Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

5. CHƯƠNG V: NHỮNG TÔN GIÁO XÊ MÍT (SEMITIC)

14/05/201312:14(Xem: 1913)
5. CHƯƠNG V: NHỮNG TÔN GIÁO XÊ MÍT (SEMITIC)

NHỮNG TÔN GIÁO LỚN TRONG ĐỜI SỐNG NHÂN LOẠI
The Great Religions By Which Men Live

Tác giả: Tiến Sĩ Floyd H. Ross và Giáo Sư Tynette Hills
Dịch giả:Thích Tâm Quang

---o0o---

CHƯƠNG NĂM . NHỮNG TÔN GIÁO XÊ-MÍT (SEMITIC)

DO THÁI GIÁO

13. CHÚA TỂ LÀ MỘT

Toàn thế giới biết đến người Do Thái. Cuộc đời nay đây mai đó mang họ đi khắp trái đất. Họ mang theo tôn giáo của họ mà hầu hết những người Do Thái trung thành mãnh liệt với tôn giáo của họ. Khi mặt trời lặn vào lúc bắt đầu lễ Sabbath, nhiều triệu người Do Thái bắt đầu ngày nghỉ và thờ phượng. Số người của họ không nhiều so với tổng dân số trên thế giới. Nhưng thành công mà người Do Thái đã tạo dựng trên thế giới lại rất rộng lớn và có ý nghĩa đáng kể.

Do Thái Giáo là "tôn giáo mẹ" của cả Cơ Đốc Giáo và Hồi Giáo. Ba tôn giáo này là những tôn giáo chính của thế giới Tây Phương. Cơ Đốc Giáo và Hồi Giáo thừa hưởng những khái niệm tôn giáo, luân lý và tu tập từ Do Thái Giáo. Nếu một sử gia không lưu ý đến việc đóng góp của người Do Thái vào việc phát triển văn minh Tây Phương, thì sử gia ấy không thể viết về quá khứ của nó và hiểu biết hiện tại của nó.

Do Thái không thuộc một giống người nào. Đời sống lang thang khắp trái đất của họ khiến cho việc này không thể xẩy ra. Hàng ngàn năm qua, họ là một nhóm các bộ lạc, gọi là Hê Brơ (Hebrews). Bây giờ từ "Do Thái" áp dụng đúng cho bất cứ ai là người có niềm tin Do Thái. Nói về mặt quốc gia, người Do Thái là người Đức, Ả Rập, Mỹ, và hầu hết mọi thứ người khác.

Mặc dù quê hương dân tộc trải rộng, người Do Thái vẫn giữ được nhiều thời đại ý thức gần gũi nhau Họ đã làm việc này bằng cách thực hiện cẩn thận giới luật tôn giáo của họ. Họ đã làm việc này do nhấn mạnh có một mục đích duy nhất chân lý mà họ gọi là Shema: "Hãy nghe đây này người Do Thái, Vị Chúa tể Thượng Đế chúng ta, Chúa tể là Một". Đây là điểm chính yếu trong mỗi khóa lễ tôn giáo Do Thái. Hơn thế nữa, nó là điểm mấu chốt của Do Thái Giáo.

MỘT THƯỢNG ĐẾ

Những người Hebrews thời cổ tìm cách hiểu ý nghĩa và mục đích cuộc đời, giống như những nhà hiền triết cổ Ấn Độ và Trung Hoa. Vì băn khoăn đó, người Hebrews từ lâu cảm thấy sự quan hệ đặc biệt với trung tâm vũ trụ. Truyền thống Do Thái nói người ấy là Abraham. Abraham tin vào thượng đế riêng. Ngài đặc biệt quan tâm đến số phận và mơ ước của mình. Người Do Thái vẫn tôn kính người huyền thoại này như người cha dân tộc. Những người khác tiếp nhận niềm tin của Ngài và tìm thấy trong đó những câu trả lời cho những câu hỏi riêng của họ về thế giới.

Cuối cùng, xuất hiện một nhân vật vĩ đại, Moses. Ngài làm rõ ràng và sáng tỏ khái niệm về một thượng đế riêng. Ngài tin rằng thượng đế đã đồng ý đặc biệt với Abraham và với tất cả những người nối dõi. Những người này đã hứa trung thành và tận tâm. Đổi lại, Thượng Đế tạo cho họ một quốc gia hùng mạnh.

Dân Do Thái theo truyền thống vẫn tin rằng Thượng Đế đã tiết lộ những qui luật lệ của đời sống cho Moses tại Núi Sinai. Họ coi Moses là người sáng lập ra tôn giáo của họ. Họ công nhận Moses có công cho họ những thâu thập quan trọng về những luật lệ tu tập, đối xử và ăn uống theo tôn giáo. Moses là nhà lãnh đạo được Thượng Đế chọn để giải thoát người Hebrews khỏi sự nô lệ ở một nước xa lạ thành đất của chính họ.

Những niềm tin như vậy căn cứ vào chuyện cổ tìm thấy trong Sách Genesis (Cuốn "Chúa Tạo Ra Thế Giới") và Exodus (Sự rời khỏi Ai Cập của người Do Thái). Như nhiều học giả Do Thái lúc nào cũng sẵn sàng lưu ý, những chuyện này không thể được cho là lịch sử theo nghĩa đen. Những huyền thoại này cuối cùng được viết lại sau nhiều thế kỷ tồn tại trong ký ức của người Hebrews, những người đã kể lại chúng hết từ thế hệ này đến thế hệ khác. Những huyền thoại cho thấy lúc đầu Thượng Đế là một thượng đế thuộc bộ lạc, người bảo vệ và ân nhân của người Hebrews, con cháu Abraham. Thượng Đế được biết đến và được thờ phượng bởi Abraham, người con Isaac và người cháu Jacob sau này được gọi là Israel (Do Thái).

Dần dà Người Hebrews - Do Thái tin chắc thượng đế bộ lạc ấy chỉ là một Thượng Đế duy nhất của tất cả sáng tạo. Đương nhiên, tiến trình này mất nhiều thời gian hết thế kỷ này đến thế kỷ khác, qua những thời kỳ của những nhà lãnh đạo lớn người Hebrews -- những người cha bộ lạc, Moses, David và những hoàng đế khác, Isaiah và phần còn lại của các nhà tiên tri. Dần đà dân chúng đạt đến một quan niệm toàn diện có lẽ đã không có lúc khởi thủy khi còn là những bộ lạc lang thang nay đây mai đó.

Nhưng bây giờ, qua 2500 năm, sự khẳng định quan trọng nhất của Do Thái Giáo đã là: "...Vị Chúa tể Thượng Đế của chúng ta, Vị Chúa tể là Một." Sự phát triển thờ phượng một Thượng Đế phản ảnh những kinh nghiệm và tính khí độc đáo của người Do Thái. Trong đường lối riêng, họ đi đến kết luận mà tất cả những tôn giáo hiện tiền ngày nay chia sẻ: nằm dưới sự đa dạng vô tận mà chúng ta thấy trong đời sống là một mục tiêu, một thực tại.

Đã từ lâu, Người Do Thái thấy chẳng có gì quan trọng trong việc thảo luận về bản chất của Thượng Đế. Thượng Đế hiện hữu, Ngài là Một, Ngài là thực tại. Cả đến ngày nay, không có lấy một tín ngưỡng mô tả những đặc tính của Thượng Đế. (Chân lý) Shema là đủ.

Tuy nhiên một số giáo sĩ Do Thái và triết gia đã lưu ý đến việc mô tả những đức tính của Thượng Đế dù rằng không một người Do Thái nào đã từng đòi hỏi xác nhận khái niệm này. Thượng Đế ngay thẳng. Ngài là Đấng Sáng Tạo. Ngài là tinh thần. Thượng Đế là người sẵn sàng giúp đỡ con người, cung cấp phương tiện cho con người có thể tự cứu mình khỏi những hạn chế của ngu muội và tội lỗi. Thượng Đế đã tạo ra con người như con Ngài; bởi vậy, họ phản ảnh bản chất của Ngài.

CHÍNH TRỰC

Không một người Do Thái nào có thể nói là yêu Thượng Đế, trừ phi người ấy có quan hệ thương yêu với người láng giềng. Người láng giềng gồm cả người thuộc chủng tộc khác hay người lạ trên đất nước của mình, người xa lạ này được đối xử như người Do Thái đối xử với người đồng chủng. Hơn thế nữa, người Do Thái được đòi hỏi phải làm:"... thương yêu người láng giềng như thương yêu chính mình".

Sau đó rất lâu khi điều này được viết ra, một người nào đó đã đưa ra thách thức tới giáo sĩ nổi tiếng Hillel sống và dạy học vào cùng thời với Jesus. Người thách thức đòi giáo sĩ hãy nói tất cả những gì quan trọng về Do Thái Giáo trong khoảng thời gian một con người có thể đứng bằng một chân. Giáo sĩ Hillel tuyên bố:"Cái có hại cho ngươi, không có hại cho người láng giềng. Đây là toàn bộ học thuyết. Phần còn lại chỉ là lời dẫn giải. Bây giờ hãy tiến lên và học hỏi".

Ngay thẳng quan trọng đối với người Do Thái đến nỗi chúng ta có thể nói người Do Thái có hai mối quan tâm giống nhau -- tính chất duy nhất của Thượng Đế và tính ngay thẳng của con người. Không khó khăn gì đối với con người khi đi theo luật lệ và ý Thượng Đế. Được tạo ra theo hình ảnh của Thượng Đế, chúng ta có khả năng tự nhiên học hỏi về điều thiện. Người Do Thái nói rằng không làm được điều phải, là chối bỏ bản chất của chính bạn.

LUẬT LỆ

Thường thường người Do Thái coi Thượng Đế như người đưa ra luật cho dân tộc họ. Luật lệ mà Thượng Đế ban ra được gọi là Torah, có nghĩa là lời "giáo huấn". Torah gồm có năm cuốn đôi khi được gọi là Pentateuch (Năm quyển đầu của Kinh Cựu Ước). Những cuốn này là Genesis (Chúa Sáng Tạo Ra Thế Giới), Exodus (Sự Rời Khỏi Ai Cập), Leviticus (Phép Tắc của Tu Sĩ), Numbers (Kinh Điển Do Thái và Cơ Đốc), và Deuteronomy (Luật Moses và Chuyện Kể). Tất cả những người Do Thái đều được khuyến khích nghiên cứu những cuốn sách ấy. Toàn bộ Torah thường được đọc đều đặn mỗi năm trong những giáo đường Do Thái, và một phần trơng mỗi lễ Sabbath.

Torah chứa đựng những huyền thoại về nguồn gốc của chính nó. Theo những huyền thoại này, Thượng Đế trao Luật cho Moses tại núi Sinai, trong khi người Hebrews cắm trại tại vùng hoang dã sau khi thoát khỏi Ai Cập. Tại đây người Hebrews khẳng định lại với Thượng Đế, hứa tuân theo luật của Ngài. Truyền thống kể thêm rằng Thượng Đế nói về Mười Điều Răn mà người ta tìm thấy ở Chương hai mươi trong Exodus.

Có rất nhiều điều răn, chắc chắn là hơn sáu trăm cả thảy. Những điều răn nói về nhiều đề tài: chế độ ăn uống, tội ác và hình phạt, tu tập, ngày lễ, và sự quan hệ của con người. Nhiều người Do Thái là những người đầu tiên khẳng định những luật này không thể được làm cùng một nơi và một lúc. Thực tế họ có một tập sưu tầm về luật mà người Hê Brơ - Do Thái trình bày có hệ thống một thời kỳ nhiều năm cùng chung sống.

