Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chánh Niệm Cơ Bản

26/12/201009:35(Xem: 2431)
Chánh Niệm Cơ Bản


Phat Thich Ca 2c

CHÁNH NIỆM CƠ BẢN

Thiền sư: Henepola Gunaratana
Dịch Việt: Lương Thanh Bình




Henepola Gunaratana

Vài lời về Tác giả

Thượng tọa Henepola Gunaratana thọ cụ túc giới vào năm 12 tuổi, trong một ngôi chùa nhỏ ở làng Malandeniya, quận Kurunegala thuộc quốc gia Miến Điện. Thầy bổn sư của ngài là thượng tọa Kiribatkumbure Sonuttara Mahathera. Vào tuổi 20, ngài được thụ phong đại đức ở Kandy, năm 1947. Ngài hoàn tất chương trình giáo dục tại đại học Vidyalankara và đại học Phật học ở Colombo. Ngài sang Ấn độ trong 5 năm để làm việc thiện nguyện cho hội từ thiện Mahabodhi, giúp đỡ người Harijana ở những thành phố Sanchi, Delhi, và Bombay. Mười năm sau đó, ngài sang Mã lai, làm cố vấn tôn giáo cho hội Sasana Abhivurdhiwardhana, hội từ thiện Phật giáo, và Liên đoàn thanh niên Phật tử Mã Lai. Ngài cũng là giáo sư dạy các trường Kishon Dial, Temple Road Girls, và Trụ sở Nguyên tắc Phật học hội ở thủ đô Kuala Lumpur.

Với sự thỉnh mời của hội Sasana Sevaka, thượng tọa Gunaratana đã đến Hoa kỳ vào năm 1968 với chức vụ Tổng thư ký danh dự cho hội Phật giáo Vihara ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Năm 1980 ngài được bổ nhậm làm Chủ tịch của hội. Trong những năm ở Vihara, ngài dạy những lớp học về giáo lý Phật đà, hướng dẫn những khóa tu thiền, và thuyết giảng một cách rộng rãi khắp nơi Hoa kỳ, Canada, Âu châu, Úc châu và New Zealand.

Ngài tiếp tục sự học và hoàn tất các bằng cấp Cử nhân, Cao học, và Tiến sĩ triết học ở viện đại học American. Ngài dạy Phật học tại những trường đại học American, Georgetown, và Maryland. Những quyển sách và bài báo do ngài viết đã được phát hành ở Mã lai Á, Ấn độ, Miến điện, và Hoa kỳ.

Từ năm 1973 ngài làm cố vấn ở trường đại học American, khuyến khích giúp đỡ những học sinh có ý muốn tìm hiểu giáo lý phật giáo và Thiền. Hiện nay, ngài là chủ tịch hội Bhavana ở West Virginia tại thung lũng Shenandoah, chừng 100 dặm cách thủ đô Hoa Thịnh Đốn, hướng dẫn thiền tập và điều khiển những khóa tu học.


Lời nói đầu

Theo kinh nghiệm riêng thì tôi thấy ra rằng, phương pháp hữu hiệu nhất dùng để diễn đạt một vấn đề gì cho người khác hiểu, là dùng các từ ngữ bình dân nhất, đơn giản nhất. Hơn thế nữa, tôi đã học được từ phương pháp mô phạm là, ngôn ngữ càng cứng ngắt khô khan bao nhiêu thì có tác dụng càng ít đi bấy nhiêu. Người ta thường không có phản ứng đối với những ngôn từ nghiêm khắc và khuôn khổ; nhất là khi chúng ta đang cố gắng giảng dạy những gì mà người nghe cho là không dính dáng gì với đời sống hàng ngày của họ. Đối với nhiều người, thiền tập là những gì mà họ không thể làm được một cách thường xuyên hay liên tục. Hiện nay, càng có nhiều người đang xoay qua và đặt kỳ vọng vào Thiền. Cho nên, họ rất cần thiết những phương thức hướng dẫn đơn giản nhất, để cho họ có thể tự tu tập mà không có một vị thầy bên cạnh. Quyển sách này là theo sự đáp ứng của rất nhiều thiền sinh yêu cầu; những người này rất cần một phương pháp hướng dẫn đơn giản bằng ngôn ngữ thông thường bình dân.

Để chuẩn bị cho quyển sách này, tôi đã được sự giúp đỡ của rất nhiều bạn đạo. Tôi rất lấy làm biết ơn tất cả. Đặc biệt là đối với John Patticord, Daniel J. Olmsted, Matthew Flickstein, Carol Flickstein, Patrick Hamilton, Genny Hamilton, Bill Mayne, tì kheo Dang Pham Jotika, và tì kheo Sona. Những quí thân hữu này đã cống hiến những đề nghị, lời dẫn giải quí giá, cũng như vô số lời phê bình trong khi soạn thảo quyển sách này. Tôi cũng không quên lời tạ ơn đối với sự giúp đỡ của Sister Sama và Chris O’Keefe trong vấn đề ấn tống.

H. Gunaratana Mahathera
Bhavana Society
Rt. 1 Box 218-3
High View, WV 26808
December 7, 1990





Phần giới thiệu: Phật Giáo Hoa Kỳ



Đề tài trong quyển sách này là phương pháp tu tập Thiền Minh Sát Tuệ. Xin lập lại ở đây “Tu Tập”. Đây là một cẩm nang hướng dẫn tu Thiền Tuệ, là quyển sách chỉ dẫn từng bước công phu để đạt đến Tuệ giác. Điều này cũng có nghĩa là thực hành, là thực dụng. Đã có nhiều quyển sách bao hàm về Phật giáo, trên lãnh vực Triết học và lý thuyết về tu Thiền Phật giáo. Nếu vị nào có hứng thú về phạm trù này, chúng tôi khuyến khích bạn nên đọc những cuốn sách đó. Phần nhiều những quyển sách này được viết rất xuất sắc. Còn quyển sách mà bạn đang cầm trên tay, diễn giải cách thức “làm như thế nào”. Nó được viết cho những ai thật sự muốn tu tập thiền, và đặc biệt nhất là những người muốn bắt đầu ngay bây giờ. Thật ra ở Hoa kỳ hiện nay có rất nhiều giáo thọ tốt, đang tu và dạy tu thiền Phật giáo theo truyền thống. Ý định của chúng tôi là cung cấp cho bạn những gì cần thiết để bắt đầu. Những ai thực hành theo sự hướng dẫn trong quyển sách này, mới có thể biết được là có kết quả hay không. Khi thật sự tu tập một cách liên tục và siêng năng, người ấy mới nhận ra cái kết quả mình đạt được. Không một quyển sách nào khả dĩ có thể bao gồm hết tất cả mọi vấn đề mà một người tu thiền gặp phải. Bạn rồi đây sẽ cần phải gặp một người thầy có đủ năng lực để hướng dẫn triệt để hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện tại, những điều cơ bản và sự hiểu biết rõ ràng những gì diễn tả trong quyển sách này, cũng đủ giúp bạn đi một đoạn đường rất xa.

Có rất nhiều phương pháp tu thiền. Mỗi truyền thống tôn giáo lớn đều có một vài phương pháp tu tập mà họ gọi là sự trầm tư hay thiền định, và từ ngữ này thường hay bị dùng một cách rất lỏng lẻo. Xin vui lòng hiểu rằng, trong quyển sách này đề cập đến Thiền Minh Sát là phương pháp tu tập theo truyền thống của Phật giáo ở miền Nam và Đông Nam Á châu. Pháp tu này thường hay được gọi là Thiền Tuệ, vì bởi mục đích của đường lối tu thiền này là, giúp cho hành giả có được Tuệ giác về bản chất của sự thật và sự hiểu biết xác thực về sự vận hành của mọi hiện tượng.

