Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Nhập Như Lai Tạng

21/05/201313:24(Xem: 7492)
Nhập Như Lai Tạng

Kinh Thắng Man

Nhập Như Lai Tạng

Hòa Thượng Thích Trí Quang

Nguồn: Hòa Thượng Thích Trí Quang

5. Xác Quyết Nhất Thừa

Đức Thế tôn dạy Thắng man, hoàng hậu nay hãy nói thêm nữa về sự thu nhận chánh pháp mà Như lai đã nói toàn thể chư vị Như lai đều ưa thích. Thắng man thưa, bạch đức Thế tôn, thu nhận chánh pháp thì gọi là đại thừa. Tại sao, vì đại thừa thì xuất ra tất cả thiện pháp của thế gian và xuất thế, của thanh văn và duyên giác. Bạch đức Thế tôn, như hồ A nậu là nơi phát nguyên của 8 con sông lớn, đại thừa là nơi phát nguyên tất cả thiện pháp của thế gian và xuất thế, của thanh văn và duyên giác. Bạch đức Thế tôn, mọi hạt giống, mọi cây cỏ rừng rú đều do địa cầu mà sinh ra và lớn lên, cũng y như vậy, mọi thiện pháp của thế gian và xuất thế, của thanh văn và duyên giác đều do đại thừa mà sinh ra và lớn lên. Thế nên, bạch đức Thế tôn, trú ở đại thừa, thu nhận đại thừa, thì như thế là trú ở và thu nhận mọi thiện pháp của thế gian và xuất thế, của thanh văn và duyên giác.
Bạch đức Thế tôn, như Ngài dạy về 6 điều, đó là chánh pháp còn, chánh pháp mất, biệt giải thoát, tỳ nại da, chính xuất gia, thọ cụ túc. Ấy là đức Thế tôn vì đại thừa mà nói 6 điều như vậy. Làm sao biết được? Vì chánh pháp còn thì chánh pháp ấy là đại thừa: đại thừa còn là chánh pháp còn. Chánh pháp mất thì chánh pháp ấy là đại thừa: đại thừa mất là chánh pháp mất. Biệt giải thoát với tỳ nại da, 2 điều này nghĩa một mà tên khác. Tỳ nại da (hay biệt giải thoát) là giới học đại thừa, tại sao, vì nương tựa (14) đức Thế tôn mới chính xuất gia và thọ cụ túc. Do vậy, giới học đại thừa là tỳ nại da (hay biệt giải thoát), là chính xuất gia, là thọ cụ túc.
Bạch đức Thế tôn, la hán không có chính xuất gia và thọ cụ túc, vì sao, vì la hán không nương tựa đức Thế tôn thì (không có) chính xuất gia và thọ cụ túc (15) . La hán còn có tư tưởng sợ hãi nên qui y đức Thế tôn. La hán đối với các hành vẫn có tư tưởng sợ hãi, tình trạng như một kẻ cầm kiếm muốn tự hại mình, do vậy, la hán không chứng được sự xuất ly và sự an lạc tuyệt đối. Bạch đức Thế tôn, nương tựa là nương tựa với bậc không cầu sự nương tựa nữa. Mọi sinh vật không có nơi nương tựa, nên sinh vật nào cũng sợ hãi, và muốn yên ổn nên sinh vật nào cũng tìm nơi nương tựa. La hán cũng vậy, vì có tư tưởng sợ hãi nên qui y đức Thế tôn. Thế nên la hán và duyên giác sinh pháp đang còn, phạn hạnh chưa lập, việc làm chưa xong, còn có đoạn trừ, chưa được cứu cánh, cách xa niết bàn. Tại sao, vì chỉ có đức Thế tôn, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, mới chứng niết bàn, thành tựu vô lượng công đức ngoài tầm tư duy và thảo luận, cái gì đáng đoạn trừ thì đã đoạn trừ cả rồi, đã thanh tịnh tuyệt đối, làm một bậc cho chúng sinh chiêm ngưỡng, siêu việt lĩnh vực nhị thừa và bồ tát. La hán đâu có được như vậy. La hán được niết bàn, đó chỉ là lời nói phương tiện của đức Thế tôn. Thế nên la hán cách xa niết bàn. Bạch đức Thế tôn, ngài nói la hán duyên giác quán sát giải thoát bằng 4 tuệ giác (16) cứu cánh, được chỗ yên nghỉ; nói như thế toàn là đức Thế tôn nói theo ý người khác, nói không trọn nghĩa. Tại sao con biết như vậy? Vì chết có 2 loại, một là từng đời, hai là thay đổi. Chết từng đời là chúng sinh (chết đời này rồi chết đời khác) một cách liên tục. Chết thay đổi là ý sinh thân của la hán, duyên giác và bồ tát tự tại (17) , cho đến khi thành tựu vô thượng bồ đề, (chỉ thay đổi cấp độ mà thôi). Trong 2 loại chết đó, lấy loại chết từng đời mà nói la hán và duyên giác sinh ra cái tuệ giác ta sinh đã hết; do chứng được niết bàn chưa toàn (18) nên sinh ra cái tuệ giác phạn hạnh đã lập; phàm phu không làm được, 7 bậc đang còn tu học (19) chưa làm xong, các phiền não liên tục đã đoạn trừ trọn vẹn, nên sinh ra cái tuệ giác việc làm đã xong. Còn nói sinh ra cái tuệ giác không còn đời sau, thì la hán duyên giác không thể đoạn trừ tất cả phiền não, nên không trọn vẹn cái tuệ giác không còn mọi sự thọ sinh.