Trong Kinh Thánh Do Thái, phần hai được gọi là "Những nhà Tiên Tri". Nhiều người tin rằng đỉnh cao của tư tưởng và hiểu biết Do Thái đã đạt được trong giáo huấn của những nhà tiên tri. Những nhà tiên tri không nói trước tương lai; họ "có nói" cho Thượng Đế. Trước nhất họ là phát ngôn viên cho Thượng Đế, cảnh báo những hậu quả tàn khốc nếu ý Thượng Đế không được tuân theo.

Chính những nhà tiên tri này cố gắng trình bày cho người dân thấy sự tận tâm với Thượng Đế không chỉ nằm trong việc đi theo luật trong chi tiết nhỏ nhất. Tại sao con người phải bận tâm về về việc tuân thủ chi tiết hơn sáu trăm luật? Sự tận tâm nằm trong việc gìn giữ tinh thần của Luật.

Theo Isaiah, đây là thuộc tính của người đã cân nhắc tinh thần của luật. Đó là:

- Người bước thẳng và nói thành thực
- Khinh miệt lợi lộc giành được bằng áp bức
- Không nhúng tay vào của đút lót
- Không chịu nghe tiếng chém giết
- Không chịu đứng nhìn tội lỗi.

Nhà tiên tri Micah rút gọn những luật lệ quan trọng thành ba trong lời tuyên bố nổi tiếng về nhiệm vụ tinh thần của một người:

Ngươi đã được bảo, này con người, thế nào là thiện
Và Chúa đòi hỏi gì ở nơi ngươi:
Chỉ thực hiện sự công bằng, và yêu điều tốt đẹp
Và khiêm tốn đi cùng với Thượng Đế của ngươi.

Với Amos, (nhà tiên tri người Hê Brơ ở thế kỷ 8 trước Công Nguyên), tinh thần của Luật là: "Hãy tìm Chúa, Bạn có thể sống".

Tuy vậy Chương Ba của Kinh Thánh Do Thái ai cũng biết là "Những Tác Phẩm". Nó gồm có những sách sử kể lại những cuộc phiêu lưu của người Hê Brơ-Do Thái và hiểu biết thế giới ngày càng tăng của họ. Nó cũng gồm có những bài thánh ca và những tập thi văn khác. Trong khi những thứ này không được coi là Luật căn bản như năm cuốn đầu, chúng vẫn nằm trong tinh thần của Luật.

Những người Do Thái đương đại không chỉ dựa vào ba chương này trong tác phẩm thiêng liêng của họ. Có một số tác phẩm khác không phải là một phần của Thánh Kinh, nhưng được tôn thờ sau Kinh Thánh. Đó là Talmud. Talmud trên thực tế chính là sự mở rộng của Torah được viết trong nhiều thế kỷ sau khi các tác phẩm khác được hoàn tất. Talmud xuất hiện để đáp ứng những điều kiện mà người Do Thái phải đương đầu trong những thời kỳ sau này. Khi chỗ ở và môi trường chung quanh thay đổi, nhu cầu tôn giáo và văn hóa thay đổi. Luật lệ gia tăng vì nhu cầu mới. Những điều này được truyền miệng từ thế hệ này đến thế hệ kia. Thỉnh thoảng, những giáo sĩ có học thức bình luận về những luật truyền khẩu này và những luật thành văn trước đó, tìm cách giải thích lại chúng vì thời buổi thay đổi.

Do sự bình luận không ngừng như vậy về truyền thống quá khứ và những luật dưới ánh sáng của tình thế mới, Luật của Do Thái Giáo vẫn còn tồn tại. Người Do Thái đương đại có thể thích nghi một cách sáng tạo trước những đòi hỏi không bao giờ tưởng tượng được bởi Moses hay những bậc thầy lớn khác thời thượng cổ.

PHẬN SỰ CỦA NGƯỜI DO THÁI

Truyền thuyết cổ về sự đồng ý đặc biệt giữa Thượng Đế và người Hê Brơ đã làm nhiều người Do Thái tin là Thượng Đế đã chọn họ là những người được ưa chuộng hơn tất cả các dân tộc khác trên trái đất. Họ cảm thấy họ có đặc quyền, và một số coi những dân tộc khác như hạ cấp. Tuy nhiên, những vị thầy sau này đã giải thích khái niệm "chọn lựa" theo một cách khác. Họ nói rằng người Do Thái được chọn lựa để phụng sự Chúa và dạy người khác về một Thượng Đế của tất cả thế giới.

Vẫn còn có một số Do Thái khăng khăng nghĩ về tính độc quyền. Điều này khiến các nhà tiên tri rất quan tâm. Hãy nghe một nhà tiên tri xa xưa cố sửa chữa những khái niệm lầm lẫn của họ:

"Phải chăng bạn không giống những người Ethiopians dưới mắt tôi,
Này những người Do Thái "; phải chăng lời tiên tri của Chúa.
"Ta đã không nuôi dưỡng người Do Thái từ đất nước Ai Cập,
Cũng như người Philistines từ Caphtor và người Syrians từ Kir?"

Một nhà tiên tri vô danh trình bày Thượng Đế của họ là Thượng Đế của tất cả các dân tộc. Nhà tiên tri này trích dẫn lời Thượng Đế nói: "Diễm phúc thay Ai Cập dân tộc của ta, và Assyria tác phẩm của bàn tay ta, và Do Thái di sản của ta". Nhiều người Do Thái thời ấy cho rằng toàn bộ cuốn Jonah chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và khái niệm "dân tộc được chọn lựa"

Lúc nào cũng có nhiều người Do Thái hành động theo sự nhấn mạnh của những nhà tiên tri. Những người Do Thái này không bao giờ tin họ là những người được chọn lựa một cách thiêng liêng hơn các dân tộc khác. Có người Do Thái truyền thống khoan dung với những tín đồ tôn giáo khác. Tính kiên nhẫn và sự chịu đựng của họ trong vấn đề tôn giáo rất gần gũi với quan điểm của người Ấn Giáo và Phật Giáo thành thật.

Về khái niệm Thương Đế và Luật của họ, người Do Thái tìm thấy giá trị quý nhất của họ. Vì những điều ấy, họ cảm thấy được nhiều may mắn. Nhưng hầu hết không tin rằng sự phù hộ chỉ dành riêng cho họ. Những người khác cũng tìm thấy giá trị trong ý niệm của riêng họ, và người Do Thái chấp nhận khác biệt này cho thêm phong phú. Về phần họ, người Do Thái không mong muốn thuyết phục người khác về tôn giáo của họ. Đó không phải là cách cứu rỗi. Đó là lối sống. Và tuy có nhiều người đổi sang Do Thái Giáo, nhưng người Do Thái không bao giờ tích cực trong công việc đổi đạo người khác.

VƯƠNG QUỐC CỦA THƯỢNG ĐẾ

Người Do Thái bao giờ cũng quan tâm đến tính ngay thẳng. Họ không bao giờ cảm thấy chính phủ hay đoàn thể như người ta biết về chúng, tốt bằng họ. Cho nên người Do Thái hy vọng sau này mọi người sẽ ngay thẳng và gia đình và xã hội sẽ phản ảnh tính ngay thẳng đó. Theo truyền thống những người Do Thái gọi thời tương lai này là "Vương Quốc của Thượng Đế". Sẽ đến lúc luật ngay thẳng của Thượng Đế mở rộng khắp thế giới.

Những người Do Thái hiện đại và truyền thống có ý kiến khác nhau về việc điều đó sẽ đến như thế nào và điều đó sẽ là gì. Người Do Thái truyền thống vẫn nhắc tới Messiah, Đấng Cứu Tinh được chọn bởi Thượng Đế để đưa vào Vương Quốc này vì con người cho đến nay không thể làm việc đó một mình được.

Những người Do Thái phóng túng thích nghĩ rằng mỗi người là một đấng cứu thế, người này làm bất cứ gì có thể để thúc đẩy sự nghiệp về tính ngay thẳng tiến bộ. Dần dần, Vương Quốc này sẽ tới.

Niềm hy vọng của người Do Thái và Thiên Chúa Giáo về một trật tự đạo đức thế giới rất giống nhau -- dù rằng chúng được diễn đạt bằng những từ ngữ khác nhau. Và những người Do Thái tuyên bố rằng điều đó sẽ là cho tất cả mọi người vì họ tin rằng sự ngay thẳng của mọi quốc gia góp phần trong thế giới tương lai.

Quan tâm nhiều đến cách sống đúng hiện nay và làm cho thế giới tốt lên của người Do Thái đã giảm bớt lo lắng về đời sống bên kia thế giới. Ngay trong số những người Do Thái cũng có những người không đồng ý về vấn đề này. Một số người Do Thái truyền thống vẫn tin vào đời sống bên kia thế giới gồm có thưởng phạt, phục sinh và tính vĩnh viễn trong Thiên đường hay Địa ngục Những người Do Thái phóng khoáng hơn lại không coi những đức tin này là quan trọng. Dù họ tin rằng đặc tính của cá tính (hay linh hồn) không thể chết, nhưng họ cũng không cần lo tạo ra những lý thuyết về việc ấy. Đối với họ, cuộc đời này là cách sống, cái đó mới chính là quan trọng. Làm điều phải ngay bây giờ có giá trị hơn là tin vào cái gì. Nhiều người Do Thái cảm thấy hối cải và những hành vi tốt trong một giờ ở thế giới này còn tốt hơn là toàn bộ đời sống ở thế giới tương lai.

MIỀN ĐẤT HỨA

Người Do Thái được thế giới biết đến là nhừng người nay ở chỗ này mai ở chỗ khác. Hơn hai ngàn năm trước đây, những biến chuyển trên thế giới khiến họ không có một ngôi nhà vĩnh viễn và họ bị đẩy đi lang thang trên trái đất. Bất kỳ họ định cư nơi nào, họ vẫn tiếp tục truyền thống của họ và sự thờ phượng Thượng Đế. Thường thường họ cùng nhau sống trong cộng đồng của họ, để họ có thể duy trì tốt hơn những ngày lễ và những luật lệ về chế độ ăn uống.

Người khác thấy người Do Thái sống khác và đôi khi khó hiểu. Những dị biệt khiến một số người phàn nàn, và thậm chí ngược đãi người Do Thái. Người Do Thái đã bị đối xử rất khắc nghiệt bởi những người láng giềng hơn bất cứ một tôn giáo nào khác. Đặc biệt người Thiên Chúa Giáo kết tội người Do Thái đã giết chết Đức Jesus -- và đã phạm tội ngược đãi như vậy. Đến tận ngày nay, có những nhà lãnh đạo không đắn đo biến người Do Thái trở thành kẻ dơ đầu chịu, gây hận thù đối với người Do Thái. Tại sao người Do Thái lại bi cư xử như thế là một vấn đề nghiêm trọng vẫn còn liên quan đến những người học lịch sử, xã hội học, nhân chủng học, và tôn giáo.

Họ buộc phải chịu sự cô lập, và sự ngược đãi bởi láng giềng qua nhiều năm khiến người Do Thái phải dựa vào lẫn nhau và dựa vào truyền thống nhiều hơn. Hơn hai ngàn năm, họ đã nhớ lời hứa xa xưa của Thượng Đế về mảnh đất phải là của họ. Đó là huyền thoại về miền đất hứa được tìm kiếm bởi những người Hê Brơ bỏ Ai Cập dưới sự lãnh đạo của Moses. Mảnh đất này đã một thời gian là của họ, nhưng đã bị xâm chiếm bởi hết quốc gia này đến quốc gia khác, chỉ để rồi cuối cùng bị đuổi ra khỏi miền đất này.