Đạo Phật trong cách nhìn tổng quát, thì rất ư là khác biệt so với các tôn giáo thần học khác, mà người phương Tây đã từng biết qua. Phật Giáo thì giống như là một cánh cửa trực tiếp mở tới lãnh vực tâm linh hay thiêng liêng mà không có sự liên đới hay trợ giúp của một vị thần linh nào cả. Cái phong cách của đạo Phật thì rất là giản dị, rõ ràng: chỉ là một quá trình xem xét liên tục không ngừng về hiện thực; một sự khảo xát tỉ mỉ về tiến trình nhận thức ngay trong hiện tại. Với mục đích là chỉ rõ ra tính nguỵ tạo và sự thiếu hiểu biết trong cách nhìn thế gian của chúng ta, để rồi lột trần ra bộ mặt thật của sự thật rốt ráo. Thiền Minh Sát là một phương pháp cổ xưa và hoàn hảo nhất cho mục đích này.

Trường phái Phật giáo nguyên thủy trình bày cho chúng ta một đường lối hữu hiệu dùng để khám phá đến tầng lớp sâu kín của tâm, tận nơi gốc rễ cái bản chất của Ý thức. Nó cũng cung cấp một hệ thống nghiêm chỉnh đúng mức về nghi lễ. Truyền thống tốt đẹp này được nung kết theo lối hòa nhập vào tập quán của từng địa phương trong suốt 2,500 năm ở miền Nam và Đông nam Á châu.

Trong quyển sách này, chúng tôi sẽ cố gắng tách biệt phần cơ bản chủ yếu và phần phụ thuộc, để hầu mong diễn đạt thực chất của vấn đề một cách rõ ràng mà vẫn không đánh mất đi tính trung thực của nó. Những đọc giả nào có khuynh hướng về lễ nghi thì nên nghiên cứu phương pháp tu tập Phật giáo nguyên thủy trong những quyển sách khác, và họ sẽ tìm thấy ra một hệ thống nghi thức to lớn với đầy nét phong tục tính, mà vẫn bảo tồn rõ nét truyền thống bản xứ trong phong cách nghi lễ. Còn ở đây, với khuynh hướng đơn giản để áp dụng những phương cách vào những hoàn cảnh thay đổi của tư tưởng và cảm giác khi hành giả cần. Thực hành là cứu cánh. Sự khác biệt giữa Thiền Minh Sát và những pháp môn thiền khác thì rất ư là quan trọng và cần phải được thấu hiểu rành rẽ. Đạo Phật chỉ ra rõ hai hệ phái lớn của Thiền. Chúng có sự khác biệt về khả năng tinh thần, sự vận hành hay tác động của Tư tưởng. Theo Kinh Tạng Pali, chúng được gọi là “Thiền quán” hay “Thiền Minh Sát Tuệ” và “Thiền Chỉ”.

Thiền Minh Sát” có thể phiên dịch là “Trí tuệ”, một sự tỉnh giác rõ ràng và xác thực về những gì đang xảy ra trong lúc này. “Thiền Chỉ” có thể chuyển dịch là “Tập trung” hay “Tịch tĩnh”. Đó là một trạng thái mà tâm đã được đưa vào cảnh giới Định, chỉ tập trung vào một đề mục và không còn trôi dạt lang thang trong lúc đó. Khi đạt được lãnh vực này, một sự tĩnh lặng xuyên suốt thấm nhập khắp thân và tâm, một trạng thái tịch tĩnh cần phải được kinh nghiệm và thông suốt rõ ràng. Phần lớn các dòng thiền đều nhấn mạnh về bộ phận “Định” này. Hành giả nhiếp tâm vào đề mục, chẳng hạn như lời cầu nguyện, một vật thể nào đó, tụng một thời kinh, ngọn lửa của một cây nến, một hình tượng của tôn giáo, và loại trừ tất cả tư tưởng cùng khái niệm ra khỏi Ý thức. Kết quả của buổi tọa thiền là một trạng thái hạnh phúc tuyệt vời cho đến khi xuất thiền. Đây là một trạng thái rất tốt đẹp, thú vị và quyến rũ, nhưng nó chỉ có tính cách tạm thời thôi. Thiền quán thì đặt phần quan trọng vào bộ phận khác, “Trí Tuệ.”

Hành giả tu Thiền Minh Sát dùng sự tập trung của mình như là loại dụng cụ, để cho sự chú tâm có thể đục bể từng mảnh cái bức tường ảo tưởng; bức tường này đã từ bấy lâu nay vẫn luôn che lấp ánh sáng sự thật về đời sống. Quá trình này sẽ dần dần làm sự chú tâm mạnh dần lên và đến gần thêm hơn với bản chất của sự thật. Đây là một tiến trình cần rất nhiều thời gian, nhưng nếu duy trì bền bỉ và liên tục thì một ngày nào đó, hành giả có thể xuyên thấu cái bức tường kia và làm cho nó xụp đổ dưới ánh sáng của phút giây hiện tại. Cái quá trình biến đổi đến đây coi như là hoàn tất. Lãnh vực này còn được gọi là “giải thoát”, và nó thì vĩnh hằng. Sự giải thoát là mục đích tối hậu của mọi pháp tu trong bất cứ pháp thừa nào của đạo Phật. Nhưng đường lối để đạt đến cứu cánh thì thật là đa dạng.

Có nhiều sự khác biệt to lớn giữa các tông phái trong Phật giáo. Nhưng tựu trung được xếp loại vào hai Tông phái chính — Đại thừa và Nguyên thuỷ. Đại thừa Phật pháp thì phổ biến lan tràn qua các vùng Đông Á, tạo nên nền văn hóa của Trung hoa, Hàn quốc, Nhật bản, Trung Á Nepal, Tây tạng và Việt Nam. Nhánh được biết rộng rãi nhất trong Đại thừa là Thiền Tông, dòng này được thực hành rộng rãi ở Nhật bản, Hàn quốc, Việt nam và Hoa kỳ. Phật giáo Nguyên thủy tồn tại về phía Nam và Đông Nam Á, lan tràn và phổ biến ở những quốc gia như Miến điện, Thái lan, Lào, Miên. Trong quyển sách này, chúng tôi phổ cập theo đường lối tu tập của Phật giáo Nguyên thủy.

Tài liệu về truyền thống Nguyên thủy đều diễn đạt cả hai phương pháp về Thiền Chỉ (tập trung và tâm tĩnh lặng) và Thiền Quán (Tuệ giác và Tỉnh giác). Có 40 đề mục được dẫn giải trong tài liệu Pali. Chúng được đề nghị như là những đối tượng tập trung và là đề tài cho sự xem xét để dẫn đến Tuệ giác (kinh nghiệm trực giác). Nhưng đây chỉ là sổ tay căn bản, và chúng tôi chỉ hạn chế sự bàn luận về tầm mức quan trọng của những đề mục này — Hơi thở. Quyển sách này là phần giới thiệu về sự đạt được khả năng Chánh niệm qua sự chú ý vừa phải, và hiểu biết rõ ràng về cả tiến trình của sự thở. Dùng hơi thở như là điểm chú ý chính, thiền giả áp dụng sự quan sát vào toàn bộ những gì đang vận hành trong Tri giác. Hành giả học nhìn sự thay đổi đang xảy ra trong tất cả kinh nghiệm sinh lý, cảm giác và quan niệm. Người ấy học hoạt động của sự kiện tâm lý và lề lối biến chuyển trong bản chất của Tri thức. Tất cả những thay đổi này luôn luôn xảy ra liên tục không ngừng và hiện hữu trong mỗi phút giây kinh nghiệm trong đời sống của chính mình.