Tại sao như vậy? Vì la hán và duyên giác còn thừa phiền não mà không phải đoạn trừ đã hết, do vậy, các vị ấy không thể trọn vẹn không còn mọi sự thọ sinh. Phiền não có 2 loại, một là phiền não trú địa, hai là phiền não phát sinh. Phiền não trú địa có 4, là kiến của 3 cõi, ái của cõi Dục, ái của cõi Sắc, ái của cõi Vô sắc; 4 phiền não này tạo ra mọi phiền não. Còn phiền não phát sinh (thì có 2 loại). Có loại tương ứng với tâm trong từng sát na (thì gọi là phiền não trú địa); còn loại vô minh trú địa thì vô thỉ đến giờ không tương ứng với tâm (20) . Bạch đức Thế tôn, 4 phiền não trú địa tuy tạo ra phiền não, nhưng so với vô minh trú địa thì toán học và ví dụ cũng không thể đối tỷ. Vô minh trú địa thế lực của nó còn hơn cả ái của cõi Vô sắc. Ví như sắc đẹp, sức mạnh và uy thế của ma vương, và tùy thuộc của nó, làm khuất mờ tất cả chư thiên Tha hóa tự tại; vô minh trú địa cũng vậy, nó làm khuất mờ tất cả 4 phiền não trú địa, nó làm chỗ dựa cho phiền não nhiều hơn hằng sa, và cũng chính nó làm cho 4 phiền não trú địa tồn tại lâu dài. Nó thì tuệ giác la hán duyên giác không thể đoạn trừ, mà đoạn trừ nó thì chỉ có tuệ giác của đức Thế tôn. Bạch đức Thế tôn, đúng như vậy, đúng như vậy, sức mạnh vô minh trú địa rất lớn. Bạch đức Thế tôn, như do thủ làm duyên tố mà nghiệp nhân hữu lậu tạo ra 3 hữu, vô minh trú địa cũng vậy, chính nó làm duyên tố mà nghiệp nhân vô lậu tạo ra ý sinh thân của la hán, duyên giác và bồ tát đại lực (21) . Ý sinh thân của 3 địa vị này, cùng với nghiệp nhân vô lậu, toàn là do vô minh trú địa làm căn cứ. Vô minh trú địa vừa có duyên tố, vừa làm duyên tố. Bạch đức Thế tôn, do vậy, 3 ý sinh thân, cùng với nghiệp nhân vô lậu, toàn là do vô minh trú địa làm duyên tố, giống như ái của cõi Vô sắc. Nhưng, bạch đức Thế tôn, ái của cõi Vô sắc không giống với tác dụng của vô minh trú địa, vô minh trú địa khác với 4 phiền não trú địa: vì khác với 4 phiền não trú địa nên chỉ có đức Thế tôn mới đoạn trừ được. La hán duyên giác chỉ đoạn trừ 4 phiền não trú địa nên lậu tận lực không được tự tại, không thể hiện chứng. Do vậy, nói (la hán duyên giác) lậu tận (chỉ là) lời nói thêm của đức Thế tôn. Thế nên la hán duyên giác với bồ tát tối hậu thân toàn bị vô minh trú địa che khuất, không biết không thấy các pháp, vì không thấy không biết các pháp nên cái đáng đoạn trừ thì chưa đoạn trừ, cái đáng chấm hết thì chưa chấm hết: vì chưa đoạn trừ chưa chấm hết các pháp (đáng đoạn trừ và đáng chấm hết), nên chỉ được sự giải thoát chưa toàn chứ không phải sự giải thoát hoàn toàn, được sự thanh tịnh chưa toàn chứ không phải sự thanh tịnh tất cả, được công đức chưa toàn chứ không phải công đức toàn bộ. Bạch đức Thế tôn, vì được giải thoát chưa toàn chứ không phải giải thoát hoàn toàn, cho đến được công đức chưa toàn chứ không phải công đức toàn bộ, nên biết khổ chưa hết, đoạn tập chưa hết, chứng diệt chưa hết, và tu đạo chưa hết.
Hoàng hậu Thắng man bấy giờ lại thưa: bạch đức Thế tôn, nếu biết khổ chưa hết, đoạn tập chưa hết, chứng diệt chưa hết, tu đạo chưa hết, thì như thế dầu hướng về niết bàn mà chỉ gọi là diệt độ một phần, niết bàn một phần. Nếu biết khổ hoàn toàn, đoạn tập hoàn toàn, chứng diệt hoàn toàn, tu đạo hoàn toàn, thì trong cái thế giới vô thường đổ nát, vị này chứng được cái niết bàn thường còn, vắng lặng và trong mát. Vị này làm người che chở và làm chỗ nương tựa cho cái thế giới không ai che chở, không nơi nương tựa. Nhưng thấy các pháp có cao có thấp thì không chứng niết bàn. Tuệ giác đồng đẳng, giải thoát đồng đẳng, thanh tịnh đồng đẳng, mới chứng niết bàn. Nên niết bàn là đồng đẳng một mùi vị. Một mùi vị ấy là mùi vị giải thoát. Nếu vô minh trú địa mà không đoạn trừ và không chấm hết, thì không được mùi vị đồng nhất và đồng đẳng của niết bàn. Vì sao, vì vô minh trú địa không đoạn trừ và không chấm hết, thì mọi tội lỗi nhiều hơn hằng sa đáng đoạn trừ không đoạn trừ, đáng chấm hết không chấm hết; vì tội lỗi nhiều hằng sa không đoạn trừ và không chấm hết, nên công đức nhiều hơn hằng sa sẽ không trọn vẹn, không thực hiện. Dó đó mà biết vô minh trú địa là nơi phát sinh tất cả phiền não cần phải đoạn trừ: chính từ nó mà phát sinh phiền não nhiều hơn hằng sa, chướng ngại cho tâm, chướng ngại cho chỉ, chướng ngại cho quán, chướng ngại cho định, chướng ngại đẳng trì, chướng ngại da hành, các tuệ giác, các đạo quả, chướng ngại chứng đắc các lực, vô úy. Phải là tuệ giác bồ đề của đức Thế tôn và tuệ giác kim cang của đức Thế tôn mới đoạn được loại phiền não phát sinh này. Loại phiền não phát sinh này nương tựa vô minh trú địa, do vô minh trú địa làm nhân tố và duyên tố. Loại phiền não phát sinh này tương ứng với tâm trong từng sát na, nhưng vô minh trú địa thì vô thỉ đến giờ không tương ứng với tâm. Bạch đức Thế tôn, nhiều hơn hằng sa, tất cả những gì cần phải đoạn trừ bởi tuệ giác bồ đề và tuệ giác kim cang, thì toàn là vô minh trú địa làm căn