Nhiều người Do Thái vẫn tiếp tục hy vọng một lần nữa đất của Palestine sẽ là của họ. Để giúp mang hòa bình cho mảnh đất tranh chấp gây ra bạo động giữa những người Do Thái cực đoan nhất gọi là Zionist (người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái), và những kẻ thù truyền kiếp của của họ, người Ả Rập, vào năm 1948 Liên Hiệp Quốc chấp thuận chia một phần Palestine cho Do Thái và một phần Jordan cho người Ả Rập. Đương nhiên, những biên giới độc đoán này đã không thể giải quyết hoàn toàn sự thù địch lâu đời, trở nên phức tạp hơn bởi sự kiện cả hai quốc gia đều tuyên bố Jerusalem là của mình, thành phố thần thánh của Hồi Giáo, cũng như Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo. Liên Hiệp Quốc chấp thuận nghị quyết quốc tế hóa thị xã này nhưng không được Do Thái lẫn Jordan ủng hộ. Rồi, thành phố này vẫn cón là mảnh đất bị phân chia. Lý do để cay đắng hơn là nhiều người Do Thái phải bỏ nhà trên phần biên giới Jordan, và nhiều người Ả Rập phải di chuyển từ phần đất Do Thái khi vùng này bị chia cắt. Hiện nay hồ như có một sự hòa bình không thân thiện giữa các quốc gia; nhưng căng thẳng càng sâu xa.

Do Thái đã mở cửa cho tất cả những người Do Thái trên thế giới. Tuy nhiên có thể còn quá sớm để thấy điều gì sẽ ảnh hưởng đến Do Thái Giáo đã từ bao thế kỷ dài không có quê hương cho chính mình. Nhiều người Do Thái không coi quốc gia mới thực sự quan trọng đối với tôn giáo, vì họ tin rằng đời sống tôn giáo của họ có thể sống được ở bất kỳ nơi đâu mà họ là người biết mình. Sự thờ phượng Do Thái không dựa vào tổ quốc.

GIÁO ĐOÀN DO THÁI

Không có một nhà lãnh đạo trung tâm nào trong Do Thái Giáo. Mỗi giáo đoàn đều tự trị. Giáo sĩ là những cư sĩ - không phải là thầy tu. Các giáo sĩ dạy dân và cố gắng làm sáng tỏ Luật. Giáo sĩ không nói với Thượng Đế hộ người dân. Dân chúng là các thầy tu của chính họ, họ thờ phượng Thượng Đế cho chính họ.

Trong một thời gian dài, tất cả những người Do Thái đều là "chính thống" nghĩa là họ đều tuân theo những luật lệ ghi trong kinh thánh theo sự hiểu biết và khả năng tốt nhất của họ. Nhưng những sức ép và thay đổi trong đời sống hiện đại đã làm điều đó ngày càng khó khăn. Một số tin là nhận thức thế giới hiện đại đòi hỏi thay đổi biểu hiện cá nhân trong tu tập tôn giáo. Cho nên, ở thời đại tương đối hiện đại, nhiều người Do Thái đã rời bỏ những giải thích nghiêm ngặt về niềm tin, luân lý, và cách tu tập của cha ông.

Do Thái Giáo Chính Thống: Những ai vẫn cố gắng trung thành với truyền thống cổ để được giải thích một cách nghiêm ngặt, được coi là người Do Thái "Chính Thống". Họ coi toàn bộ kinh Torah đã được thôi thúc một cách tuyệt diệu và được tiết lộ bởi Thượng Đế cho Moses. Họ giữ tất cả những luật của Moses, gồm có những hạn định về ăn uống và những hạn chế nghiêm ngặt trong lễ Sabbath. Họ dùng tiếng Hebrews trong tất cả những buổi lễ tại giáo đường Do Thái. Những trường học đặc biệt do họ hỗ trợ dạy con cái họ về lịch sử Do Thái và nguồn gốc của tiếng Hebrew. Nhiều người Do Thái Chính Thống vẫn trông chờ Messiah đích thân xuất hiện.

Do Thái Giáo Bảo Thủ: Những người Do Thái "Bảo Thủ" là những người tôn trọng và tôn kính Torah, nhưng họ tin vào sự giải thích Torah qua sự nghiên cứu uyên bác thời hiện đại về kinh thánh để hiểu rõ hơn. Họ tin rằng tiếp tục dạng thờ phượng truyền thống là quan trọng với sự dùng tiếng Hebrew trong các buổi lễ. Vào ngày lễ Sabbath, họ chỉ làm việc thật cần thiết, và họ cố gắng làm cho nó trở thành ngày cầu nguyện.

Do Thái Giáo Cải Cách: Một phong trào hiện đại của Mỹ Quốc đã lôi cuốn nhiều người Do Thái vào xứ này. Đó là Do Thái Giáo Cải Cách và nó là kết quả của sự cố gắng áp dụng Do Thái Giáo vào đời sống Tây Phương ở thế kỷ hai mươi này. Những người Do Thái Giáo cải cách đọc Kinh Torah với sự đánh giá chân lý của nó như đã được xác định bằng sự đồng ý với lẽ phải và kinh nghiệm. Toàn bộ truyền thống của dân tộc là điều họ kính trọng. Sự thờ phượng cũng giống như các nhà thờ Thiên Chúa Giáo Tin Lành. Các gia đình cùng nhau ngồi trong các buổi lễ gồm nhạc đàn ống và các đội hợp ca, với nghi thức tế lễ bằng tiếng Hebrew, nhưng thuyết giảng bằng Anh ngữ. Cả trai lẫn gái đều được làm lễ kiên tín.

NHỮNG BÀI HỌC CỦA DO THÁI GIÁO

Những bậc thầy lớn của Do Thái Giáo đã góp phần to lớn vào tư tưởng tôn giáo của con người. Họ dạy thương yêu Thượng Đế và cùng đi với người đồng loại. Đời sống là một giống như Thượng Đế chỉ có một. Tự do, phẩm giá, và trách nhiệm của mỗi người có gốc rễ ở chính bản chất của vũ trụ. Bởi vậy chắc chắn là, nếu đời sống của ta được đáp ứng thỏa mãn thì ta phải thương yêu người láng giềng như chính mình. Có được điều này là do thương yêu Thượng Đế "với tất cả tâm ý, với tất cả linh hồn, và với tất cả những gì mà bạn có thể".

Người Do Thái tán thành là chúng ta không thể biết câu trả lời cuối cùng về những điều huyền bí của đời sống và Thượng Đế. Nhưng người Do Thái tuyên bố rằng trong cái thiện của các lối sống ngay thẳng, cái thiện của Thượng Đế được biết như sau:

Ôi lạy Chúa, làm sao chúng tôi có thể biết Người? Nơi đâu tôi có thể tìm thấy Người? Người gần gũi với chúng tôi như hơi thở nhưng Người cũng xa chúng tôi hơn ngôi sao tít đàng xa. Người huyền bí như sự tịch mịch mênh mông trong đêm trường nhưng Người cũng thân thuộc với chúng tôi như ánh sáng mặt trời. Đối với nhà tiên tri thời cổ, Người không nói: Người không thể nhìn thấy mặt tôi, nhưng tôi sẽ làm cho tất cả điều thiện của tôi đến trước mặt Người. Dù vậy Người làm cho điều thiện đến trước chúng tôi trong lĩnh vực của thiên nhiên và trong hàng loạt kinh nghiệm về đời sống của chúng tôi. Khi công lý bừng cháy giống như ngọn lửa mãnh liệt trong lòng chúng tôi, khi tình thương yêu đem lại sự sẵn sàng hy sinh của chúng tôi, và để đánh giá thật đầy đủ sự tận tâm quên mình khi chúng tôi tuyên bố niềm tin của chúng tôi vào chiến thắng cuối cùng của chân lý và công bình, chúng tôi không cúi chào trước vẻ đẹp lạ thường về điều thiện của Người? Người sống trong tâm chúng tôi như Người đã tỏa khắp thế giới và chúng tôi bằng sự ngay thẳng chiêm ngưỡng sự hiện diện của Người.

14. LỄ HỘI VÀ NGÀY THÁNH

Người Do Thái luôn luôn trân quý truyền thống của họ. Nhiều tập tục gia đình và tôn giáo có ý nghĩa nhất tập trung vào các lễ hội và ngày thánh.

Lễ Sabbath. Vào lúc hoàng hôn chiều thứ Sáu, những cây nến được thắp sáng trong hàng triệu nhà người Do Thái trên khắp thế giới. Đó là dấu hiệu quy tụ gia đình và lễ Sabbath bắt đầu với hai mươi bốn giờ thờ cúng và nghỉ ngơi. Khi người cha và những đứa con trai lớn trở về sau buổi lễ tại các giáo đường Do Thái, có những nghi thức gia đình đặc biệt về việc tạ ơn Chúa và cầu nguyện. Họ quây quần ăn bữa cơm ngon nhất và hạnh phúc nhất trong tuần, thường thường dùng bữa với một số khách mời về nhà sau buổi lễ tại giáo đường.

Buổi sáng hôm sau toàn thể gia đình tham dự buổi lễ tại giáo đường, nam giới và những con trai ngồi tại phòng hội họp, phụ nữ và con gái đi vào hành lang dành cho phụ nữ. Buổi lễ thay đổi tùy theo giáo đoàn. Thường thường, nó gồm có cầu Kinh Torah và hát những bài thánh ca được chỉ huy bởi người lĩnh xướng, một cư sĩ Do Thái có tài về việc này. Có những lúc dành cho những lễ cầu kinh và đọc kinh Torah. Cũng có thể có bài thuyết giảng của giáo sĩ.

Sau khi trở về nhà, người Do Thái nghỉ ngơi theo cung cách tùy thích của mỗi người, mặc dù người Do Thái Giáo Chính Thống có nhiều hạn chế về làm việc, chơi, và đi lại. Vào buổi chiều, người đàn ông và con trai trở lại giáo đường để đọc kinh và thảo luận. Người Do Thái Chính Thống trù liệu rất cẩn thận cho ngày này, việc nấu nướng và làm vệ sinh phải hoàn tất trước ngày lễ Sabbath. Người Do Thái Bảo Thủ chỉ làm những công việc cần thiết, và Người Do Thái Cải Cách dành ngày này làm một ngày nghỉ ngơi và thờ cúng, không có giới hạn đặc biệt nào cho những hoạt động của họ. Tối đến, gia đình lại quy tụ để ghi nhớ mục đích của Lễ Sabbath và bắt đầu tuần lễ mới.

Đã rất nhiều năm, Sabbath đã là một trung tâm đặc biệt trong đời sống gia đình người Do Thái. Tập tục thời đại cổ sử dụng một ngày trong bẩy ngày để nghỉ ngơi và thờ phượng là một đóng góp to lớn mà người Do Thái cống hiến cho thế giới. Điều đó từ lâu đã được chia sẻ bởi những người Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo -- dù những ngày khác đã được chọn cho mục đích này.

Lúc đầu, lễ Sabbath Do Thái là một lý tưởng mới đối với quảng đại quần chúng làm việc cực nhọc nhiều giờ ngày này qua ngày khác không có ngày nghỉ cuối tuần và nghỉ lễ. Người Do Thái được yêu cầu cử hành lễ Sabbath và giữ nó trong sạch, cho bất cứ ai cần sự nghỉ ngơi và thay đổi như vậy. Có thể là kế hoạch xen kẽ đều đặn hàng tuần giữa nghỉ ngơi và hoạt động, giữa làm việc và lễ bái, đóng góp nhiều vào sự thành công của người Do Thái trong nhiều lãnh vực.