Tu thiền là một phương thức sống, một phương thức kinh nghiệm tự nhiên (vốn có). Phương pháp này không thể nào được dạy như là một môn học trong học đường. Cái tâm điểm của phương pháp dạy phải xuất phát từ kinh nghiệm tự thân của người thầy. Tuy nhiên, vẫn còn có cả một khối giáo lý khổng lồ về đề tài này, nó vốn là sản phẩm đã được để lại của bậc trí tuệ, toàn giác trong lịch sử nhân loại. Những tài liệu này rất đáng giá cho mọi người nghiên cứu. Điểm quan trọng nhất trong cuốn sách này được trích dẫn ra từ Tam Tạng kinh điển (Tipitaka), đây là ba Tạng kinh bao gồm những gì đức Phật đã dạy khi ngài còn hoằng pháp độ sinh. Tam Tạng luận gồm có Luật Tạng (Vinaya), nói lên những điều luật dành cho những tu sĩ Phật giáo và phật tử; Kinh Tạng (Suttas), ghi lại những bài giáo pháp của chính đức Phật dạy; và Luận Tạng, là toàn bộ Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) bao gồm tất cả những Triết lý và Tâm lý học Phật giáo.

Vào thế kỷ thứ nhất, có một học giả Phật giáo nổi danh là Ưu-bà-đế-tu (Upatissa) đã viết quyển “Con đường giải thoát” (Vimuttimagga), mà trong đó tác giả đã tóm lược lời dạy của đức Phật về pháp tu Thiền. Cho đến thế kỷ thứ 5th, một học giả Phật giáo uyên thâm khác, ngài Phật Âm (Buddhaghosa), cũng đã viết một luận thuyết về lãnh vực này — Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) là quyển sách có tiêu chuẩn cao về thiền định, giá trị cho mãi đến ngày nay. Những vị thầy dạy tu thiền thời hiện đại, tùy thuộc vào Tam Tạng kinh điển và vào những kinh nghiệm của chính mình. Mục đích của chúng tôi ở đây là trình bày cho bạn một đường lối rõ ràng, xúc tích về Thiền quán qua Anh ngữ. Nhưng quyển sách này chỉ mời gọi bạn bước vào ngưỡng cửa mà thôi. Phần còn lại là tùy thuộc vào bạn có chịu cất những bước đầu tiên hay không, trên con đường khám phá ra “bạn là ai” và tất cả những thứ đó có ý nghĩa là gì. Đây là một cuộc hành trình xứng đáng cho chúng ta vấn thân vào. Chúng tôi chúc bạn được thành công.

Chương 1: Thiền định: Tại sao phải bận tâm?

Tu thiền vốn không phải là việc dễ dàng. Nó mất rất nhiều thời gian và năng lượng. Nó cũng đòi hỏi tính chịu đựng, sự quyết tâm và tinh thần thi hành kỷ luật. Quá trình này cần phải có tính chủ động đối đầu với phẩm cách cá nhân (của tự thân). Những điều này lại chính là những sự việc mà chúng ta thường hay không ưa thích làm và lúc nào cũng muốn tránh càng xa càng tốt. Tình trạng này, theo người Mỹ, thì được gọi là “sự phán đoán.” hay “tính sáng tạo.” Thiền định thì cần phải có “tính sáng tạo.” Có như thế, nó sẽ có vị thế tích cực hơn khi so sánh tu thiền với việc ngồi dựa lưng để xem truyền hình cho qua thời gian. Vậy thì, tại sao lại phải bận tâm? Tại sao lại phải hao tốn bao thời gian và năng lực trong khi bạn có thể tự mình hưởng thụ? Sao lại bận tâm? Rất đơn giản. Bởi vì bạn là con người. Và chỉ vì bạn đơn giản là con người, và có thể nhận ra rằng mình đang phải hứng chịu những điều bất toại nguyện vốn có của cuộc đời mà không thể nào tránh khỏi. Bạn có thể làm ngơ hay đè nén nó ra khỏi sự nhận biết của mình trong một thời gian. Bạn có thể đánh lạc hướng bản thân trong vài giờ đồng hồ, nhưng rồi nó cũng trở lại với bạn — thông thường thì nó trở lại vào những lúc bạn không thể nào ngờ nhất. Một cách rất thình lình, ra vẻ như khơi khơi, bạn ngồi dậy, có sẵn đó, và nhận diện ra hoàn cảnh thật sự của mình trong đời sống.

Đó là bạn, tự mình bất chợt nhận ra là, chính ta đã và đang hoang phí cả đời mình để chỉ có thể vượt qua cơn lốc xoáy cuộc đời một cách vất vả. Bạn gắng sức bằng mọi phương cách để giữ sao cho bên ngoài được ra vẻ như hoàn toàn không có vấn đề gì. Rồi trong tình trạng khẩn cấp, chính ngay lúc đó, bạn thấy ra mọi sự việc đã và đang luôn luôn bào mòn bên trong con người của bạn, nhưng bạn vẫn cố gắng giấu diếm cho riêng mình biết mà thôi. Thật ra, cuộc đời của bạn không gọn gàng chút nào cả, và bạn cũng tự biết như thế. Nhưng bạn đã che đậy điều đó một cách thật tài tình. Thật ra bạn cũng có biết là, ở bên dưới tất cả những vấn đề không ổn kia, phải có một phương thức khác để sống, một cách tốt đẹp hơn để nhìn vào cuộc đời, một đường lối để có thể cảm nhận cuộc đời một cách trọn vẹn hơn. Thỉnh thoảng bạn cũng có lúc làm được điều đó. Bạn có được một việc làm tốt, đang và được yêu đương, thắng một cuộc chơi. Rồi trong một lúc, sự thể trở nên khác đi. Cuộc sống thì rất là dồi dào và trong sáng, có thể làm phai mờ đi những buồn bã và tẻ nhạt trong một lúc. Cấu trúc kinh nghiệm của bạn thì không ngừng thay đổi và bạn tự nhũ là, “Được rồi! Bây giờ thì xong chuyện và mình sẽ có được hạnh phúc.” Nhưng cảm giác toại nguyện đó rồi cũng mờ phai tựa như khói bay theo gió. Những gì còn lại với bạn là sự tưởng nhớ mà thôi. Những thứ đó và sự nhận biết mơ hồ đã nói lên một điều gì đó không ổn vậy!

Nhưng thật sự là có một lãnh vực khác, sâu xa và nhạy cảm, vẫn luôn luôn tồn tại trong cuộc sống. Không hiểu vì lý do nào đó, bạn lại không thể thấy được nó. Cảm giác của bạn luôn bị giới hạn. Sự êm ái của cảm xúc giác quan luôn phân cách những hương vị ngọt ngào với cái kinh nghiệm bạn đang có. Cho nên, bạn không thể cảm giác được đời sống một cách thật sự. Bạn đánh mất nó hết lần này sang lần khác. Để rồi sau đó, ngay cả sự nhận biết mơ hồ còn lại kia cũng phai mờ mất, và bạn sẽ phải quay về với cái vỏ cũ rích ngày nào. Cuộc sống chừng như là nơi dành riêng cho những hành động xấu, cho nên đôi lúc làm cho chúng ta cảm thấy thật là chán ngán, ê chề. Nó thật là điên cuồng, và bạn đã bỏ ra không biết bao thời gian lặn ngụp ở tận cùng hố thẵm, lúc nào cũng không ngừng khao khát được leo lên chỗ cao hơn.