cứ mà cấu trúc. Tựa như mọi hạt giống và rừng rú đều do địa cầu mà sinh ra và lớn lên, nếu địa cầu hư hỏng, thì mọi hạt giống và rừng rú cũng hư hỏng theo, cũng y như thế ấy, những gì nhiều hơn hằng sa cần phải đoạn trừ bởi tuệ giác bồ đề và tuệ giác kim cang của đức Thế tôn toàn là do vô minh trú địa mà sinh ra và lớn lên. Nếu vô minh trú địa bị đoạn trừ, thì những gì nhiều hơn hằng sa cần phải đoạn trừ bởi tuệ giác bồ đề và tuệ giác kim cang của đức Thế tôn cũng tùy theo mà đoạn trừ. Như thế đó, những gì nhiều hơn hằng sa cần phải đoạn trừ, tức tất cả phiền não trú địa và phiền não phát sinh đoạn trừ cả rồi, thì thực hiện được phẩm chất của đức Thế tôn nhiều hơn hằngsa và ngoài tầm nghĩ bàn, đối với toàn thể các pháp thì chứng được thần thông vô ngại, chứng được trí và chứng được kiến, siêu thoát lỗi lầm, thủ đắc công đức, làm bậc đại pháp vương, tự tại đối với các pháp, đạt đến vị trí tự tại đối với các pháp, và như sư tử gầm lên, rằng ta sinh đã hết, phạn hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn đời sau. Như sư tử gầm lên, đức Thế tôn đã căn cứ vào nghĩa lý cứu cánh mà ghi nhận và tuyên ngôn quyết định như vậy.
Bạch đức Thế tôn, không còn đời sau, tuệ giác này có 2 loại. Loại thứ nhất là các đức Thế tôn sử dụng năng lực thuần hóa mà chiến thắng ma quân, siêu việt thế giới, mọi người chiêm ngưỡng, chứng đắc pháp thân thanh tịnh và ngoài tầm nghĩ bàn, được sự tự tại đối với các pháp sở tri, cao hơn tất cả, không ai trên nữa, không còn làm gì, không thấy có nữa vị trí chứng đắc, hoàn hảo 10 lực, bước lên vị trí tối thắng vô úy, đối với các pháp thì quan sát vô ngại, như sư tử gầm lên, tuyên cáo không còn đời sau. Loại thứ hai là la hán duyên giác vượt được sự sợ hãi của sự sống chết vô cùng, hưởng thụ cái vui giải thoát, nghĩ rằng nay ta đã hết sợ sống chết, không chịu khổ não. Bạch đức Thế tôn, la hán và duyên giác quan sát như vậy, gọi là không còn đời sau, nhưng họ không chứng được niết bàn là chỗ yên nghỉ bậc nhất. Đối với vị trí chưa chứng được đó, dầu không gặp giáo pháp (đại thừa) đi nữa, họ cũng tự biết chỉ chứng được vị trí chưa toàn, và quyết định sẽ chứng được vô thượng bồ đề. Tại sao như vậy, vì thanh văn và duyên giác toàn là sẽ nhập vào đại thừa. Mà đại thừa là Phật thừa. Do vậy, 3 thừa là 1 thừa, chứng 1 thừa là chứng được vô thượng bồ đề. Vô thượng bồ đề là niết bàn. Niết bàn là pháp thân của đức Thế tôn. Mà pháp thân chính là nhất thừa, chứ không có Thế tôn nào khác, không có pháp thân nào khác. Thế tôn là pháp thân, chứng được pháp thân cứu cánh chính là nhất thừa cứu cánh. Nhất thừa cứu cánh thì (thường trú), siêu việt sự liên tục. Tại sao như vậy, bởi vì Thế tôn tồn tại không có giới hạn, đồng đẳng với thì gian cuối cùng. Thế tôn đem đại bi vô giới hạn và đem đại nguyện vô giới hạn mà lợi ích cho thế giới: nói như vậy là nói đúng. Nếu nói Thế tôn là thường trú, là bất tận, là bậc mà thế giới nương tựa được tuyệt đối: nói như vậy cũng là nói đúng. Ấy vậy, bậc mà cùng tận thì gian vị lai làm nơi nương tựa vô tận, thường trú và cứu cánh cho cái thế giới không ai che chở, không nơi nương tựa, bậc ấy là Phật, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp. Còn Pháp là giáo pháp nhất thừa, Tăng là tăng chúng tam thừa, 2 nơi qui y này không phải qui y cứu cánh, mà chỉ gọi là qui y phần ít. Tại sao, vì (nếu đã nói là) giáo pháp nhất thừa, chứng pháp thân cứu cánh, (thì đáng lẽ) sau đó không còn nói giáo pháp nhất thừa nữa; còn chúng tăng tam thừa thì vì sợ hãi (sinh tử) nên qui y đức Thế tôn, cầu xuất ly, cầu tu học, còn có việc làm, còn phải hướng về vô thượng bồ đề. Nên 2 nơi qui y trên đây không phải qui y cứu cánh, mà là qui y có giới hạn. Nếu chúng sinh được Thế tôn thuần hóa, qui y Thế tôn, được Pháp thấm nhuần, do tâm ưa thích mà qui y Pháp và Tăng tỷ kheo, thì 2 nơi qui y này là do Pháp thấm nhuần và tin tưởng mà qui y, còn qui y Thế tôn thì không phải do Pháp thấm nhuần và tin tưởng mà qui y. Qui y Thế tôn là qui y một cách chân thật; 2 sự qui y Pháp và Tăng (dựa vào) sự chân thật ấy mà gọi (chung) là cứu cánh qui y Thế tôn. Tại sao, bởi vì Thế tôn thì không khác Pháp và Tăng. Do vậy, Thế tôn là 3 qui y. Nói về nhất thừa là nói Thế tôn hoàn thiện 4 vô úy và nói như sư tử gầm. Nếu Thế tôn tùy ý muốn của người (thì Ngài) phương tiện nói nhị thừa là đại thừa. Vì thật ra theo chân lý bậc nhất thì không có nhị thừa, mà nhị thừa nhập vào nhất thừa. Nhất thừa chính là cái thừa chân lý bậc nhất.