Trong mười điều răn, người Do Thái được nhắc nhở về tấm gương của Thượng Đế: "...trong sáu ngày, Chúa tạo ra thiên đàng, trái đất và biển, cùng với tất cả những gì trong đó, nhưng nghỉ vào ngày thứ bẩy: đó là cách Chúa đến ban phước lành vào ngày thứ bảy và làm nó trở thành thiêng liêng. Điều này tăng thêm tầm quan trọng của tôn giáo đối với nhu cầu nghỉ ngơi. Những giáo sĩ uyên bác dạy rằng lễ Sabbath phải phục vụ nhu cầu cho con người cũng như của Thượng Đế. Đối với người Do Thái, đời sống con người bao giờ cũng là mối quan tâm lớn lao hơn là phép tắc trừu tượng.

Rosh Hashonah: Năm Mới. Vào tháng thứ bẩy của lịch Do Thái, người Do Thái dành một thời gian dài để suy xét và sám hối. Ngày bắt đầu năm mới được tổ chức trọng thể tại giáo đường với tù và thổi, gọi là shofar. Âm thanh này mở ra đợt thời gian mười ngày cho người Do Thái kiểm điểm lại đời họ và tìm sự tha thứ cho các lỗi lầm của mình.

Vì lịch Do Thái căn cứ vào chu kỳ mặt trăng chứ không phải mặt trời, cho nên chính xác ngày này thay đổi từng năm. Rosh Hashonah có thể đến sớm vào tháng Chín hay đầu tháng Mười.

Đối với hầu hết người Do Thái, giai đoạn mười ngày này là thời gian phán xét. Truyền thống cổ nói rằng trong thời gian này, Thượng Đế quyết định ai sẽ sống, ai sẽ chết; ai sẽ được nghỉ ngơi, ai sẽ phải lang thang; ai sẽ được an ổn, ai sẽ bị phiền nhiễu; ai sẽ trở nên nghèo khó và ai sẽ trở nên giàu có; ai sẽ bị sa sút, và ai sẽ được đề cao. Truyền thống cổ xa xưa hơn nói Rosh Hashonah là ngày Thượng Đế viết Thiên Phán Xét vĩ đại ghi hồ sơ cuộc đời mỗi người.

Mười ngày cho người ta thời gian suy nghĩ về cuộc sống của mình và những gì có thể làm được về đời sống. Mười ngày này cho người ta thời gian và cơ hội thấy những lỗi lầm của mình và cố gắng sửa chữa những lỗi lầm này. Mười ngày thật trang nghiêm vào những ngày lễ thần thánh. Người Do Thái truyền thống tin rằng người ta có thể thay đổi được hồ sơ trong Thiên Phán Xét nếu thành thực, tử tế, và ăn năn sám hối đủ. Họ tin là Thiên Phán Xét sẽ đóng lại vào lúc kết thúc mười ngày.

Đỉnh điểm của lễ tiết năm mới là Yoni Kippur, ngày thứ mười của năm mới. Nó bắt đầu vào lúc mặt trời lặn (như tất cả những ngày lễ Do Thái) và tiếp tục trong 24 giờ. Theo truyền thống, những người Do Thái trưởng thành không ăn uống vào ngày này. Họ dành tất cả thì giờ vào việc suy tư và cầu nguyện. Có một khóa lễ trang trọng tại giáo đường mà người Do Thái nào cũng cố gắng tham dự. Buổi lễ bắt đầu với giai điệu luôn âm vang trong đầu, bài ca Kol Nidre. Đó là sự cầu xin thoát khỏi những lời nguyện tôn giáo không giữ được -- nhắc đến những ngược đãi mà người Do Thái bị đau khổ không biết bao lần trong tay những người không phải là Do Thái. Chấm dứt lễ Yoni Kippur cũng lại bằng tiếng tù và thổi. Nó có ý nghĩa là đóng lại Thiên Phán Xét cho đến năm sau.

Khái niệm về Thiên Phán Xét và Thượng Đế với tư cách là Quan Tòa vĩ đại cũng được thấy ở các tôn giáo khác. Và người Do Thái, giống như những dân tộc khác, đã giải nghĩa truyền thống theo nghĩa đen. Hoặc họ có thể giải nghĩa theo ý nghĩa tinh thần và cá nhân sâu xa. Đôi khi họ gọi là "Những Ngày Kinh Sợ" là những ngày mà người Do Thái hỏi những vấn đề quan trọng về đời sống và tiếp tục phát triển tinh thần. Do Thái Giáo không đưa ra cho tín đồ những câu trả lời dễ dãi trước những vấn đề tôn giáo. Thay vì, Do Thái Giáo khuyến khích họ tự vấn và tìm ra cách sống tốt đẹp hơn.

Người Do Thái không được dạy bảo rằng nhân loại căn bản là tội lỗi hay những nhu cầu bình thường và lợi ích là sai. Không có thầy tu hay nữ tu sĩ trong Do Thái Giáo. Thay vì, người Do Thái nhấn mạnh cái đẹp tuyệt vời của đời sống gia đình. Trong dịp năm mới, người Do Thái được khuyến khích suy nghĩ về mối quan hệ với những người khác. Họ đã hành động bằng tình thương yêu chân thật và công bằng không? Họ đã khiêm nhường, nhớ đến những giới hạn của mình chưa? Họ có cần xin tha thứ cho những tội lỗi gây ra cho người đồng hương không?

Những hành động thương yêu-khả ái là những phương tiện tốt nhất để đền bù. Như những giáo sĩ nói, "Ai có tội phải thú nhận và ngại ngùng làm như vậy, hãy để cho người đó đi và làm điều thiện và họ sẽ tìm được sự tha thứ".

Trong khóa lễ Yoni Kippur, một số tiết được đọc từ cuốn của Isaiah. Những tiết này vạch rõ cho người Do Thái đi lễ rằng trọng tâm của tôn giáo là sự quan tâm thương yêu người khác:

Không phải tôi ăn chay?
Có thể nới lỏng những vòng dây ác,
Xóa bỏ những gánh nặng,
Và để những người bị áp bức được tự do?
Không phải là chia miếng bánh cho người đói,
Cũng chẳng phải cái bạn mang lại cho người nghèo bị đuổi ra khỏi nhà?
Khi bạn thấy người trần trụi, bạn cho họ manh áo;
Bạn không che dấu mình bằng da thịt của chính bạn?
Rồi ánh sáng sẽ phá màn đêm khi ban mai...
Và sự ngay thẳng của bạn sẽ vượt lên trên.

Lễ Succos: Tabernacles. Một trong những ngày lễ Do Thái vui nhất là lễ Succos, lễ này đến vào mùa gặt, khi những cây nho nặng trĩu trái nho, và những hạt lúa chín vàng đầy đồng. Đó là ngày hội tạ ơn, kéo dài chín ngày. Nó nhắc nhở người Do Thái thời điểm phải rời khỏi Ai Cập khi họ bắt buộc phải sống trong những chòi nhỏ (gọi là succos) ở dọc đường. Người Do Thái thường làm mô hình những chòi này cũng được gọi là tabernacles Họ trang hoàng những cái chòi này bàng hoa, quả và cành cây để tưởng nhớ đến lòng bao dung của Thượng Đế.

Những người Do Thái hiện đại nghĩ đến lịch sử khổ đau của những tín đồ đồng hương cũng như về dân tộc khác. Vào ngày Sabbath trong dịp lễ Succos, lời cầu nguyện sau đây được tụng:

Hôm nay với lòng biết ơn chúng con nhớ đến Thượng Đế thương yêu đã hướng dẫn cha ông chúng con trên bước đường lang thang qua sa mạc hoang vu, và nơi hoang dã không có đường qua... Chúng con cảm ơn Thượng Đế với lòng nhân từ không bao giờ cạn đã hướng dẫn và che chở chúng con, những đứa con trong tất cả năm tháng hành hương của chúng con... Chúng con cầu nguyện rằng ân hưởng sự phù hộ của Thượng Đế sẽ thức tỉnh trong chúng con, tinh thần thỏa mãn và dũng cảm chịu đựng mà chúng con không bao giờ tự đắc do thành công và chẳng bao giờ cay đắng bởi thất bại.

Cầu mong chúng con cảm tình với những ai mà hy vọng của họ đã bị thất bại và công lao của họ đã không kết quả. Cầu mong cho bàn tay của chúng con sẽ được giang ra với những người đau khổ, và tấm lòng của chúng con sẽ mở rộng cho những ai cần đến. Đội ơn Thượng Đế, Ôi lạy Chúa, Người cho tất cả điều thiện. A Men.

Vào ngày thứ chín của lễ Succos, có một lễ mừng tại giáo đường, khi những cuộn kinh Torah được rước bởi một đoàn người vui vẻ. Đôi khi mọi người tham gia nhảy múa và ca hát. Đó là một cách nữa để người Do Thái bầy tỏ lòng thương yêu kinh Torah. Vào ngày này, những tiết cuối cùng của Kinh Torah (Deuteronomy 34) được đọc lên. Rồi người giáo sĩ quay về với tiết đầu của Genesis (Chúa Sáng Tạo Ra Thế Giới):"Khởi đầu, Thượng Đế..." Hàng năm họ bắt đầu đọc toàn bộ kinh Torah như thế ở mỗi giáo đường.

Hanukkah: Lễ Dâng Hiến. Lễ Hanukkah là lễ dâng hiến thường đến vào tháng Chạp. Người Do Thái cử hành lễ này trong tám ngày, trong những ngày này có những buổi lễ đặc biệt tại giáo đường, thức ăn cho ngày lễ đặc biệt và quà tặng. Hanukkah nhắc nhở người Do Thái hiện đại một biến cố có ý nghĩa trong quá khứ khi tổ tiên của họ tranh đấu cho tự do tôn giáo.

Vào thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, người Xy Ri nắm quyền kiểm soát Palestine và cố gắng ép buộc người Do Thái đình chỉ hoạt động tôn giáo. Một số người Do Thái đã ngưng theo lệnh. Một số khác từ chối mặc dù có sự trả thù của người Xy ri. Một thầy tu già, Mattathias, bắt đầu cuộc nổi dậy. Sau này, con của ông ta, Judah Maccabee, đưa cuộc nổi dậy tiến xa hơn nhiều và giành được chiến thắng cuối cùng chống lại quân đội Xy ri. Trong cuộc lễ giành lại được tự do, người Do Thái vào thành Jerusalem tẩy uế ngôi đền, và tái lập sự thờ phượng tại đây. Họ tìm thấy một hộp đựng dầu đóng kín thường dùng trong những buổi lễ của họ. Theo truyền thống, dầu này được thắp trước bàn thờ trong tám ngày.