Vậy thì, cái gì không đúng đang xảy ra đây? Bạn có phải là một người lập dị không? Không phải! Bạn chỉ là một con người mà thôi. Và bạn đang chịu đựng cùng một chứng bệnh của kiếp con người, bất cứ ai cũng phải cưu mang. Chứng bệnh ấy như là có con quái vật hiện hữu bên trong mỗi người, và nó có nhiều tay: thói quen căng thẳng mãn tính, thiếu lòng thương cảm chân thật đối với người khác — ngay cả những người thân cận với chúng ta, luôn cảm thấy bị bế tắc, và căn bệnh vô cảm. Nhiều, rất ư là nhiều cánh tay. Không một ai trong chúng ta hoàn toàn thoát khỏi sự kiềm chế của nó. Chúng ta có thể phủ nhận con quái vật này, hay luôn luôn cố gắng đàn áp, đè bẹp nó. Chúng ta sắp đặt ra cả một hệ thống giáo dục để tránh né nó, giả bộ như là nó không có ở đó, và đánh trống lãng với bản thân ta bằng cách đừng nghĩ tới nó; mà thay vào với những mục tiêu, kế hoạch và địa vị mà mình sẽ đến. Nhưng con quái vật kia không bao giờ tự bỏ đi. Nó là một dòng tiềm lưu không dứt ẩn hiện trong mỗi tư tưởng và nhận thức của chúng ta; một giọng nói không lời ở trong đầu luôn văng vẳng vang lên, “Chưa đủ tốt. Phải có thêm. Cần phải hơn thế. Phải có nhiều hơn thế nữa.” Nó là một con quái vật. Nó biểu hiện mọi nơi, qua mọi hình thức vi tế khác nhau.

Đến dự một buổi tiệc; nghe những giọng cười. Giọng giòn tan nói lên những điều vui vẽ bề ngoài nhưng vẫn không che dấu được nỗi lo sợ nằm bên dưới nét ưu tư trên mặt kia. Chúng ta có thể cảm ra được sự căng thẳng và những áp lực nặng nề. Không có ai thư giãn thật sự. Mọi người đều làm ra vẻ như không có gì. Họ đi xem ném banh, cổ võ những vận động viên từ các hàng ghế khán giả, chứng kiến những cơn bộc phát phẫn nộ một cách phi lý. Họ chứng kiến hoặc dự phần vào những cơn chán nản không thể kiềm chế, đang sôi sục bởi những kẻ đang giả vờ hăng hái dưới cái chiêu bài là đang phấn khởi, hay có tính đoàn thể cao. La ó, phản đối và buông lung tính ích kỷ trong danh nghĩa trung thành với tổ chức của mình. Khán giả say sưa, đấm đá lẫn nhau. Những người này đang cố gắng một cách tuyệt vọng để làm cho vơi bớt những căng thẳng bên trong tâm tư của chính mình. Họ là những người không có được sự bình yên trong tâm hồn. Họ xem tin tức trên màn ảnh cho qua thời gian, nghe những bài nhạc được nghe nhiều nhất, cho đúng phong trào. Bạn bao giờ cũng thấy những âm giai cũ rích được lập lại nhiều lần, qua nhiều cung bật khác nhau: Ganh tỵ, khổ sở, bất mãn, và căng thẳng.

Cuộc sống như là một trận chiến dai dẵng chừng như vô tận, những cố gắng to lớn để chống chọi lại những sự kiện không bình thường luôn làm cho chúng ta phân vân. Và giải pháp của chúng ta đối với những điều không vừa lòng này là gì? Chúng ta bị kẹt cứng trong căn bệnh bất trị, bệnh chứng “Nếu như”. “Nếu như” tôi có nhiều tiền thì tôi sẽ vui vẻ; “Nếu như” tôi tìm gặp người thật sự yêu tôi; “Nếu như” tôi có thể giảm đi 20 cân; “Nếu như” tôi có TV màu, bồn tắm sủi bọt nước nóng, mái tóc rợn sóng, và … Vậy chứ tất cả những ý tưởng vụn vặt này từ đâu phát sinh ra, và quan trọng hơn nữa là, chúng ta đối xử ra sao đối với chúng? Nó phát sinh ra từ quan niệm giới hạn đã bị điều kiện hóa trong tâm thức của chính chúng ta. Nó nằm sâu thăm thẵm, tiềm ẩn và thấm nhập vào trong thói quen, tập quán, và vấn đề cực kỳ hắc búa là, chúng ta đã không ngừng củng cố nó từng chút một trong quá khứ. Nếu muốn tháo gỡ nó ra, chúng ta phải dùng theo cùng một phương cách và chiều hướng, mở từng chút một ra. Điều chỉnh sự chú tâm của mình, nạo gở ra từng mảnh một và đưa nó ra ánh sáng. Chúng ta có thể tạo ra sự nhận biết vô ý thức, một cách từ từ, mỗi lần cho một tư tưởng.

Thực chất của kinh nghiệm thì luôn luôn biến đổi. Đã gọi là biến đổi thì có tính liên tục, không ngừng. Từng phút giây đời sống trôi qua và không có chặp thời gian nào giống với bất cứ chặp thời gian nào khác cả. Sự biến đổi liên tục cũng chính là thực chất của thế giới tri giác. Một tư tưởng nảy sinh ra trong đầu của bạn và chỉ trong nửa giây thời gian sau thì nó cũng đã hoại diệt đi. Rồi tư tưởng khác phát sinh và cũng hoại diệt đi… Một tiếng động đập vào tai của bạn rồi tắt đi. Bạn mở mắt ra và cả bầu không gian tràn vào, nháy mắt đóng lại, tất cả điều biến mất. Con người đi vào cuộc đời bạn và họ rời xa bạn. Bạn bè xa đi, người thân lìa trần. Sự may mắn cũng lúc lên, lúc xuống. Đôi khi bạn có được mà thường thì bị mất mát nhiều hơn. Dòng sống cuộc đời luôn luôn xảy ra: thay đổi.. Không có hai khoảng thời gian nào giống nhau cả, dù cho thật ngắn.

Không có gì là sai trái cho vấn đề này cả. Đó là bản chất vốn có của thế gian. Nhưng tập quán lại huân tập cho chúng ta những đáp ứng không thích hợp đối với sự vận hành không ngừng này. Chúng ta phân loại kinh nghiệm. Chúng ta cố gắng bám lấy và nhận nhét từng sự nhận thức, từng sự thay đổi tâm lý ở trong dòng tiến triển này; đưa nó vào một trong ba khuôn khổ tâm thức: Tốt, xấu, và trung tính. Sau đó, tùy theo nó được phân định vào thể loại nào, chúng ta có một thái độ hành xử tương ứng theo trạng thái tâm lý quen thuộc của mình. Nếu một nhận thức nào đó được cho là “tốt”, thì chúng ta cố gắng nắm giữ thời gian dừng lại. Chúng ta bám chặt vào tư tưởng đó, nâng niu nó, ôm giữ nó, cố gắng giữ nó lại càng lâu càng tốt, không cho nó thoát đi. Khi những hành động kia không mang lại kết quả, chúng ta đưa ra tất cả năng lực, mong sao tái tạo lại cái kinh nghiệm mà do cái cảm giác kia gây ra. Hãy gọi cái thói quen tâm lý ấy là “chấp thủ.”