6. Chân Lý Vô Biên

Bạch đức Thế tôn, thanh văn duyên giác khi mới chứng thánh đế, là không phải đem một cái trí đoạn trừ phiền não trú địa, cũng không phải đem một cái trí chứng 4 thứ biến tri và những công đức tùy thuộc, cũng không phải đem pháp mà biết khéo về 4 nghĩa của pháp. Bạch đức Thế tôn, cái trí xuất thế không có 4 trí đến dần và biết dần. Cái trí xuất thế không có sự đến dần, nên ví dụ như kim cương. Bạch đức Thế tôn, thanh văn duyên giác đem các cái trí thánh đế mà đoạn trừ các phiền não trú địa, chứ họ không có cái trí xuất thế bậc nhất. Chỉ có đức Thế tôn, bậc như lai ứng cúng chánh biến tri, không phải lĩnh vực thanh văn duyên giác, mới đem cái trí không một cách bất khả tư nghị mà phá vỡ tất cả cái vỏ phiền não. Cái trí cứu cánh phá vỡ tất cả cái vỏ phiền não ấy gọi là trí xuất thế bậc nhất. Cái trí đầu tiên về thánh đế không phải cái trí cứu cánh ấy, mà chỉ là cái trí hướng đến vô thượng bồ đề. Thế nên, bạch đức Thế tôn, nói bậc thánh chân thật thì không phải là nhị thừa, bởi vì nhị thừa chỉ thành tựu một ít công đức, nên họ được gọi là thánh mà thôi. Bạch đức Thế tôn, nói thánh đế thì cũng không phải thánh đế, và công đức thánh đế ấy, của thanh văn duyên giác. Thánh đế ấy chỉ có đức Thế tôn, bậc như lai ứng cúng chánh biến tri mới biết rõ trước tiên, rồi sau đó mới khai thị diễn nói cho mọi người đang ở trong vỏ vô minh, do vậy mà gọi là thánh đế.

7. Như Lai Tạng

Bạch đức Thế tôn, thánh đế như trên đã nói thì rất sâu, tinh tế, khó thấy, khó biết, không thể phân biệt, không phải lĩnh vực tư duy, thế giới không tin, chỉ có đức Thế tôn, bậc như lai ứng cúng chánh biến tri mới biết được. Tại sao, bởi vì thánh đế ấy là nói về Như lai tạng rất sâu. Như lai tạng là lĩnh vực của đức Thế tôn, không phải đối tượng của thanh văn duyên giác. Nơi Như lai tạng mà nói nghĩa lý thánh đế, thì Như lai tạng ấy rất sâu, tinh tế, và thánh đế được nói cũng rất sâu, tinh tế, khó thấy, khó biết, không thể phân biệt, không phải lĩnh vực tư duy, thế giới không tin, chỉ có đức Thế tôn, bậc như lai ứng cúng chánh biến tri mới biết đến.

8. Pháp Thân

Bạch đức Thế tôn, nếu ai không nghi hoặc gì về Như lai tạng đang bị ràng buộc trong vô số phiền não, thì người ấy cũng không nghi hoặc gì về Như lai pháp thân đã thoát khỏi tất cả phiền não. Bạch đức Thế tôn, nếu ai tâm trí thể hội trọn vẹn đối với lĩnh vực bất khả tư nghị và bí mật của đức Thế tôn là Như lai tạng và Như lai pháp thân, thì người ấy có thể tin, có thể hiểu, và có thể thắng giải về 2 loại thánh đế sẽ nói sau đây. Hai loại thánh đế ấy là có tác thành và không tác thành. Thánh đế có tác thành thì không tròn đầy nghĩa lý 4 thánh đế, vì sao, vì do người hộ trì mà vẫn không thể biết tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt và tu tất cả đạo, do vậy họ không thấu triệt hữu vi, vô vi, cùng với niết bàn. Còn thánh đế không tác thành thì tròn đầy nghĩa lý 4 thánh đế, vì sao, vì tự hộ trì lấy mà vẫn biết tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt và tu tất cả đạo. Như vậy là có 8 nghĩa thánh đế mà đức Thế tôn chỉ nói bằng 4 thánh đế. Nghĩa 4 thánh đế không tác thành thì chỉ có đức Thế tôn, bậc như lai ứng cúng chánh biến tri mới làm việc rốt ráo, không phải năng lực thanh văn duyên giác mà làm thấu. Không phải đem cái pháp hơn kém hay thấp vừa cao mà chứng được niết bàn, vậy đức Thế tôn làm việc rốt ráo về thánh đế không tác thành như thế nào? Là đức Thế tôn, bậc như lai ứng cúng chánh biến tri, đã biến tri các khổ, đoạn tận khổ tập là phiền não trú địa và phiền não phát sinh, chứng đắc khổ diệt của tất cả ý sinh thân, và tu tập tất cả đạo diệt khổ. Bạch đức Thế tôn, sự khổ diệt (22) thì không phải là pháp hủy hoại, tại sao, vì sự khổ diệt là không mở đầu, không tác động, không nổi dậy, không cùng tận, thường trú bất động, bản tánh thanh tịnh, ra khỏi vỏ phiền não. Bạch đức Thế tôn, vì Ngài hoàn thành những tuệ giác giải thoát và những pháp bất khả tư nghị, với số lượng nhiều hơn hằng sa, nên gọi là pháp thân. Bạch đức Thế tôn, pháp thân như vậy không tách rời phiền não, nên gọi là Như lai tạng.

9. Chân Thật Bí Ẩn

Bạch đức Thế tôn, Như lai tạng là tuệ giác về cái tánh siêu việt của đức Thế tôn. Như lai tạng thì thanh văn duyên giác chưa hề thấy, chưa hề được, chỉ đức Thế tôn thấu triệt và chứng đắc. Tuệ giác về cái tánh siêu việt của Như lai tạng có 2 thứ. Một là là Như lai tạng như thật không, là tách rời tất cả phiền não không phù hợp tuệ giác giải thoát. Hai là Như lai tạng như thật hữu, là có đủ nhiều hơn hằng sa những pháp bất khả tư nghị phù hợp tuệ giác giải thoát. Hai tuệ giác về cái tánh siêu việt (của Như lai tạng) như vậy, các vị đại thanh văn do tin mà vào được. Bạch đức Thế tôn, tuệ giác về cái tánh siêu việt của thanh văn duyên giác là chuyển theo 4 đói tượng thác loạn (mà chưa biết 4 phâm chất) (23) , do vậy mà họ chưa từng thấy và chưa từng chứng sự khổ diệt hoàn toàn. Chỉ đức Thế tôn mới hiện chứng, vì đã hủy diệt mọi thứ phiền não và tu tập cái đạo diệt khổ.