Bây giờ người Do Thái đốt tám ngọn nến trong lễ Hanukkah, thường thường đốt một ngọn vào tối hôm đầu, ngọn thứ hai vào đêm thứ hai và cứ thế tiếp tục. Họ cũng gọi lễ Hannukkah là Hội Hoa Đăng. Hanukkah là lúc cực kỳ vui sướng và cũng là lúc trang trọng nhớ lại tự do quý giá nhường nào. Lức này người Do Thái đặc biệt cảm tạ về sự tự do được lễ bái theo lương tâm của chính họ Cuộc tranh đấu cho tự do tư tưởng và thờ cúng không bao giờ có thể hoàn toàn chấm dứt. Đây là một nhiệm vụ đang tiếp diễn và người Do Thái xác nhận điều này khi họ đọc kinh cầu nguyện lể Sabbath đặc biệt trong lễ Hanukkah:

Ôi lạy Chúa, hãy ban phước cho chúng con, đem ánh sáng Hanukkah tỏa chiếu nhà chúng con và đời sống chúng con. Cầu xin ánh sáng này nhen lên trong chúng con ngọn lửa của niềm tin và lòng nhiệt tâm giống như Maccabees thời xưa, chúng con chiến đấu can trường vì chính nghĩa của Thượng Đế. Xin hãy làm cho chúng con xứng đáng với lòng thương yêu và phước lành của Thượng Đế, cái khiên và người bảo vệ chúng con. Amen.

Lễ Purim. Vào đầu xuân -- thường vào tháng Ba - người Do Thái cử hành một ngày lễ mừng đặc biệt. Trong các giáo đường người ta qui tụ để nghe đọc về Megillah, cuốn sách về Esther. Trái với sự lưu ý nghiêm trang thông thường trong buổi lễ, người Do Thái trong ngày này phát cho trẻ em những đồ gây tiếng ồn để dùng ở một vài chỗ trong lúc đọc. Sau này trẻ em có thể chuyển thành kịch một câu truyện cổ. Bạn bè và thân quyến thường trao đổi quà tặng, và nhiều người Do Thái rất thích loại bánh quy đặc biệt, gọi là bánh Haman.

Câu chuyện mà họ nghe trong giáo đường liên quan đến một phụ nữ Do Thái đẹp thuở xưa, Esther là vợ của Hoàng Đế ở Persia. Cậu của Esther, Mordecai tình cờ khơi dậy lòng thù ghét một vị quan cao cấp trong triều tên Haman.

Để trả thù, Haman bắt đầu một kế hoạch tiêu diệt tất cả người Do Thái, buộc tội họ không trung thành với nhà vua. Khi Esther biết được kế hoạch này, bà liều chết vạch trần âm mưu của Haman, bộc bạch dòng dõi Do Thái của chính bà với nhà vua. Kết quả, nhà vua vinh danh Mordecai -- và Haman bị treo cổ, một hình phạt mà chính y định sửa soạn cho Mordecai.

Người Do Thái vui mừng nghe đọc truyện này hàng năm. Họ sung sướng với bàu không khí hội hè linh đình tràn ngập giáo đường vào đêm đó với những trẻ em sử dụng mạnh mẽ những đồ gây tiếng ồn ào bất kỳ ở đâu tên Haman được nói đến. Chính họ cũng không quan tâm nhiều đến truyện có thật hay không khi đem đọc. Nhiều học giả Do Thái cho rằng truyện đó chỉ là cuốn tiểu thuyết lịch sử.

Tuy nhiên ý nghĩa của câu chuyện là có thật và đúng. Đó chính là chuyện hận thù hướng vào người Do Thái, chỉ vì họ là người Do Thái. Lời buộc tội chính của Haman chống lại người Do Thái là vì lối sống của họ "khác biệt". Việc buộc tội này, cũng như những thứ tương tự như vậy đã được phóng đi chống lại người Do Thái nhiều lần không kể xiết trong quá khứ. Thảo nào mà họ cử hành lễ này hàng năm về chuyện sa sút của một kẻ áp bức chống người Do Thái.

Người Do Thái cử hành lễ Purim không phải chỉ vì lý do này, mà cũng là để công nhận tình anh em chung. Nhiều giáo sĩ nói rằng khái niệm căn bản của ngày này là những dị biệt giữa con người không cần phải gây ra chia rẽ bất đồng. Sâu xa hơn tất cả những dị biệt là lòng nhân đạo của chúng ta. Trong truyện này, nhà vua chấp nhận dân tộc có lối sống khác biệt cho thấy ông đã nhìn thấy nhân loại bị chia sẻ dưới tính đa dạng bên ngoài.

The Passover (Lễ Quá Hải). Người Do Thái, giống như tất cả các dân tộc khác, có một lễ hội vào mùa xuân. Xa xưa, người dân cử hành lễ cầu nguyện cho đất mầu mỡ lại, những con vật mới sinh trong bầy của chúng, và cây non phát triển trong đời sống cỏ cây. Hàng trăm năm qua, người Do Thái tổ chức lễ hội mùa xuân để tưởng nhớ những biến cố huyền thoại được mô tả ở những chương đầu của Cuốn Exodus (Sự Rời Khỏi Ai Cập).

Trong nhiều năm, người Do Thái đã bị giữ làm nô lệ tại Ai Cập. Moses trở thành người phát ngôn của họ và tìm cách giải thoát họ khỏi Vua Pharaoh Ai Cập. Nhưng ông vua này trở nên hết sức bướng bỉnh, theo huyền thoại, mặc dầu nhiều tai họa do Thượng Đế giáng xuống người Ai Cập. Cho nên Thượng Đế đã sai một tử thần giết tất cả những gì mới sinh trên đất Ai Cập, cả người lẫn vật. Tuy nhiên người Do Thái không bị giết. Họ đánh dấu nhà họ bằng máu cừu. Cho nên tử thần "bỏ qua" nhà họ. Vua Pharaoh thuần tính lại, và người Do Thái hấp tấp bỏ đi. Đến nỗi họ không có thì giờ cho men vào bánh. Người ta phải nướng bánh mà không có men.

Trong thời gian cử hành lễ Passover, tất cả men đều được mang đi khỏi nhà Do Thái truyền thống tám ngày. Người Do Thái ăn Matzos, bánh không men, để tưởng nhớ đến những sự đau khổ của tổ tiên. Đôi khi họ gọi lễ Passover là Lễ "Bánh Không Men". Bánh đặc biệt, cỏ đắng, và những đồ ăn tượng trưng khác giúp họ kỷ niệm sự giải thoát dân Do Thái khỏi xiềng xích.

Nhiều người Do Thái không bao giờ chấp nhận chuyện về những tai họa và phép lạ trong Cuốn Exodus theo nghĩa đen hay là sự thật lịch sử. Đó là vấn đề cá nhân hay phê bình giải thích những bản văn của thánh kinh. Một số giáo sĩ dạy "tai họa của tăm tối" tỷ dụ chỉ là cái tên khác của dị đoan, và sự mù quáng tinh thần. Cho nên một số người Do Thái cử hành lễ Passover không chỉ là sự giải thoát khỏi một bạo chúa độc ác, mà còn là giải thoát khỏi xiềng xích của những thói xấu và ý định tội lỗi.

Những ngày lễ Do Thái không đơn giản cử hành và trang nghiêm những việc cho là đã xẩy ra trong quá khứ. Những ngày lễ bao giờ cũng có một ý nghĩa trọng đại cho hiện tại. Đó là vì tập quán Do Thái được trải nghiệm trong nội tâm người Do Thái -- không phải là đồ mặc vào những dịp lễ. Đúng như vậy, vào ngày lễ Passover, trong khi người Do Thái nghĩ về cảnh nô lệ xa xưa, họ cũng cầu nguyện cho người bị làm nô lệ ngày nay:

Thượng Đế của tự do, các con của Ngài vẫn rên xiết dưới gánh nặng của người phân cắt công việc độc ác. Sự nô lệ hạ thấp giá trị của thân và tâm của họ, và làm họ mất đi niềm vui về lòng hào phóng của Ngài. Nỗi sợ hãi về độc ác và sự hiểm họa của cái chết đã làm hại linh hồn con người. Xin Thượng Đế hãy phá vỡ những xiềng xích đã trói buộc họ. Xin hãy dạy cho con người hiểu rằng rèn đúc xiềng xích cho người khác là rèn đúc xiềng xích cho chính mình, chừng nào còn có người vẫn ở trong gông cùm thì không một người nào thực sự được tự do. Xin hãy giúp cho họ thấy rằng tự do chính là điều cần thiết, hơi thở của cuộc đời và chỉ trong bầu không khí của tự do thì chân lý, thịnh vượng và hòa bình mới có thể thăng hoa.

Lễ hội Shavuos. Người Do Thái cổ cử hành lễ hội này vào lúc gặt lúa mạch tại Palestine. Sau này, người Do Thái cử hành lễ hội Shavuos để tưởng nhớ đến Thượng Đế đưa kinh Torah cho Moses. Việc gìn giữ lễ hội này nhấn mạnh đến niềm tin tôn giáo căn bản của họ là vũ trụ có luật lệ, trật tự, và mục đích.

Trong những buổi lễ tại giáo đường, cuốn Ruth được đọc trước giáo đoàn. Trong những giáo đường Cải cách và Bảo Thủ, dịp này gồm cả lễ Kiên Tín cho trẻ em. Trẻ em đã hoàn tất khóa học dưới sự chỉ dẫn của giáo sĩ, tuyên bố trước giáo đoàn lòng trung thành với Thượng Đế và ý định sống theo luật của Ngài.

Trên những phương diện đó, người Do Thái đứng trước những đòi hỏi và bí ẩn của đời sống, vững tin vào Thượng Đế, và hãnh diện về truyền thống của họ. Từ ngàn năm qua, dù phải đối đầu với vấn đề gì, người Do Thái vẫn tin vào Luật của Chúa. Họ có được sức mạnh từ lời tuyên bố đơn giản: "Chúa là Một".

CƠ ĐỐC GIÁO

15. JESUS VÀ VƯƠNG QUỐC CỦA THƯỢNG ĐẾ

Vị thế của Jesus trong lịch sử không chỉ là một cá nhân từ hai ngàn năm qua, Jesus là một biểu tượng tôn giáo. Những sự kiện về đời sống của Ngài đã được thêu dệt với hy vọng và ước mơ của nhiều thế hệ người Cơ Đốc Giáo. Vì những lý do này hầu như không thể có được một hình ảnh lịch sử thực sự về con người vô tình trở thành người khai sáng ra Đạo Cơ Đốc, và dù cho - đối với nhiều người Cơ Đốc Giáo - và chính cả Thượng Đế.

Chúng ta cũng nên đặt vấn đề nghiên cứu Jesus bằng cùng một phương pháp chúng ta đặt vấn đề nghiên cứu các nhà tiên tri và lãnh tụ các tôn giáo khác. Chúng ta cần sự tôn trọng, thành thật, và cởi mở. Hoàn toàn nên nhớ rằng khuynh hướng ca ngợi hoặc cả đến phong thánh người lãnh đạo tôn giáo lớn là đặc điểm của sự phát triển ở hầu hết các tôn giáo. Thái độ lịch sử của Cơ Đốc Giáo minh họa điều này -- cũng như lịch sử của Lão Giáo và Phật Giáo. Mải mê đề cao vai trò thiêng liêng mà Nhà Thờ đã gán cho Jesus, nhiều người đã quên tìm kiếm trí tuệ trong những lời giáo huấn của Ngài. Họ đã sùng bái Ngài -- nhưng lơ là đi theo Ngài. Tuy vậy ít nhất vẫn có một số người thấy rằng đàng sau tất cả sự sùng kính Jesus đã tìm cách không làm cho con người chấp nhận chính mình, mà chấp nhận lối sống của Ngài. Và lối sống ấy là gì?