Về khía cạnh trái ngược của tâm, cái mà đã được phân định là “xấu”. Khi cảm thấy một điều gì “xấu” là chúng ta cố gắng đẩy nó ra xa. Chúng ta phủ nhận nó, khước từ nó, tống khứ nó bằng bất cứ phương cách nào mà chúng ta có thể làm hay nghĩ ra. Con người thường hay đấm đá với cảm giác của chính mình. Chúng ta trốn tránh từng phần tử nhỏ của tự thân. Hãy gọi cái thói quen tâm lý ấy là “phản kháng.” Ở giữa của hai trạng thái “Chấp thủ” và “Phản kháng” là trạng thái vô ký. Nơi đây chúng ta có một loại kinh nghiệm trung tính — không tốt mà cũng không xấu. Đây là một trạng thái mà chúng ta cho là nhạt nhẽo, vô vị, không hứng thú, hay buồn tẻ. Những kinh nghiệm loại này được sắp đặt, để rồi chúng ta có thể lãng quên nó và quay sang những thứ náo động hơn mà chúng ta đặt tên là “vòng sanh diệt vô tận” của Tham muốn và Ghét bỏ. Thể loại kinh nghiệm này đã xâm chiếm gần như toàn diện sự suy nghĩ của chúng ta. Hãy gọi trạng thái tâm lý này là “lơ đãng”. Cái kết quả trực hệ cho tất cả hành động kém hiểu biết này là một lối mòn vô tận, đưa chúng ta vào tình trạng không lối thoát, không ngừng tìm cầu dục lạc, không ngừng trốn lánh khổ đau, liên tục lơ đãng hơn 90% đối với những kinh nghiệm của mình. Để rồi sau đó, chúng ta lấy làm ngạc nhiên tại sao cuộc sống quá tẻ nhạt. Nói cho cùng, cái hệ thống tư duy mà chúng ta đang xử dụng thật không mang lại kết quả tốt.

Không cần biết bạn cố gắng vất vả ra sao, hầu mong tìm cầu những hạnh phúc và thành công, nhưng vẫn có lúc bạn sẽ phải bị thất bại. Không cần biết bạn thoát chạy nhanh nhẹn như thế nào, vẫn có lúc khổ đau bắt kịp được bạn như thường. Và trong khoảng thời gian chạy và đuổi kia, cuộc sống sao quá buồn tẻ đến đổi bạn có thể bị bức xúc đến muốn quát tháo ầm ỉ lên. Tâm trí của chúng ta đầy rẫy những quan niệm và phán đoán. Chúng ta đã dựng lên những bức tường vây quanh mình như là một ngục tù của đời sống bằng những yếu tố yêu và ghét của chính mình. Để rồi, chúng ta bị đau khổ. “Đau khổ” là một từ lớn trong tư tưởng Phật giáo. Nó là một thuật ngữ quan trọng cần nên được thấu hiểu rõ ràng. Trong Phạn ngữ, “Khổ đau” không phải chỉ có nghĩa là đau đớn nơi thân thể. Mà nó còn có nghĩa là sự bất toại nguyện từ trong sâu thẵm của tiềm thức, là một phần tạo ra Sinh Tử luân hồi. Đức Phật từng có nói, thực chất của đời sống là khổ đau. Thoạt đầu nghe qua có vẻ thụ động một cách quá mức và bi quan gần như là phi lý. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng có những khoảng thời gian vui vẽ và hạnh phúc, phải không? Không! Không hoàn toàn đúng như thế. Nhưng trên bình diện thế gian thì có vẻ là như vậy. Hãy chọn bất cứ khoảng thời gian nào đó, khi bạn thật sự cảm thấy thỏa ý, để nghiệm xét xem một cách kỉ càng ra sao. Phía dưới của niềm vui kia, bạn sẽ thấy sự căng thẳng ngủ ngầm tỏa khắp, không cần biết phút giây đó kỳ diệu ra sao, nó cũng phải có lúc chấm dứt. Không cần biết bạn có được bao nhiêu, nó sẽ bị phân hóa đi một phần lớn, và rồi sẽ biến mất hoàn toàn vào cuối ngày, dù cho bạn có gìn giữ hay kế hoạch để có thêm nhiều hơn. Cuối cùng thì bạn cũng sẽ chết đi, và sẽ mất tất cả. Tất cả chỉ hiện hữu trong nhất thời mà thôi.

Nghe qua có vẻ buồn thảm quá phải không? May mắn thay! Tình trạng không nhất định là phải như thế! Có vẻ là buồn thảm khi bạn nhìn nó từ góc độ của tư tưởng khái niệm, ở tầng mức hoạt động của vòng lẩn quẩn thế gian. Tiềm ẩn phía dưới là một thế giới quan hoàn toàn khác biệt, một lối nhìn và tư duy khác đối với toàn thể. Đây là mức độ hoạt động mà khi ấy cái tâm không muốn giữ cho thời gian đứng lại, chúng ta không vướng mắc vào kinh nghiệm của mình trong khi nó đang vận hành, không cố gắng ngăn cản và xua đuổi bất cứ điều gì. Đó là mức độ kinh nghiệm siêu thoát cả hai đối cực, tốt và xấu, dễ chịu và đau đớn. Đây là một cách nhìn khoan dung để nhận biết thế gian, và là một kỹ năng để học hỏi. Tuy đó không phải là việc dễ dàng đạt được nhưng khả dĩ có thể tu tập được.

Hạnh phúc và Bình an. Đây chính là những vấn đề cơ bản cho sự tồn tại nhân sinh. Đó cũng là tất cả những gì chúng ta đã và đang luôn đi tìm. Thông thường đây là điều khó nhận thấy, bởi vì chúng ta luôn muốn che dấu những ước muốn cơ bản này bằng những mục tiêu bên ngoài. Con người muốn thực phẩm, tiền tài, nhục dục, tư hữu, và được tôn trọng bởi người khác. Chúng ta thậm chí tự nhủ với mình rằng, quan niệm về ‘hạnh phúc’ thì quá trừu tượng: “Này nhé! Tôi thì rất thực tế. Chỉ cần tôi có đủ tiền bạc thì tôi sẽ mua được tất cả hạnh phúc tôi cần.” Thật là không may, cái quan điểm này không mang đến hiệu quả gì cả. Kiểm nghiệm lại xem những mục đích này và bạn sẽ thấy chúng thật là thiển cận. Bạn muốn thực phẩm à? Tại sao? Bởi vì tôi đang bị đói. Bạn đang đói thì sao? Nếu tôi ăn, tôi sẽ hết bị đói và tôi sẽ cảm thấy thoải mái. À ha! Cảm thấy thoải mái! Đây mới là điểm chính. Những gì chúng ta thật sự đi tìm, thì không phải là những mục tiêu ở bên ngoài mà là một cuối điểm khác. Những gì chúng ta thật sự đeo đuổi là cảm giác của sự thư thả, là động lực đưa ta tới cảm giác thỏa mãn. Thư thả, buông lỏng, chỉ là điểm tận cùng của sự căng thẳng. Còn an bình, hạnh phúc chính là trạng thái không còn có sự khát khao nữa.