10. Thánh Đế Duy Nhất

Bạch đức Thế tôn, trong 4 thánh đế, 3 thứ là vô thường, 1 thứ là thường trú. Tại sao, bởi vì 3 thứ thuộc về trạng thái hữu vi. Hữu vi là vô thường. Vô thường là hủy diệt: hủy diệt thì không phải chân lý, không phải thường còn, không phải là chỗ nương tựa. Do vậy, căn cứ nghĩa lý bậc nhất mà nói, thì 3 thứ thánh đế không phải chân lý, không phải thường còn, không phải là chỗ nương tựa.

11. Nương Tựa Duy Nhất

Bạch đức Thế tôn, còn 1 thứ thánh đế khổ diệt thì siêu việt hữu vi. Siêu việt hữu vi thì bản tánh thường trú. Bản tánh thường trú thì không phải là cái pháp hủy diệt. Không phải hủy diệt thì là chân lý, là thường còn, là chỗ nương tựa. Do vậy, bạch đức Thế tôn, căn cứ vào nghĩa lý bậc nhất mà nói thì thánh đế khổ diệt là chân lý, là thường còn, là chỗ nương tựa.

12. Thác Loạn, Chắc Thật

Bạch đức Thế tôn, thánh đế khổ diệt là bất khả tư nghị, vượt quá lĩnh vực tâm thức của chúng sinh, cũng không phải tuệ giác nhị thừa thấu đến. Tựa như người mù bẩm sinh không thấy hình sắc, hay trẻ con 7 ngày tuổi không thấy mặt trời, thánh đế khổ diệt cũng là như vậy, không phải đối tượng của kiến thức phàm phu, cũng không phải đối cảnh của tuệ giác nhị thừa. Kiến thức phàm phu là nhị biên, tuệ giác nhị thừa là trong sạch. Nhị biên là chấp trước 5 uẩn làm tự ngã rồi phát sinh đủ cách phân biệt. Nhị biên là thấy thường hay thấy đoạn. Nếu thấy sinh tử vô thường, thấy niết bàn thường còn, nhưng không phải đoạn kiến hay thường kiến, như thế gọi là chánh kiến. Những kẻ suy tính thì thấy quan năng, cảm giác và tư tưởng, toàn là hiện thực hủy diệt, họ không thấu tính cách liên tục, họ đui mù, không có mắt tuệ, nên nổi lên đoạn kiến; còn đối với sự liên tục của tâm thức thì hủy diệt trong từng đơn vị thì gian, họ không rõ đó là đối tượng ý thức, nên nổi lên thường kiến. Nhưng, những ý nghĩa trên đây quá tầm phân biệt cùng những kiến thức thấp hèn, chỉ do ngu phu nghĩ khác, thác loạn chấp trước, bảo là đoạn, bảo là thường. Bạch đức Thế tôn, người thác loạn thì 5 uẩn vô thường tưởng là thường, khổ tưởng là lạc, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh. Còn tuệ giác trong sạch của nhị thừa thì chưa từng thấy lĩnh vực và pháp thân của đức Thế tôn, nhưng vẫn có vị tin tưởng đức Thế tôn, nên đối với Ngài họ thấy thường, thấy lạc, thấy ngã, thấy tịnh, thì đó không phải là những cái thấy thác loạn, mà chính là thấy chính xác. Tại sao, vì pháp thân Thế tôn là sự thường toàn hảo, sự lạc toàn hảo, sự ngã toàn hảo, sự tịnh toàn hảo. Ai thấy như vậy gọi là thấy chính xác. Thấy chính xác thì gọi là con Phật thật, sinh từ miệng Phật, sinh từ chánh pháp, sinh từ pháp hóa, được phần Phật pháp. Bạch đức Thế tôn, nói tuệ giác trong sạch thì chính là tuệ giác của nhị thừa. Tuệ giác trong sạch ấy, thánh đế khổ diệt còn không phải đối tượng của nó, huống chi thánh đế khổ diệt được biết bởi tuệ giác 4 nhập lưu? Tại sao, vì ai mới tu 3 thừa mà không ngu muội các pháp thì có thể chứng và có thể biết về ý nghĩa này. Bạch đức Thế tôn, vì lý do gì mà Ngài nói 4 nhập lưu? Bốn nhập lưu tuy là pháp thế gian, nhưng được một nhập lưu thì đã là tối thượng đối với mọi thứ nhập lưu; còn lấy nghĩa lý bậc nhất nói là nhập lưu, thì đó là chỗ qui túc, là thánh đế khổ diệt (24) .