NHỮNG CHUYỆN VỀ JESUS

Chúng ta không có văn bản ghi thời gian Jesus sống. Những câu chuyện cổ nhất về Ngài mà chúng ta có thể tìm thấy có ghi trong Kinh Tân Ước. Theo Mark Sách Phúc Âm thường được coi như câu chuyện sớm nhất trong những câu chuyện này. Tuy nhiên câu chuyện được viết trên bốn mươi năm sau cái chết của Đức Chúa Jesus. Thật thú vị nhận thấy đó là câu chuyện bình dị nhất trong Sách Phúc Âm. Những năm sau, Sách Phúc Âm được viết bởi -- Matthew, Luke, và John. Mỗi một cuốn được viết với một mục đích: giới thiệu Jesus và công trình của Ngài nhằm lôi cuốn một nhóm người mới ở mức độ nào đó.

Một số phần trong các Phúc Âm này đều giống nhau, nhưng cũng có nhiều khác biệt. Thí dụ, những người viết Phúc Âm không đồng ý về lễ rửa tội của Jesus hay những kinh nghiệm tôn giáo dẫn đến lễ rửa tội của Ngài và giáo huấn của Ngài. Họ cũng không đồng ý có sự hiện hữu của những dấu hiệu của Thượng Đế để chứng tỏ cho mọi người công nhận Jesus là đứa con duy nhất của Thượng Đế.

Những người viết không đồng ý -- và những nhà học giả Cơ Đốc Giáo ngày nay cũng không đồng ý - về niềm tin của Jesus về Vương Quốc của Thượng Đế. Một số nói rằng, giống những người Do Thái ở Palestine trong thời của Ngài, Jesus mong ước vương quốc này xuất hiện theo kiểu thế giới rung động gây đầy ấn tượng. Người khác nói rằng Jesưs nghĩ về việc ấy chỉ là Vương quốc nội tâm từ từ xuất hiện trong tâm con người. Có những đoạn trong Tân Ước chứng minh mỗi giải thích. Có những đoạn tuyên bố sự mong ước của Jesus về một vai trò quan trọng trong Vương quốc, là người đại diện của Thượng Đế. Và cũng có những đoạn khác giới thiệu Ngài như một vị thầy khiêm nhường như Amos, Hosca, hay những nhà tiên tri khác.

Vì những khác biệt thú vị như vậy trong việc giải thích các chi tiết, các nhà học giả công nhận rằng chúng ta không bao giờ có thể biết Jesus thực sự. Chúng ta chỉ có thể biết Ngài qua sự nhớ lại của con, cháu, những người lần đầu tiên nghe nói và biết Ngài. Các sử gia biết đó là vấn đề chung cho tất cả các tôn giáo, nhưng người Cơ Đốc Giáo đã có nhiều cố gắng "chứng tỏ" các vấn đề bằng cách dựa vào kinh thánh hơn nhiều người khác có "bằng chứng" như vậy không phải là mối quan tâm to lớn đối với những người Phật Giáo và Ấn Độ Giáo chẳng hạn. Họ tin rằng chân lý là vô tận. Chân lý được hiểu đối với từng người qua kinh nghiệm bản thân cũng như đối với những nhà lãnh đạo tôn giáo trọng yếu.

Bởi vậy chúng ta nên biết ngay vào lúc đầu, chỉ có một chút chúng ta có thể chứng minh về cách Jesus sống và dạy. Những chỗ mà các học giả trung thực không đồng ý, thì điều quan trọng là chúng ta tìm hiểu hồ sơ cho chính chúng ta. Bằng cách đó, chúng ta có thể nhận thức được những vấn đề khó khăn liên quan đến việc chọn lựa bất cứ sự giải thích nào. Mỗi một người chúng ta phải nhớ rằng không có những nỗ lực thực sự thì sẽ chỉ tìm thấy trong các hồ sơ những điều mình muốn khám phá ra tại đấy. Thường thường những điều chúng ta tìm thấy nói nhiều về cá tính của chúng ta hơn là nói về chân lý mà chúng ta tìm kiếm.

Chuyện về Jesus không chấm dứt với cái chết của Ngài. Nó trải dài qua nhiều thế kỷ của Cơ Đốc Giáo. Jesus cam kết theo ý Thượng Đế, như Ngài hiểu điều đó, và đối với những đòi hỏi cấp thiết thuộc Vương Quốc của Thượng Đế. Sự cam kết này và hàng loạt sự việc trong đời Ngài đã làm Jesus trở thành nhân tố chỉ đạo trong đời sống người Cơ Đốc Giáo. Trên mười chín thế kỷ đã qua, từ khi Ngài nói với các đệ tử và tín đồ. Bóc đi từng lớp năm tháng để khám phá ra, cách tốt nhất mà chúng ta có thể xem Ngài dạy và sống ra sao.

JOHN, NGƯỜI RỬA TỘI

Vào một ngày bình thường ở Palestine vào khoảng năm 26 sau Công Nguyên, một người gọi là John, Người Rửa Tội, đang giảng dạy gần bờ sông Jordan. Danh tiếng là bậc thần nồng nhiệt và nghiêm khắc đã vang dội đến tận miền quê. Và vào ngày đó có nhiều người đã đi bộ từ xa về để nghe Ông. Một khi ở đấy rồi, họ ngồi trên đá cứng trong cái nóng nứt nẻ.

Họ bị diễn giả thu hút đến nỗi không còn thấy sự không thoải mái của mảnh đất khô cằn của Judea. John nói với họ một cách khẩn khoản và nghiêm nghị. Ông giảng về kiểu sống mới mà họ phải sống -- một cuộc sống nổi bật về sự hối cải những lầm lỗi trong quá khứ. Họ phải sám hối ngay bây giờ vì Vương Quốc của Thượng Đế sắp xuất hiện, mang hòa bình và thỏa mãn cho những người ngay thẳng nhưng mang đau khổ khủng khiếp cho những người có tội. Những tiện nghi của đời sống, những lễ vật trong đền đài, nghi thức và nghi lễ về lễ bái, không thành vấn đề. Vấn đề là một sự thay đổi cơ bản về cuộc sống, với toàn bộ sự tồn tại của mình được tẩy uế và chỉnh đốn bằng sám hối.

Trong số những người chú ý nghe những lời khẳng định của John buổi chiều hôm ấy có một thanh niên tên là Jesus. Jesus đi bộ suốt từ Nazareth đến để nghe vị thầy mới này thuyết giảng, vị này sống ẩn dật ở vùng hoang mạc nhưng đã lôi cuốn đông quần chúng đến đó do sức mạnh ở thông điệp của ông. Jesus đã bị khích động lạ lùng bởi những lời Ngài nghe, bởi tính dũng cảm, thành thực, và sức mạnh của những lời này. Ngài quan sát những người khác nhận lời mời của John đi xuống sông Jordan để được rửa tội như một dấu hiệu của sự sám hối và lời hứa sống cuộc đời mới. Sau khi nghe, Jesus cũng đi xuống để được John rửa tội.

MỘT QUYẾT ĐỊNH MỚI

Jesus xúc động sâu xa bởi điều đã kinh qua. Ngài dường như cảm thấy Thượng Đế ghi nhận hành động của Ngài và vui lòng với việc này. Không bao lâu sau, chính Jesus đi vào nơi hoang mạc để suy tư về đời sống của mình sẽ như thế nào sau này. Trong lúc suy tư một mình, Jesus tin rằng Thượng Đế muốn Ngài sống một cuộc đời đặc biệt, dạy người khác và giúp đỡ họ.

Jesus cảm thấy mình không muốn giống như kiểu thần John, sống xa rời quần chúng, một mình nơi hoang mạc. Thay vì, Jesus sẽ mang thông điệp của mình cho người dân ở các thành phố và thị xã, cũng như những người ở miền quê. Lòng Ngài tràn ngập niềm khao khát muốn dạy cho những người phải hàng ngày đối đầu với những khó khăn của đời sống và tôn giáo -- không phải chỉ cho những người có thể bỏ nhà cửa và tiện nghi hàng ngày như những tín đồ của John. Ngài trở về nhà và nói với gia đình cùng bạn bè điều Ngài quyết định làm.

Không dễ dàng gì thi hành quyết định của Ngài. Hầu hết người trong gia đình và bè bạn không thể hiểu và đánh giá đúng ý định của Ngài. Đối với một số trong đám người này, Jesus bao giờ cũng có vẻ như nghiêm khắc nhưng họ không bao giờ trông chờ Ngài ra đi hẳn khỏi kiểu sống bình thường. Mẹ Ngài, anh em ngài, chị em Ngài đều lệ thuộc vào Ngài để sống từ khi Cha Ngài, Joseph chết. Làm sao họ có thể sống không có Ngài.

Ngài phải đối đầu với những phản đối và có lẽ sự chế diễu của người dân trong làng Ngài. Một số người tán thành sự ra đi của Ngài gia nhập vào một trong những phong trào bí mật chống lại người La Mã. Nhưng làm sao Ngài có thể giúp dân của Ngài chiến thắng được quân xâm lăng chỉ bằng cách trở thành một nhà thuyết giáo lang thang? Cũng có thể Jesus phải đương đầu với những nghi ngờ kéo dài liệu về việc Ngài có thể sống theo đường lối Ngài dự tính không. Không nhà, không thu nhập, không bè bạn để Ngài có thể phụ thuộc. Tất cả sự ăn mặc của Ngài đều do những người đến nghe Ngài nói cung cấp. Điều Ngài giảng dạy cho họ có xứng đáng với những gì họ cho không?

Bất chấp mọi lập luận, Ngài vẫn tiến lên. Ngài đã trông chờ những khó khăn như vậy. Sức mạnh nào Ngài cần thiết để thi hành kế hoạch của Ngài đã đến từ sự cảm hứng dẫn đến chúng. Đơn độc và không có sự tán đồng của thân nhân và bè bạn, Ngài đi về Capernaum, bắt đầu nơi đây mục vụ dẫn đến cái chết cho Ngài và sự ra đời đạo Cơ Đốc.

THƯỢNG ĐẾ VÀ VƯƠNG QUỐC CỦA NGÀI

Quyết định của Jesus, giống như hầu hết những quyết định như vậy, có những căn nguyên sâu xa. Còn là một đứa trẻ nhỏ, Jesus đã học lịch sử và kinh thánh Do Thái nơi cha Ngài và những nhà lãnh đạo giáo đường. Ngài thấy rõ niềm hy vọng của người Do Thái luôn luôn hướng về một tương lai sáng sủa và tốt đẹp hơn, khi Thượng Đế giúp đỡ người Do Thái lấy lại được tự do và thanh thế giữa các quốc gia. Niềm hy vọng này cháy rực trong lòng họ trong khi họ phải sống dưới ách xâm lược của người La Mã.

Trong một thời gian Jesus đã suy nghĩ rất cẩn thận về niềm hy vọng của quốc gia này, và Ngài biết rằng Ngài không thể hoàn toàn đồng ý với những người có niềm hy vọng ấy. Nhiều người Do Thái đã có cảm tưởng vô vọng cho rằng với tư cách cá nhân những gì họ đã làm là không quan trọng. Họ tin tưởng rằng một lúc nào đó Thượng Đế sẽ làm phép lạ, đem đến một thời đại mới, khi Palestine trở nên hùng mạnh, độc lập và được tôn trọng giữa những quốc gia. Sẽ không có quân đội chiếm đóng hay những người cai trị ngoại quốc. Dân Do Thái sẽ sống trong thịnh vượng như họ đã từng sống dưới triều Vua David xa xưa. Để mở đầu thời đại mới này, người được Thượng Đế xức dầu thánh, Đấng Cứu Tinh, Messiah, sẽ chiến thắng quân thù. Rồi Đấng Cứu Tinh sẽ trị vì Vương quốc của Thượng Đế mà bao thế hệ người Do Thái đã hy vọng.