Vậy thì hạnh phúc này là cái gì? Phần lớn trong chúng ta, hạnh phúc trọn vẹn có nghĩa là có được tất cả những gì mà ta mong muốn, có được quyền kiểm soát mọi thứ, có quyền hành như một vị vua, làm cho cả thế gian thay đổi theo cơn hứng khởi của mình. Một lần nữa, những điều này cũng không phải là giải pháp công hiệu. Nhìn lại lịch sử nhân loại, những nhân vật có được loại quyền lực tối thượng này, họ không phải là những người có hạnh phúc. Sinh hoạt sống cho ta thấy rằng họ không phải là người có sự bình an trong tự thân. Tại sao vậy? Bởi vì họ nghĩ là họ có quyền lực áp chế toàn thể thế giới một cách tuyệt đối, nhưng rõ ràng là không phải thế. Họ muốn mọi người phải phục tùng họ, nhưng trên thế gian bao giờ vẫn luôn luôn có những người không thích phục tùng kẻ khác. Họ cũng không thể điều khiển những tinh hà. Họ vẫn bị bệnh và vẫn phải chết.

Bạn không thể nào có được tất cả những gì mình muốn. Đó là điều không thể nào xảy ra. May mắn thay, còn có một sự chọn lựa khác. Bạn có thể học cách kiểm soát tâm của mình, để có thể tách rời cái vòng lẩn quẩn của Tham lam và Si mê. Có thể học cách không tham cầu những gì mình muốn, học cách nhận biết lòng tham lam và không để cho nó điều khiển bạn nữa. Điều này không có nghĩa là, bạn sẽ nằm trên lối đi để mời gọi mọi người chà đạp lên thân xác của mình. Nó có nghĩa là, bạn vẫn tiếp tục sống một đời sống bình thường,nhưng sống với một nhân sinh quan mới và khác hơn. Bạn vẫn làm những gì một con người cần phải làm, nhưng không còn bị ám ảnh, hay có xu hướng bị tác động bởi chính lòng tham lam của mình nữa. Bạn vẫn có thể muốn một điều gì đó, nhưng không cần phải đeo đuổi nó,vẫn có thể còn sợ thứ gì đó, nhưng không cần phải đứng đó mà chịu trận. Những thái độ tâm lý như thế này thì rất khó thực hiện. Nó cần rất nhiều thời gian huấn luyện để đạt đến. Nhưng muốn điều khiển tất cả thế gian thì “không thể nào”. Khó khăn thì khả dĩ có thể thực hiện nếu so sánh với “không thể nào”, phải không?

Xin vui lòng đợi một chút. Nói đến “Bình an” và “Hạnh phúc”, đó không phải là những gì mà nền văn minh nhân loại luôn hướng về hay sao? Chúng ta tạo dựng nên những kiến trúc đồ sộ như là cao ốc, xa lộ cao tốc, có những cuộc nghĩ hè, truyền hình nhiều màu, những phúc lợi như là y thuật trị liệu, ngày nghỉ bệnh, trợ cấp xã hội, trợ cấp lợi tức, v.v… Tất cả những thứ đó đều nhằm mục đích cung cấp một chừng mực nào đó về “Bình an” và “Hạnh phúc” cho con người. Nhưng mức độ về bệnh tinh thần vẫn tăng trưởng đều đặn và tệ nạn xã hội vẫn leo thang vượt bậc. Đường phố vẫn tràn ngập kẻ phạm tội và kẻ quá khích. Khi bạn ra khỏi nhà, chỉ trong một phút giây không cảnh giác, là có thể có kẻ nào đó giật đi chiếc đồng hồ đang đeo trên tay của bạn. Luôn luôn có điều gì đó không ổn đang chờ trực. Một người đang vui vẻ thì không thể nào có động cơ đi giết hại kẻ khác. Chúng ta thích nghĩ là, cái xã hội này đang tận dụng mọi tiềm năng của con người để đạt được hòa bình và hạnh phúc. Chúng ta chỉ mới bắt đầu nhận thức ra là, con người đã phải trả một cái giá quá lớn — bằng mảnh tâm linh và tình cảm của nhân loại — cho sự phát triển vượt bậc trên lãnh vực vật chất. Và chúng ta vẫn còn đang tiếp tục trả thêm vào cái giá cho sự sai lầm ấy. Tiêu biểu cho điều cần phải nói là tình trạng thoái hóa đạo đức và suy đồi tâm linh của xã hội Hoa kỳ ngày nay, và có nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong phạm trù này. Nơi mà có thể bắt đầu tốt nhất là phần tâm linh của chúng ta. Nhìn vào bên trong một cách cẩn trọng, thành thật và khách quan, mỗi người trong chúng ta sẽ thấy có lúc “Tôi là một kẻ côn đồ” hay là “Tôi là một người điên rồ.” Chúng ta sẽ học để thấy những phút giây này, nhìn chúng một cách rõ ràng, trong sáng, mà không có sự kết tội, để rồi chúng ta sẽ trưởng thành hơn và sống tích cực hơn.

Bạn không thể nào tạo ra những đổi thay triệt để về lối sống rập khuôn của mình, cho đến khi nào, bạn bắt đầu thấy được bản thân của mình một cách tường tận như những gì bạn-đang-là. Cho đến bao giờ bạn làm được điều này, sự đổi thay sẽ xảy ra một cách rất tự nhiên. Bạn không cần phải tự cưỡng ép, hay đấm đá, hay tuân thủ theo những luật lệ của một đấng thẩm quyền nào đó đang điều khiển bạn. Sự đổi khác tự động xảy ra, thế thôi! Nó rất là tự nhiên. Nhưng đi đến trạng thái kinh nghiệm trực giác lần đầu tiên là một việc làm rất ư là gian nan. Bạn phải thấy ra là: “bạn là ai?” và “bạn ra sao?” mà không có một ảo tưởng, phê phán hay sức đề kháng nào cả. Bạn phải thấy được vị trí và chức năng thật sự của mình trong guồng máy xã hội trong phút giây hiện tại. Thấy ra được chức nghiệp và bổn phận của mình đối với mọi người chung quanh; và trên hơn cả, trách nhiệm đối với chính mình như là một cá nhân đang sinh tồn chung với những phần tử cá nhân khác. Cho nên, bạn phải thấy tất cả một cách rõ ràng và như là một khối, một cấu trúc đơn giản với đầy những mối tương quan bên trong. Nghe qua có vẻ rất phức tạp, nhưng nó thường xảy ra trong một khoảnh khắc thời gian. Thái độ tâm linh này — để nhận biết ra những điều trên — thì không có bị kình chống gì với thiền định, trong quá trình giúp cho bạn đạt được sự hiểu biết hay trạng thái tĩnh lặng.

Trong Kinh điển Phật giáo đã lưu truyền nhiều ngàn năm qua có ghi lại: “Chúng ta ngày nay ra sao là cái kết quả của những gì chúng ta đã làm trong quá khứ. Chúng ta sẽ là những gì trong ngày mai chính là kết quả của những gì chúng ta đang làm trong hôm nay. Cái hậu quả của cái tâm bất thiện sẽ theo bạn như cổ xe theo con bò đang kéo nó. Cái hậu quả của cái tâm thiện sẽ theo bạn như bóng theo hình. Không một ai có thể làm khác hơn cho bạn ngoài cái tâm thiện lành của chính mình — không phải cha mẹ, người thân, bạn bè, hay bất cứ một ai khác. Cái tâm được huấn luyện tốt sẽ mang lại hạnh phúc.”