13. Bản Tánh Thanh Tịnh

Bạch đức Thế tôn, sống chết là do Như lai tạng. Do như lai tạng mà nói cái thì gian trước hết là không thể biết được. Bạch đức Thế tôn, có Như lai tạng thì có sống chết, nói như vậy là nói khéo. Bạch đức Thế tôn, sống chết là giác quan hủy diệt, rồi liên tục làm cho giác quan chưa nổi lên thì nổi lên, như thế gọi là sống chết. Nên sống chết, 2 sự ấy là do Như lai tạng, nhưng kiến thức bình thường thì gọi là sống chết. Chết là các giác quan hủy diệt, sống là các giác quan nổi lên, mà Như lai tạng thì không sống không chết, không thăng lên không rơi xuống, siêu thoát trạng thái hữu vi. Như lai tạng thường trú, không hủy diệt, do vậy, bạch đức Thế tôn, Như lai tạng là chỗ nương tựa, là nắm giữ, là xây dựng cho kho tàng tuệ giác giải thoát, lại là chỗ nương tựa, là nắm giữ, là xây dựng cho các pháp hữu vi ngoài tuệ giác giải thoát. Bạch đức Thế tôn, không Như lai tạng thì không chán khổ sinh tử, không cầu vui niết bàn. Vì sao, vì 6 thức, và đối tượng của chúng, 7 pháp như vậy một thoáng không ngừng, không lãnh chịu đau khổ, không có khả năng chán sinh tử cầu niết bàn. Như lai tạng không có thì gian trước hết, không sinh không diệt, lãnh chịu đau khổ, và vì chán đau khổ mà cầu niết bàn. Bạch đức Thế tôn, Như lai tạng không tự ngã, không tái sinh, không sinh thể và không sinh mạng. Như lai tạng không phải là đối tượng của những người chấp thân, người thác loạn và người chấp không. Bạch đức Thế tôn, Như lai tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế tạng, là bản tánh thanh tịnh tạng. Cái Như lai tạng bản tánh thanh tịnh, theo chỗ con hiểu, thì dầu bị phiền não ô nhiễm, cũng vẫn là bất khả tư nghị, là lĩnh vực của đức Thế tôn. Tại sao, bạch đức Thế tôn, tại vì trong mỗi đơn vị thì gian, những tâm lý thiện và bất thiện, những phiền não đều không thể ô nhiễm (Như lai tạng): phiền não không chạm đến tâm, tâm không chạm đến phiền não, không chạm nhau thì làm sao ô nhiễm? Bạch đức Thế tôn, có phiền não thì có cái tâm nhiễm theo, cái tâm nhiễm theo phiền não ấy mà đã khó hiểu khó biết, chỉ đức Thế tôn, bậc làm mắt, làm trí, làm gốc của Pháp, làm tôn cao, làm dẫn đạo, làm chỗ dựa của Pháp, mới thấy biết đúng như sự thật. Lúc ấy đức Thế tôn khen ngợi hoàng hậu Thắng man, nói rằng tốt lắm, tốt lắm, đúng như hoàng hậu đã nói, cái tâm bản tánh thanh tịnh mà bị phiền não ô nhiễm, thì thật khó mà rõ biết. Thắng man, có 2 sự khó rõ biết, ấy là cái tâm bản tánh thanh tịnh thì khó rõ biết, mà tâm ấy bị phiền não ô nhiễm thì cũng là khó rõ biết. Hai sự như vậy, hoàng hậu và các vị bồ tát thành tựu đại pháp mới nghe và tiếp nhận được, còn các vị thanh văn chỉ do tin mà biết.

14. Con Thật Của Phật

Thắng man, nếu đệ tử Như lai có đức tin tăng thượng, thì người ấy có tuệ giác tùy thuận với Pháp, và được rốt ráo trong Pháp ấy. Tuệ giác tùy thuận với Pháp là quan sát giác quan, nhận thức và đối tượng; quan sát hành vi và kết quả của hành vi; quan sát sự ngủ của la hán; quan sát sự tâm tự tại, ưa thích cái vui thiền định; quan sát thần thông tuệ giác của nhị thừa. Do thành tựu 5 sự quan sát khéo léo này mà đệ tử thanh văn hiện tại vị lai của Như lai do đức tin tăng thượng và tuệ giác tùy thuận với Pháp mà khéo hiểu một cách rốt ráo về cái tâm bản tánh thanh tịnh và bị phiền não ô nhiễm. Thắng man, sự rốt ráo ấy là nhân tố đại thừa. Hoàng hậu phải biết, tin tưởng Như lai thì không phỉ báng Pháp sâu xa. Hoàng hậu Thắng man thưa, bạch đức Thế tôn, còn có ý nghĩa khác nữa hữu ích cho chúng sinh mà con xin dựa vào sức mạnh uy thần của Ngài để diễn nói. Đức Thế tôn dạy, tốt lắm, hoàng hậu cứ nói tùy ý. Hoàng hậu Thắng man thưa, bạch đức Thế tôn, có 3 loại thiện nam thiện nữ không tự thương tổn đối với Pháp sâu xa, sinh lắm công đức, đi vào đại thừa. Ba loại ấy là những ai? (Một), có người tự thành tựu cái tuệ giác về Pháp sâu xa. (Hai), có người thành tựu cái tuệ giác tùy thuận với Pháp sâu xa ấy. (Ba), có người không hiểu Pháp sâu xa, nhưng tín ngưỡng rằng Pháp ấy chỉ Phật mới biết, chứ không phải lĩnh vực của mình.