Việc này không phải là cách mà Thượng Đế sẽ làm cho sự việc thay đổi, Jesus quyết định như vậy. Thượng Đế không ban phước lành cho một số hay từ chối không ban phước lành cho những người khác. Phước lành của Thượng Đế đến trong tĩnh lặng, khiến người ta thấy cuộc đời là cái tốt đẹp nhất để sống. Vương Quốc của Thượng Đế không phải là điều kiện để mà chờ đợi trong một tương lai được dấu kín. Không, Vương Quốc của Thượng Đế là triển vọng hiện thời về điều thiện bị che khuất, giống như một hạt giống ở trong mỗi con người. Bạn chỉ việc để cho nó phát triển tự nhiên, giúp cho nó phát triển bằng thái độ yêu thương và những hành vi lương hảo. Và chú ý, nó phát triển từ từ cho đến khi chính bạn là một phần của Vương Quốc Thượng Đế.

Khái niệm của Jesus về Vương Quốc phát sinh một cách rất tự nhiên từ niềm tin của Ngài về Thượng Đế. Jesus trải qua kiểu huấn luyện tôn giáo mà tất cả những người Do Thái trung thành đều cố gắng truyền cho con cái. Ngài đã nghe nhiều chuyện về các nhà tiên tri. Ngài biết nhiều bản thánh thi mô tả tình thương yêu và nhân từ của Thượng Đế. Quan trọng hơn cả là Jesus đã bỏ thì giờ để phát triển sự quan hệ thân thiết cá nhân với Thượng Đế. Cầu nguyện và trầm tư mặc tưởng đã dẫn Ngài đến chỗ cảm thấy như ở nhà với Thượng Đế. Sau này Jesus đã kể lại nhiều chuyện ngụ ngôn miêu tả Thượng Đế như một người cha, tha thứ, quan tâm và thương yêu. Trong suốt cuộc đời của Ngài, Ngài đã quay về với Thượng Đế như người hướng dẫn, nguồn sức mạnh và cảm hứng, lúc nào cũng có chiều hướng suy ngẫm và cầu nguyện.

Jesus thường nhắc đến ý muốn của Thượng Đế khi Ngài dạy và an ủi những người nghe. Chắc chắn, Thượng Đế mong đợi một điều gì đó nơi con người. Ngài mong con người cư xử với nhau bằng mối quan tâm thương yêu, tha thứ và nhẫn nại, giống như Ngài đối xử với họ. Đó là sự ngay thẳng mà Vương Quốc của Thượng Đế đòi hỏi, không phải sự ngay thẳng bị trói buộc bằng luật lệ và thói quen. Sự ngay thẳng này đi sâu hơn nhiều -- sâu như những tư tưởng và ý định và khao khát. Từ nguồn gốc này, nó trôi chảy thành nói lời ngay thẳng, hành động chính trực và nỗ lực chân chính.

JESUS VÀ GIÁO HUẤN CỦA NGÀI

Ở Caperenaum và hầu hết các thành phố Ngài tới sau này, Jesus được người bình dân tiếp đón ân cần. Ngài đến với họ với một thông điệp hy vọng đặc biệt. Nhiều người không đủ tiền mua những thứ hiến tế đặc biệt để cúng lễ hàng năm cho ngôi đền tại Jerusalem. Các thầy tu nói với họ rằng những thứ hiến tế phải được hiến dâng nếu họ muốn được ân sủng của Thượng Đế. Họ phải làm gì? Jesus nói lễ vật của một tấm lòng biết hối lỗi và một đời sống trong sạch còn quan trọng hơn nhiều những lễ vật bằng hoa quả đầu mùa và những con dê non mới một năm.

Một số người vui vẻ nghe Jesus là những người cảm thấy cực kỳ tội lỗi vì những luật lệ mà họ không giữ. Có vô số luật lệ Do Thái nói họ phải ăn gì và phải được phụng sự ra sao và qui định tuân thủ nhiều tập tục tôn giáo nhỏ mọn như thế nào. Người nghèo dành cả thì giờ vào việc nhặt nhạnh kiếm sống một cuộc sống nghèo nàn không có cơ hội và thường không có thông tin về những luật lệ như vậy. Nhiều giáo sĩ Do Thái buộc tội họ là những người tội lỗi. Jesus nói với người dân, họ không nên quá quan ngại về việc thi hành luật lệ đến mức quên tinh thần của luật lệ. Luật lệ và những giáo đồ thuộc tôn giáo bình dân của Ngài nhấn mạnh vào hai điều: Thương yêu Thượng Đế và thương yêu láng giềng.

Một số người trở thành bệnh vì họ tràn đầy cảm nghĩ tội lỗi hay quá buồn phiền bởi sự thất bại thường xuyên trong khi làm tất cả những điều tôn giáo đòi hỏi. Đối với những người như vậy, thông điệp của Jesus tựa như thuốc. Họ bệnh trong tâm, và điều đó đã làm họ bệnh. Những lời nói và sự hiểu biết của Ngài làm họ cảm thấy khá hơn và sức khỏe của họ được hồi phục. Qua những tình huống như thế, Ngài có danh tiếng như một người chữa lành bệnh. Ngài đã lôi cuốn nhiều người vì lý do đó. Đôi khi Ngài cũng nản chí vì có nhiều người muốn chữa khỏi bệnh, nhưng quá ít người muốn theo Ngài sống theo ý Thượng Đế.

Không phải tất cả mọi người đều thích điều mà họ nghe được. Nhiều người Do Thái cảm thấy người ta không thể sống một cuộc đời tốt đẹp trừ phi thi hành đầy đủ luật Do Thái đến từng chi tiết đòi hỏi nỗ lực cao nhất. Họ không thích nghe thấy ai nói những luật ấy không quan trọng. Một số những nhà lãnh đạo tôn giáo trở nên rất giận dữ vì thanh danh của Jesus như người chữa lành bệnh gia tăng. Họ nghĩ rằng những người tội lỗi đó đáng bị đau khổ. Jesus phải làm gì thích hợp khiến họ cảm thấy được tha thứ? Chỉ một mình Thượng Đế biết liệu họ có được tha thứ hay không.

Một số người Do Thái khác lo lắng vì Jesus dường như quá ư thanh thản và quá ư thương yêu. Ngài thậm chí không hận thù kẻ địch của họ, những binh lính La Mã xâm lược. Họ biết lịch sử giống nòi của họ, với tất cả những chiến bại và những cuộc xâm lăng nhục nhã. Sự chiếm đóng của La Mã là một chiếm đóng duy nhất trong chuỗi dài chiếm đóng của những kẻ xâm lược. Một số tín đồ của Jesus hy vọng Ngài có thể chứng tỏ mình là Đấng Cứu Tinh hùng mạnh, sẽ đến để giúp họ giành được địa vị hùng cường và thịnh vượng một lần nữa. Khi Ngài tiếp tục dạy họ về tình thương yêu và kiên nhẫn, một số tỏ ra chán ghét. Một số tiếp tục theo, vẫn hy vọng Ngài sẽ là Đấng Cứu Tinh vào lúc cuối cùng.

Một số đông tín đồ không hiểu điều mà Jesus đang nói khi Ngài miêu tả khái niệm của Ngài về Vương Quốc Thượng Đế. Ngài nhấn mạnh và nhắc đi nhắc lại người dân không nên chờ đợi cho đến lúc có hoàn cảnh lý tưởng để sống một cách đứng đắn. Một con người là cái người ấy ở trong chính mình.

Phẩm tính này của đời sống nội tâm không bị quyết đinh bởi quân đội chiếm đóng, hay theo đúng luật, hay dâng lễ vật tại đền. Tư tưởng mà bạn có trước khi bạn nói quan trọng hơn điều bạn nói. Thái độ bạn có bên dưới hành động quan trọng hơn cái bạn làm.

Jesus kể những chuyện đẹp đẽ cốt làm cho Vương Quốc này hình như thật đối với người nghe. Vương Quốc của Thượng Đế giống như hạt cải giống, nhỏ nhất trong tất cả hạt giống. Nhưng khi nó lớn lên, cây cải rất lớn. Cũng như vậy, bên trong Vương Quốc mới đầu rất nhỏ đến nỗi ta có thể không ý thức được. Nhưng khi nó đã phát triển đầy đủ, nó trùm khắp mọi thứ khác trong cuộc đời con người. Vương Quốc của Thượng Đế giống như một kho báu ẩn dấu trong cánh đồng. Khi người ta khám phá ra kho báu ấy, họ vội vã bán tất cả mọi thứ để mua cánh đồng ấy. Cũng giống như vậy, khi người ta khám phá ra giá trị không thể lượng định được của Vương Quốc, người ta sẽ bỏ tất cả mọi thứ vì Vương Quốc.

Đối với Jesus, Vương Quốc của Thượng Đế là mục tiêu tối hậu của tất cả nỗ lực con người. Ngoài ra không có gì thực sự đáng để tìm kiếm. Con người được chỉ định để sống trong Vương Quốc như vậy. Nó không lệ thuộc vào thời gian hay nơi chốn. Vương Quốc của Thượng Đế chỉ cần hỏi những người thẳng thắn làm công dân của nó với lòng nhân từ, khả ái, và tình thương yêu là luật của nó. Bất kỳ ở đâu, có những người ngay thẳng dùng nhân từ, khả ái, và tình thương yêu làm lối sống của họ, nơi đó có Vương Quốc của Thượng Đế.

Khi Jesus nói về Vương Quốc của Thượng Đế, Ngài tràn đầy ý thức khẩn trương. Người dân không nên khoanh tay chờ đợi Thượng Đế mang mình vào Vương Quốc. Thời gian là ngay bây giờ. Người dân phải khám phá ra khả năng của mình về điều thiện và bắt đầu sống một cách chính đáng. Jesus nói với người dân, điều này đòi hỏi sự sám hối. Họ phải từ bỏ cách sống cũ lại và bắt đầu chọn cách sống ngay thẳng theo ý Thượng Đế. Rồi Vương Quốc của Thượng Đế sẽ tới. Thượng Đế đã sẵn sàng. Con người cũng phải sẵn sàng.

Vì Ngài cảm thấy mạnh đến nỗi mỗi con người phải hội đủ những điều kiện của Vương Quốc, Jesus mang thông điệp của Ngài đến nhiều người bị gọi là tội lỗi. Những người công kích Ngài thấy rất dễ dàng vạch ra duyên cớ khi Ngài nói với những người thu thuế đáng ghét hay thăm viếng những người mà tiếng tăm khả nghi. Làm sao người ta có thể là một đạo sư tôn giáo tốt nếu có quan hệ xấu như vậy? Jesus trả lời, "Ta không đến để kêu gọi người ngay thẳng, mà là kêu gọi người tội lỗi sám hối".

Cứ thế, Jesus nhắc đi nhắc lại Thượng Đế không quở trách người tội lỗi quá nhiều như một số người đã làm. Thượng Đế sẵn sàng tha thứ lúc người ta thành thực xin tha thứ. Thượng Đế giống như một người cha thấy con bỏ nhà đi uổng phí tiền bạc và thì giờ vào sự tìm kiếm dại dột vì dục lạc. Lúc đứa con trở về, buồn bã hơn và khôn ngoan hơn, quyết định sống chính đáng, người cha mừng đón nó, tha thứ không quở trách vì được niềm vui con mình trở về. Cũng vậy, Cha trên Thiên Đường hân hoan chào đón những ai quá ân hận về quá khứ dại dột và nay thành thật sẵn sàng cố gắng sống theo ý Chúa.