Thiền định dùng để thanh lọc tâm. Nó làm sạch cái quá trình tư duy của những gì được gọi là tâm lý khó chịu, những trạng thái như: Tham, Ghét và Ganh tỵ, những thứ làm cho cảm giác của con người bị bế tắc. Thiền định mang đến cho tâm một trạng thái tĩnh lặng và tỉnh giác, một trạng thái Thiền Định và Tuệ giác.

Trong xã hội ngày nay, con người tin tưởng sâu sắc vào nền giáo dục. Ai cũng tin rằng, giáo dục tạo ra những con người có trình độ văn hóa. Tuy thế, nền văn minh cũng đánh bóng con người một cách rất hời hợt. Xét lại có phải hay không, chính những người lãnh đạo có trình độ văn hóa cao đã tạo ra chiến tranh và sự suy sụp kinh tế qua các chiêu bài cao thượng, cải cách, thi hành pháp luật. Có sự khác biệt rất lớn trong lề lối tuân thủ luật lệ. Một mặt, bởi vì một người biết ra — qua kiến thức, hình tượng hóa — trước được sự bị trừng phạt, cho nên sợ cái hậu quả nếu không tuân theo lề luật. Còn mặt kia, là vì bởi người đó đã thanh lọc bản thân không để bị ô nhiễm do Tham lam; chính lòng tham đã tác động một cá nhân có hành động trộm cướp, ganh ghét, hay sát sinh. Ném một cục đá vào dòng nước, dòng nước chỉ gợn lên cơn sóng rồi sẽ phẳng lặng dần, nhưng bên trong viên đá kia thì không có gì thay đổi. Nếu ném viên đá ấy vào trong lò luyện kim, cả viên đá sẽ biến đổi từ trong ra ngoài. Nó bị tan chảy. Văn minh thay đổi con người ở bề mặt bên ngoài, còn thiền định làm mềm con người từ bên trong, xuyên suốt.

Thiền định còn được gọi là vị thầy vĩ đại. Nó là một ngọn lửa chuyên dùng để tinh lọc những kim loại, tuy chậm nhưng có kết quả rất hữu hiệu. Sự hiểu biết càng thấu đáo bao nhiêu, thì bạn có chừng bấy nhiêu sự linh hoạt và sự chịu đựng. Sự hiểu biết càng sâu rộng bao nhiêu, thì lòng thương cảm nơi người tu thiền càng lan rộng bấy nhiêu. Bạn trở thành bậc cha mẹ hoàn hảo hơn, một người thầy lý tưởng hơn, sẵn sàng tha thứ và khoan dung đối với người khác. Bạn cảm thấy thương yêu và cảm thông người khác nhiều hơn. Bởi vì bạn đã hiểu được chính mình, cho nên cũng hiểu được người khác. Khi đã nhìn thật sâu vào bên trong và đã thấy được lòng tự kỷ ám thị, cũng như những nhược điểm của chính mình, bạn sẽ thấy ra lòng nhân đạo vốn có, để rồi học làm sao thành thật tha thứ và thương yêu. Khi đã học được lòng thương cảm đối với chính bản thân, thì lòng thương cảm đối với người khác tự nhiên phát sinh. Một thiền giả hoàn hảo thì đã đạt đến sự hiểu biết thâm sâu về cuộc đời và người ấy sống trong thế gian với lòng từ bi bao la, vô biên.

Thiền định cũng giống như canh tác trên một mảnh đất mới. Muốn biến một mảnh rừng hoang thành một thửa đất trồng trọt, thì trước hết bạn phải san bằng hết cây và bứng hết các gốc. Rồi sau đó mới xới đất, bón phân, rãi mầm và chăm sóc cả mùa màng. Để vun trồng tâm, trước tiên bạn phải dọn dẹp hết tất cả những sự bực dọc, cáu kỉnh trên con đường tu tập của mình, nhổ bậc tất cả gốc rễ để chúng không còn đâm chồi ra nữa. Bón phân có nghĩa là bạn cho vào năng lượng và kỷ luật vô mảnh đất tâm. Kế đến bạn rãi mầm và chăm sóc mùa màng bằng niềm tin, giới hạnh, chánh niệm, và trí tuệ.

Xin đặc biệt lưu ý, niềm tin và giới hạnh ở đây có ý nghĩa khác biệt trong hoàn cảnh này. Đạo Phật không tán thành niềm tin theo nghĩa bóng, là tin vào một đấng thần linh nào đó đã được ghi lại trong kinh sách, hay được gán cho bởi các nhà tiên tri, hoặc được truyền đạt đến bạn qua một thẩm quyền nào đó. Ở đây, nó chỉ có nghĩa là tự tin vào khả năng vốn có của chính mình. Nhận xét ra điều gì đó là có thật; bởi vì bạn đã thấy nó khi nhận xét nhiều khía cạnh trong tâm mình. Cùng lý luận đó, giới hạnh không phải là lề lối tuân thủ lễ nghi bên ngoài, hay những áp đặt trong phong cách xử thế. Mục đích của thiền định là sự biến chuyển cá nhân. Cái “tôi” đi vào kinh nghiệm tĩnh lặng ở đầu này thì không giống cái “tôi” đi ra ở đầu kia. Các tính chất của bạn đã bị thay đổi qua quá trình cảm ứng bén nhạy hơn, bởi vì bạn đã phát triển, nâng cao tầm mức cảnh giác về tư tưởng, lời nói, và hành động của mình. Sự ngạo mạn của bạn sẽ bị bốc hơi và lòng thù nghịch cũng bị đốt cháy. Tâm trở nên lắng đọng và yên tĩnh hơn, và đời sống của bạn sẽ được bình thản hơn trước kia. Do đó, tu tập thiền định đúng đắn sẽ trang bị tốt hơn cho thiền giả, khi đối mặt với những thăng trầm của đời sống. Nó giúp giảm bớt căng thẳng, sợ hãi, và lo âu. Nổi bất an giảm xuống, niềm thống khổ cũng vơi nhẹ đi. Mọi thứ bắt đầu đi vào quỹ đạo và cuộc đời của bạn lướt đi thay vì phải vật vả. Tất cả những điều này xảy ra không ngoài sự hiểu biết đúng đắn theo chánh pháp.