15. Hoàng Hậu Thắng Man

Trừ 3 loại thiện nam hay thiện nữ này, những người khác, đối với Pháp sâu xa, tùy mình thủ đắc mà chấp trước, nói quấy, chống đối chánh pháp, làm theo ngoại đạo, biến mình thành hạt giống thối nát. Thì dầu họ ở đâu cũng phải đến mà loại trừ. Những kẻ thối nát như vậy, chư thiên hay nhân loại đều nên cùng nhau chiến thắng. Thưa bạch như vậy rồi, hoàng hậu Thắng man cùng với thân quyến đem đỉnh đầu của mình mà lạy dưới chân đức Thế tôn. Đức Thế tôn tán dương, rằng tốt lắm, Thắng man, đối với Pháp sâu xa, hoàng hậu áp dụng phương tiện mà giữ gìn, chiến thắng những kẻ đối địch. Hoàng hậu thật là người khéo thấu suốt. Hoàng hậu đã thân gần cả trăm cả ngàn chư vị Như lai mới nói được những điều đã nói hôm nay. Lúc ấy đức Thế tôn phóng ra ánh sáng siêu việt, chiếu khắp đại hội, rồi thăng lên không gian cao bằng 7 cây đa la, dùng thần lực mà đi chân trong không gian, trở về nước Xá vệ. Hoàng hậu Thắng man cùng với thân quyến ngước nhìn đức Thế tôn, mắt không rời Ngài chút nào. Khi Ngài đi quá tầm mắt rồi, hoàng hậu hoan hỷ, phấn chấn, cùng với mọi người ca tụng đức tính của đức Thế tôn, nhất tâm nghĩ nhớ đến Ngài. Trở vào kinh thành Vô đấu, hoàng hậu khuyến khích Hữu xưng vương xây dựng đại thừa. Trong kinh thành Vô đấu, phu nhân giáo dục đại thừa cho con gái 7 tuổi sắp lên, Hữu xưng vương cũng đem đại thừa giáo dục cho con trai 7 tuổi sắp lên. Cả nước không ai mà không học tập đại thừa.
Lúc bấy giờ đức Thế tôn vào khu lâm viên Chiến thắng Thiện thí, gọi tôn giả A nan và nghĩ đến Đế thích. Đế thích cùng với tùy thuộc ứng theo ý nghĩ của đức Thế tôn mà đến, đứng trước đức Thế tôn. Đức Thế tôn bảo Đế thích, rằng Kiều thi ca, ông nên tiếp nhận và ghi nhớ kinh này, diễn giảng, khai thị, làm cho chư thiên Đao lợi được yên vui. Đức Thế tôn lại dạy tôn giả A nan, tôn giả cũng tiếp nhận, ghi nhớ, phân tích giảng nói cho 4 chúng. Đế thích thưa Phật, bạch đức Thế tôn, kinh này nên mệnh danh là gì? Chúng con nên kính nhớ như thế nào? Đức Thế tôn dạy, Kiều thi ca, kinh này thành tựu vô lượng công đức, năng lực nhị thừa còn không thấu được, huống chi người khác. Kiều thi ca, ông nên biết kinh này rất sâu xa, tinh tế. Kinh này là khối công đức lớn. Như lai sẽ nói cho ông, theo cách nói toát yêắu, về danh hiệu kinh này. Ông hãy nghe kyլ hãy khéo ghi nhớ. Lúc ấy tôn giả A nan và Đế thích cùng thưa: Tốt lắm, bạch đức Thế tôn, chúng con xin vâng theo huấn dụ của Ngài. Đức Thế tôn nói, (một), kinh này tán dương đức tính chân thật của Như lai, nên nhớ như vậy. (Hai), kinh này nói về 10 điều thệ nguyện bất khả tư nghị, nên nhớ như vậy. (Ba), kinh này đem (1 trong) 3 đại nguyện thống nhiếp mọi thệ nguyện, nên nhớ như vậy. (Bốn), kinh này nói sự thu nhận chánh pháp là bất khả tư nghị, nên nhớ như vậy. (Năm), kinh này nói hội nhập nhất thừa, nên nhớ như vậy. (Sáu), kinh này nói thánh đế vô biên, nên nhớ như vậy. (Bảy), kinh này nói về Như lai tạng, nên nhớ như vậy. (Tám), kinh này nói về pháp thân của Như lai, nên nhớ như vậy. (Chín), kinh này nói bản tánh siêu việt và chân thật bị ẩn khuất, nên nhớ như vậy. (Mười), kinh này nói ý nghĩa thánh đế duy nhất, nên nhớ như vậy. (Mười một), kinh này nói sự nương tựa duy nhất, thường trú, bất động và vắng lặng, nên nhớ như vậy. (Mười hai), kinh này nói về sự thác loạn và chân thật, nên nhớ như vậy. (Mười ba), kinh này nói về cái tâm bản tánh thanh tịnh mà bị phiền não che khuất, nên nhớ như vậy. (Mười bốn), kinh này nói về con thật của Như lai, nên nhớ như vậy. (Mười lăm), kinh này nói sự nói như sư tử gầm của hoàng hậu Thắng man, nên nhớ như vậy. Lại nữa, Kiều thi ca, kinh này loại trừ hoài nghi, xác quyết liễu nghĩa, hội nhập nhất thừa. Kiều thi ca, Như lai nay đem bản kinh hoàng hậu Thắng man nói như sư tử gầm này ký thác cho ông. Từ bây giờ cho đến ngày nào chánh pháp đang còn, ông hãy khai thị giảng nói cho tất cả khu vức. Đế thích thưa, tốt lắm, bạch đức Thế tôn, dạ, con xin bái lãnh huấn dụ của Ngài.
Lúc bấy giờ tôn giả A nan, Đế thích, và cả đại hội chư thiên, nhân loại, a tu la, càn thát bà, v/v, nghe những điều đức Thế tôn đã tuyên thuyết, ai cũng đại hoan hỷ, tin tưởng, tiếp nhận, và kính cẩn thực hành.
22.10.2535






