwill be published in March 2010 (Spiegel&Grau/Random House).

Last updated, January 2010.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/07/2022(Xem: 3530)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 3531)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
07/12/2021(Xem: 2379)
Triết học Phật giáo và Cơ học Lượng tử luôn có sự hỗ tương cho nhau. * Sự kỳ lạ của Cơ học Lượng tử đến mức thách thức các nhà khoa học và triết học tìm hiểu một số nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của thực tế. * Một nỗ lực để tìm cách diễn giải Copenhagen, và một số người tin rằng cách lý giải này dựa vào Thế giới quan Phật giáo. * Mặc dù tôi là một Phật tử nhưng tôi phản bác quan điểm vật lý học chứng minh Thế giới quan Phật giáo.
17/11/2021(Xem: 10262)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 8564)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 6016)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 6984)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 6582)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/2021(Xem: 9314)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
22/08/2021(Xem: 2104)
Đây là bài thứ 4 và cũng là bài sau cùng trích dẫn một số câu liên quan đến giáo lý của Đức Phật. Bài 4 này gồm tất cả 80 câu được chọn lọc từ một bài gồm 265 câu trên một trang mạng tiếng Pháp : https://www.evolution-101.com/citations-de-bouddha/. Các câu này chủ yếu được rút tỉa từ kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú) và các kinh trong phẩm thứ tư của Tam Tạng Kinh là Anguttara Nikaya (Tăng chi hay Tăng nhất bộ kinh)
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,481,103