Tu thiền sẽ phát triển mạnh khả năng tập trung và suy nghĩ. Sau đó, từng phần một, sự vận hành và kết cấu của tiềm thức trở nên ngày càng rõ ràng hơn đối với bạn. Trực giác sẽ lớn mạnh lên dần. Chất lượng tư duy tăng lên và dần dần bạn có được trí tuệ trực giác về những pháp tạo nên do điều kiện, nhận biết chúng như-nó-là, mà không có sự phán đoán và phân biệt. Cho nên chỉ lý do này cũng đủ để bận tâm phải không? Đúng thế. Đây chỉ là những hứa hẹn trên lý thuyết mà thôi. Vì vậy, chỉ có một cách duy nhất để chứng minh thiền định có giá trị xứng đáng cho sự phấn đấu là: Học phương pháp đúng để rồi thực hành. Tự mình nhận định lấy.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/07/201917:11(Xem: 459)
Phật giáo không phải là tôn giáo để các tín đồ đến tham gia hay phát động như một phong trào, mà tự thân con người sau quá trình học hỏi, tư duy, nhận thức cốt lõi lời dạy của đấng Từ phụ, từ đó phát tâm tìm đến, thân cận và quy y Tam Bảo: ‘Hôm nay mong giác ngộ hồi đầu - Tịnh tâm ý quy y Tam Bảo’. Với lòng tịnh tín bất động, con người đầu thành vâng giữ mạng mạch giáo pháp, dốc lòng phụng hành đạo lý mình chọn, con người nhờ vậy được chân lý, chánh pháp che chở, thành tựu ‘Phép Phật nhiệm màu – Để mau ra khỏi luân hồi’.
07/07/201915:41(Xem: 332)
Triết lý hay mục đích sống là lý tưởng, giá trị cốt lõi của mỗi người, chính vì thế mà ngày nay,hầu hết trong chúng ta, ai cũng có khuynh hướngtìm về sự thật, mộtgiải pháp cứu cánh, rốt ráo, an toànvì ‘hòa bình bền vững’, xã hội trật tự vàngày ngày an lành ... Hòa chungtrách nhiệm, bản hoài, thông điệp : ‘Chân lý chỉ có một’,[1]đồng nghĩa với ‘Sự lãnh đạo bằng chánh niệm’ qua cách tiếp cận của Phật giáo, mang vạn niềm vui đến với muôn loài. Thật vậy, Phật giáo với trọng trách mang ‘an vui lâu dài’, là nội dung cốt lõi của xã hội nhân loại, cũng là tiền đề cho một xã hội bền vững;trong đó mỗi cá thể cần củng cố,xây dựngnội tâmkiên cố dựa trên phương cách lãnh đạo bằng‘chánh niệm’, đểcùng nhìn lại, quán chiếu và cùng dẫn đến trách nhiệm sẻ chia …
29/06/201915:32(Xem: 563)
"Nhân sinh": đời người, cuộc sống con người "Quan": cái nhìn, quan niệm "Nhân sinh Quan" nghĩa là "cái nhìn" hay "quan niệm" về đời sống của con người. A) Con người từ đâu mà có? Phật giáo giải đáp câu hỏi ngàn đời nầy bằng giáo thuyếtThập nhị Nhân duyên, tức là chuỗi 12 nhân duyên dây chuyền sau đây: 1) Vô minh: Do một niệm bất giác mà phát sinh mê lầm, chấp ngã chấp pháp, do đó mà khởi ra Phiền não - nên cũng gọi là Hoặc. Chúng ta không thể tìm ra điểm khởi đầu của sự Vô minhđã khởi đầu cho sự hiện hữu của chúng sinh và vạn vật, hữu tình cũng như vô tình.
12/04/201908:01(Xem: 726)
Thế mới biết trăm sông rồi cũng đổ về biển, dung hòa một vị mặn của đại dương; muôn pháp cùng đổ vào biển tuệ, thuần một vị giải thoát.Những lời dạy của đức Phật được ghi chép thành Tam tạng kinh điển, trở thành một trong những kho tàng trí tuệ vĩ đại nhất của nhân loại. Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật được truyền bá rộng rãi khắp năm châu và bị ảnh hưởng cũng không nhỏ bởi nhiều nền văn hóa khác. Từ đó, đạo Phật phát triển với các biểu tượng về tôn giáo, về các hình thức nghi lễ, và kể cả những pháp môn tu hành của những khóa tu ở mỗi nơi.Chính vì thế, đạo Phật bị đa dạng hoá về hình thức lẫn nội dung tu tập, thể hiện qua nhiều pháp môn. Như vậy trong thời đại bây giờ, đặt ra cho chúng ta sự lựa chọn; pháp môn nào là đúng, phápmôn nào là sai? Không có pháp môn nào là đúng và không có pháp môn nào là sai cả. Tại sao? Vì pháp môn tu không có lỗi, mà lỗi ở tại con người làm đúng hay sai mà thôi.
14/02/201918:04(Xem: 1191)
Thuở xưa có một ông vua hiền đức, cai trị công bằng, dân chúng trong nước sống thanh bình. Một hôm, dưới sự đề nghị của cận thần tả hữu, vua triệu tập tất cả trưởng lão tôn túc của các tôn giáo trong nước. Khi tất cả có mặt đầy đủ, vua nói:
13/12/201815:03(Xem: 883)
Suy nghĩ về Mười Hai Nhân Duyên - GS Trần Tuấn Mẫn , Nguyên văn đoạn kinh trong phẩm Phật-đà, Tương ưng bộ, như sau: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là lý duyên khởi? Này các Tỳ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi”.
02/12/201807:48(Xem: 1789)
Thời gian gần đây nhiều Phật tử đã yêu cầu tôi giải thích những lời dạy vô giá của Phật theo phương cách hiện đại, xử dụng thuật ngữ và diễn giải thực tế, có hiệu quả, thực tiễn và không quá cao siêu. Theo phương cách dễ hiểu và thực tế để áp dụng trong đời sống hằng ngày. Đây là tập sách đầu của một chuỗi những tập sách nhằm mục đích đáp ứng những thỉnh cầu này. Đây là tập sách sưu tập gồm 50 lời dạy ngắn kèm theo chú giải chi tiết dài ngắn khác nhau, mục đích để khuyến khích tất cả những vị đã dành thời gian để đọc và thực hành những lời dạy này để phát triển sự hiếu biết chân thật và lòng từ bi.
05/11/201815:57(Xem: 1012)
“Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời hãy từ bỏ chúng! Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: ‘các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này được các người có trí tán thán; các pháp này nếu được chấp nhận và thực hiện đưa đến hạnh phúc an lạc’, thời hãy từ đạt đến và an trú!” Đức Phật (Kinh Tăng Chi Bộ)
18/10/201818:40(Xem: 983)
Phải nghi trước, rồi gỡ được nỗi nghi xong, bấy giờ tin tưởng mới chắc thật. Đó là chuyện của người tộc họ Kalama ở thành phố Kesaputta thời hơn 2,500 năm về trước. Thực tế, thời nào cũng có người Kalama, chứ không phải chỉ trong thời xa xưa. Có thể đoán rằng, những người mang dòng máu Kalama mạnh nhất, hẳn là các nhà khoa học – thí dụ, như các nhà vật lý thiên tài Albert Einstein, Stephen Hawking... Chớ hòng ai thuyết phục họ tin cái gì không thuận lý.
04/09/201818:42(Xem: 1516)
Tu Tứ Đế Pháp, Bốn Chân Lý Chắc Thật, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi Chứng Đạo dẹp tan sự quấy nhiễu của ma quân ở cõi Trời Tha hóa thứ sáu vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Tân-Mùi. Việt lịch Năm 2256 HBK*. Tr.BC.596. Sau Thời Hoa Nghiêm Phật đến vườn Lộc Dã Uyển truyền dạy Bốn Pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị từng theo Phật cùng tu thuở trước, thành bậc Tỳ Khưu đắc đạo. Năm vị đó là: 1/. A Nhã Kiều Trần Như, 2/. A-Thấp Bà, (Mã-thắng) , 3/ .Bạt-Đề, 4/. Ma-Ha-Nam, 5/. Thập-Lực-Ca-Diếp. Năm Vị nghe pháp Tứ Đế rồi, tu tập chứng A La Hớn Quả. Tứ Đế Pháp: 1. Khổ Đế. 2. Tập Đế. 3. Diệt Đế. 4. Đạo Đế. -Khổ Đế, là Ác quả của Tập Đế. -Tập Đế, là tạo Nhân xấu của Khổ Đế. -Diệt Đế, là Thiện quả của Đạo đế. -Đạo Đế, là Nhân tu của Diệt Đế.