CHÚ THÍCH

Ghi Chú
(1) Tôi chia toàn văn kinh Thắng man ra 3 phần: 1. được thọ ký, 2. phát bồ đề tâm, 3. nhập Như lai tạng. Trong 3 phần đều có đoạn nhỏ. Đoạn nhỏ có 15. Đoạn 15 cũng là đoạn kết, không kể đến. Còn lại 14 đoạn thì phần 1 có 1, phần 2 có 2-4, phần 3 có 5-14. Tất cả 15 đoạn nhỏ này là bản dịch Cầu na nêu lên, y theo lời kết thúc kinh này. Nay tôi đưa vào bản dịch Lưu chí này, nhưng chỉ để trong mở đóng vòng đơn.
(2) Thắng man nghĩa là vòng hoa hơn hết. Hoàng hậu Thắng man có anh là Lưu ly vương, người tàn hại họ Thích, lại có em gái là Kim cương nữ.
(3) Biệt danh là Thiện tín.
(4) Dịch âm là A du xà. Dịch nghĩa là Vô sinh: nơi có nhiều bậc hiểu nghĩa vô sinh. Lại dịch nghĩa là Vô đấu: nơi không thể đánh phá. Là quốc đô của Chi tường vương, phụ thuộc nước Xá vệ.
(5) Đoạn này chính văn cũng là thể chỉnh cú. Như vậy không chỉnh.
(6) Chính văn là 4 thứ của thân: tức sinh lão bịnh tử hay tứ đại chủng.
(7) Thân trí tuệ, chính văn là trí thân, dị danh của pháp thân.
(8) Có ý kiến nói đoạn này là thọ giới.
(9) Gốc rễ điều lành tức là thiện căn. Gọi là thiện căn là 5 thứ tín, tiến, niệm, định, tuệ.
(10) Đúng ra thì phải nói 8 vạn pháp uẩn, gọi tắt từ ngữ 84000 pháp uẩn (hay pháp tạng, pháp môn).
(11) Là 1 trong 4 thời kỳ thành, trú, hoại, không.
(12) Chính văn là thiện bằng (huynh đệ thiện pháp). Cầu na dịch pháp bằng (huynh đệ chánh pháp).
(13) Chính văn là mạt ma, dịch nghĩa tử huyệt (huyệt chết), toàn thân có 64 hoặc 120 chỗ.
(14) Nương dựa là lấy thêm chữ của bản dịch Cầu na.
(15) Chính văn là La hán không vì Như lai xuất gia, thọ cụ túc. Văn và ý đều không rõ. Tôi dịch như đã dịch là lấy chữ và ý của bản dịch Cầu na.
(16) Bốn tuệ giác: ta sinh đã hết là 1, thuộc trí tập đế; phạn hạnh đã lập là 2, thuộc trí đạo đế; việc làm đã xong là 3, thuộc trí diệt đế; không còn đời sau là 4, thuộc trí khổ đế. Bốn tuệ giác này cũng là 2 tuệ giác tận trí và vô sinh trí: ta sinh đã hết, phạn hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn đời sau, nói như vậy là tận trí; ta sinh đã hết mà không còn sinh nữa, phạn hạnh đã lập mà không còn lập nữa, việc làm đã xong mà không còn xong nữa, không còn đời sau mà không còn nữa, nói như vậy là vô sinh trí.
(17) Ý sinh thân hay ý thành thân, nghĩa chính là cái thân mà các vị bồ tát đã được tự tại muốn sinh đâu tùy ý.
(18) Niết bàn chưa toàn là hữu dư y niết bàn. Niết bàn này mới hết tập đế mà chưa hết khổ đế.
(19) Ở đây chỉ cho 3 quả (trừ La hán), và 4 hướng.
(20) Cắt nghĩa như vầy thì vô minh trú địa chính là cái ý ô nhiễm (gọi là bất cọng vô minh) của Nhiếp luận, hay bất tương ưng nhiễm của Khởi tín. Nói không tương ứng với tâm là lúc tâm thiện nó vẫn ác (trái lại, tương ứng với tâm là khi tâm thế nào thì phiền não thế ấy).
(21) Hãy tham khảo đoạn tịnh pháp liên tục như thế nào của Khởi tín luận mới rõ được.
(22) Khổ diệt: niết bàn.
(23) Chính văn là biết 4 đảo cảnh. Bản Cầu na dịch biết 4 bất điên đảo cảnh giới. Chính 2 lời dịch này cắt nghĩa cho nhau. Biết 4 đảo cảnh là biết các pháp thường là vô thường, các pháp lạc là khổ, các pháp ngã là vô ngã, các pháp tịnh là bất tịnh. Biết 4 bất điên đảo cảnh giới là biết niết bàn không phải vô thường mà là thường, không phải khổ mà là lạc, không phải vô ngã mà là ngã, không phải bất tịnh mà là tịnh. Tiểu thừa biết 4 sự thấy các pháp thường lạc ngã tịnh là đối tượng thác loạn, vô thường khổ vô ngã bất tịnh mới là không thác loạn. Đại thừa biết nói niết bàn vô thường khổ vô ngã bất tịnh là thác loạn, thường lạc ngã tịnh mới là phẩm chất không thác loạn.
(24) Đoạn này, từ câu "Tuệ giác trong sạch ấy" cho đến đây, tôi dịch như vậy, nhưng không xác định được 4 nhập lưu là gì, nên dịch không bảo đảm. Bản Cầu na cũng không giúp được gì.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/01/201915:37(Xem: 1934)
Cư sĩ Nguyên Giác vừa cho xuất bản cuốn Kinh Nhật Tụng Sơ Thời mà theo sự nghiên cứu của các học giả đây là những lời dạy (kinh ) cổ xưa nhất của Đức Phật được các đệ tử ghi lại bằng thơ và học thuộc lòng vì lúc đó chưa có chữ viết. Theo Thư Viện Hoa Sen, căn cứ vào các nguồn sử liệu Tích Lan, thì những lời dạy của Ngài được viết thành văn vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch để hình thành kinh điển Pali. Tác giả dẫn chứng kinh điển này có thực khi “Trong Kinh Sona Sutta (Kinh Ud 5.6), có nói về Kinh Nhật Tụng 16 Chương mà ngài Sona đọc, khi được Đức Phật yêu cầu đọc Phật Pháp, trích dịch: “Đức Thế Tôn mời Thượng tọa Maha Sona, và nói, "Tỳ khưu, tôi muốn ông đọc lên Chánh Pháp. Xin vâng lời, Thượng tọa Maha Sona đọc toàn bộ 16 chương Atthaka Vagga.” Bản Anh dịch Kinh Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya Chương 005. Mahāyaññavaggo, Kinh 5.10 Nandamātāsuttaṃ) của Ni Trưởng Sister Upalavanna cũng có một kinh ghi rằng nữ cư sĩ Velukantaki Nanda mỗi rạng sáng đều tụng đọc lớn tiếng nhóm 16 k
01/06/202010:25(Xem: 4172)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)
06/06/201207:27(Xem: 4371)
8 Điểm Gặp Gỡ Kinh Nam và Bắc Tạng
07/08/201809:10(Xem: 17424)
Audio mp3: Đường Xưa Mây Trắng Tác giả: Thiền Sư Thích Nhất Hạnh Diễn đọc: Phật tử Chiếu Thành
24/02/201112:28(Xem: 6089)
8 Điểm Gặp Gỡ Kinh Nam và Bắc Tạng - HT Thích Chơn Thiện giảng
09/04/201316:58(Xem: 13712)
Audio: Bồ Tát Chuẩn Đề, bài giảng của TT Nguyên Tạng tại Chùa Phước Long, Connecticut, Hoa Kỳ, do HT Thích Minh Đức trụ trì
11/12/201320:44(Xem: 11739)
Audio: Chân hạnh phúc, bài giảng của Thầy Nhttp://quangduc.com/a51712/audio-chan-hanh-phucguyên Tạng
09/04/201316:55(Xem: 6725)
Pháp Thoại: Chánh Kiến Chủ giảng: TT Thích Nguyên Tạng
29/03/201318:19(Xem: 7346)
Pháp thoại: Chánh Ngữ bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng tại Trung Tâm Mắt Thương Nhìn Đời, Santa Anna, California, Hoa Kỳ