Vào cuối một năm giảng dạy, Jesus đã thu thập được một số tín đồ. Mười hai người trong số đó sau này được biết là tông đồ của Ngài, quá ấn tượng với thông điệp của sư phụ, đến nỗi bỏ cả nhà cửa, gia đình và công ăn việc làm. Giống như Jesus, họ cảm thấy những đòi hỏi của Vương Quốc xóa đi tất cả những cân nhắc nhỏ bé tầm thường. Ngoài ra mọi thứ chỉ là thứ yếu trước cuộc tìm kiếm đời sống tinh thần.

Jesus càng ngày càng ý thức được hoạt động của Ngài gặp nhiều sự không tán thành từ nhiều người. Giới chức Tôn Giáo Do Thái, những người không bao giờ nhiệt tình với sứ mạng của Ngài, trở nên thù nghịch hơn. Những người La Mã, chỉ mong muốn hòa bình và trật tự, nghi ngờ bất cứ phong trào cấp tiến nào có những kế hoạch cách mạng. Họ bắt đầu sợ lời thuyết giảng của Jesus về Vương Quốc sắp tới, dầu là đối với Jesus, việc này hoàn toàn chỉ là tinh thần.

Đã từ lâu, đã có những khuyến cáo là cách sống mà Jesus chọn sẽ dẫn Ngài đến cái chết. Đã đến lúc phải thay đổi lời dạy của Ngài để Ngài không phải gánh chịu cơn tức giận của giáo sĩ quyền thế. Đã đến lúc phải bảo đảm với người La Mã bằng cách ít nhấn mạnh đến Vương Quốc của Thượng Đế. Jesus không thể chấp nhận những thỏa hiệp như vậy dưới ánh sáng quan tâm chính của Ngài về ý Thượng Đế. Ngài phải ra khỏi Jerusalem, vì nơi đây là trung tâm của Đạo Do Thái. Ngài cảm thấy Ngài có lời phán truyền để đưa ra và phải tham dự vào lễ Passover (Quá Hải). Ngài bao giờ cũng tham dự các lễ hội tôn giáo có người của Ngài. Cho nên, vào cao lúc náo nhiệt nhất ngày lễ, Jesus cùng với các tông đồ của Ngài đi vào Jerusalem.

MỤC VỤ CỦA NGÀI CHẤM DỨT

Trong lần thăm viếng này, Jesus đã bị chết trên cây thánh giá trong tay những người La Mã. Chắc chắn có một số thầy tu hay một số người ái quốc Do Thái ghen ghét đã giúp đỡ thuyết phục người La Mã cho rằng người này (Jesus) là người khích động quần chúng chống lại sự thịnh vượng của đất nước này. Một số nhà ái quốc đã thất vọng là Jesus vẫn từ chối không lãnh đạo cuộc nổi dạy chống lại La Mã. Các thầy tu cảm thấy địa vị của mình đảm bảo hơn sau khi Ngài ra đi. Không có quần chúng đông đảo khóc than nhân danh Jesus. Một số đông tín đồ của Ngài đã bỏ Ngài trước đó, thất vọng vì chờ đợi vô ích ở Ngài tuyên bố chính mình là Đấng Cứu Thế. Đối với một số tông đồ, dường như toàn bộ cuộc phiêu lưu tôn giáo đã bắt đầu đòi hỏi quá nhiều. Họ bỏ Jesus vì an toàn của chính họ.

Jesus hẳn đã có nhiều lúc nản chí vào những ngày cuối cùng. Ngài đã thấy nhiều người ao ước Ngài làm những điều mà niềm tin của Ngài không cho phép Ngài làm. Ngài đã thấy các tông đồ hành động về nhiều mặt cho thấy họ vẫn không am hiểu tường tận điều mà Ngài cố gắng từ lâu giảng dạy cho họ về ý của Thượng Đế. Có lúc Ngài biết Ngài có thể bị sát hại. Phải chăng cái chết của Ngài đã đến trước khi Ngài hoàn tất tất cả những gì Ngài định làm? Phải chăng Ngài đã để dân chúng vẫn còn chưa được sửa soạn có những con đường qua đó Thượng Đế sẽ thực hiện để mang vào Vương Quốc? Hẳn là khó khăn biết bao để nhìn thấy nỗ lực của Ngài chấm dứt trước khi Ngài đạt được mục tiêu.

CƠ ĐỐC GIÁO BẮT ĐẦU

Nhưng cứu cánh đã tới. Những tông đồ hoang mang đi trốn. Sau này, khi cảm thấy an toàn, họ gặp nhau và nói với một giọng kín đáo về chuyện bi thảm đã xẩy ra. Nỗi buồn của họ đã dẫn họ đến tình đoàn kết sâu xa hơn, và họ cùng nhau tưởng nhớ đến những điều đã kinh qua mà họ chia sẻ với Jesus. Ngay từ sự đoàn kết này, Cơ Đốc Giáo bắt đầu.

Về nhiều mặt, Cơ Đốc Giáo khác biệt hẳn tôn giáo giản dị của Jesus. Nhưng về ý tưởng chính về niềm tin, nó quay lại với người thanh niên nhũn nhặn tận tụy từ Galilee đã từng nói con người phải cam kết hết thẩy cho Thượng Đế và rồi cho xóm giềng. Cái chết của Jesus là hậu quả niềm tin của Ngài, là một bước tiếp theo hợp lý trong cuộc đời hiến dâng của Ngài cho nhiệm vụ mang Vương Quốc của Thượng Đế xuống trái đất.

16. NỀN MÓNG CỦA NIỀM TIN

Rất dễ hiểu sự hoang mang và sợ sệt của đám tin đồ ban đầu của Jesus mục kích việc bắt bớ và đóng đinh trên cây thánh giá của Jesus. Ngài đã bị giết như một tội phạm, và họ, vì đã chia sẻ công việc làm với Ngài lo ngại chắc chắn phải chia sẻ hình phạt của Ngài. Hết sức vội vàng họ ẩn náu, và trong một thời gian, phong trào này dường như không còn.

Khi cơn nguy hiểm đã qua, những tông đồ của Jesus bắt đầu gặp lại nhau, họ nhớ lại những lúc vui buồn trong những ngày sống với Sư phụ. Đồng thời họ tìm sự an ủi cho nỗi buồn của họ bằng cách kể lể và kể lại những chuyện về Jesus. Họ không ngưng sống như thế với ký ức dường như Jesus vẫn sống với họ. Một số bắt đầu tin rằng Ngài không chết. Đúng, Ngài đã chết trên cây thánh giá và đã được đem chôn. Nhưng bây giờ Ngài sống lại. Ngài chỉ bỏ họ một thời gian ngắn, để sửa soạn mở ra một thời đại mới, Vương Quốc của Thượng Đế.

NHỮNG NGƯỜI CƠ ĐỐC GIÁO ĐẦU TIÊN

Những sự tin chắc này dễ dàng đến với những người Cơ Đốc Giáo ở thế kỷ đầu tiên. Vào thời ấy có những người mà sự ngu dốt làm cho họ có niềm tin dị đoan. Đôi khi họ tin vào những giấc mộng và ảo tưởng của họ. Họ tin vào quỷ sứ và thiên thần. Họ tin rằng đôi khi xác chết có thể đi ra khỏi mồ. Bây giờ họ tin Jesus sẽ trở lại.

Để nuôi hy vọng, họ nhớ lại những lời tuyên bố mà họ nghĩ rằng do Jesus nói. Phải chăng Ngài đã không nói Vương Quốc sắp đến tức thì? Phải chăng Ngài đã không kêu gọi họ bằng đời sống bình thường của họ làm việc với Ngài để Vương Quốc đến? Phải chăng Ngài đã không hứa rằng, họ có thể chia sẻ trong Vương Quốc? Chắc chắn đúng là như vậy. Ngài sẽ trở lại, và Vương Quốc của Thượng Đế sẽ cùng với Ngài trở lại. Kết cuộc, Ngài chính là Chúa Cứu Thế.

Nhiệt tình với sự cấp thiết về bức thông điệp của họ, những tông đồ gấp rút nói với những người khác. Jesus sẽ sớm trở về để mang vào Vương Quốc của Thượng Đế. Việc này xẩy ra trong thế hệ của họ! Nhiều người Do Thái nghe và chú ý đến lời răn này để tự sửa soạn. Sau này, năm này qua năm khác, không có gì xẩy ra, sự cấp bách của thông điệp bắt đầu tiêu tan.

CƠ ĐỐC GIÁO BỎ DO THÁI GIÁO

Giáo huấn của Jesus chưa bao giờ trở thành một phần của Do Thái Giáo nguyên thủy. Jesus đã hướng thông điệp của Ngài vào những ai không thấy được an ủi trong Do Thái Giáo khắt khe. Nhiều tín đồ bị lôi kéo ra khỏi đời sống Do Thái cả về tôn giáo lẫn chính trị. Được củng cố bởi ảnh hưởng của Jesus, những người này thay đổi thái độ nhanh hơn, theo quan điểm chính thống Jesus hơn. Dù vậy, cũng phải một thời gian rất lâu trước khi những người cơ đốc giáo Do Thái chấp nhận những người không đạo (không phải là Do Thái) vào đoàn thể của họ.

Vị tông đồ Peter ở trong đám các người khăng khăng giữ phong trào độc quyền Do Thái. Nhưng sau này, khi Paul trở thành Cơ Đốc Giáo, ông đã thuyết phục Peter và những người khác chấp những người không đạo vào nhóm. Sau đó, những người không phải là Do Thái đã nhanh chóng đông hơn những người Do Thái trong phong trào Cơ Đốc Giáo.

JESUS LÀ CHÚA CỨU THẾ CỦA CƠ ĐỐC GIÁO

Về tất cả những người liên quan đến nguồn gốc của Cơ Đốc Giáo, Paul là người chịu trách nhiệm nhiều nhất về chiều hướng niềm tin của nó. Paul đã thêm vào những ghi nhận mới quyết định tiến trình tương lai. Khái niệm mới đến từ những tôn giáo "sùng bái huyền bí" có tính chất đại chúng lan tràn trên mảnh đất Địa Trung Hải. "Sự huyền bí" này có hiệu quả cho sự hợp nhất thần bí và tượng trung với một thượng đế sống dưới hình thức con người, chết đi nhưng rồi sống lại. Qua một nghi lễ bí mật, hợp nhất một cách tượng trưng Ngài với thượng đế của Ngài, các tín đồ được bảo đảm là Ngài có thể thay đổi bản tính người thành tính thần thánh và bởi vậy có được kiếp sau hạnh phúc. Có một số sự sùng bái huyền bí với những thượng đế khác nhau. Nhưng tất cả đều nhấn mạnh đến sự cứu rỗi do sự tận tụy với Chúa Phục sinh.

Thật thú vị là từ Kyrios (Chúa) mà người Hy Lạp áp dụng với thượng đế phục sinh, đã được Paul sử dụng để áp dụng cho Jesus. Tất nhiên những ai nghe thấy Jesus được gọi là Kyrios sẽ giải thích Ngài theo ý nghĩa sùng bái-huyền bí. Đối với nhiều người đổi đạo sang Cơ Đốc Giáo, Jesus là thượng đế cứu rỗi đầu tiên trong xác thân con người.

Một trong những cuộc thảo luận vĩ đại nhất trong lịch sử Cơ Đốc Giáo là liệu có phải Jesus là thần thánh, giống như Thượng Đế, hay Thượng Đế. Sau nhiều hùng biện dư dội, cuối cùng người ta quyết định Jesus là Thượng Đế thực sự của chính Thượng Đế ". Cuộc thảo luận này chỉ là một trong những cuộc tranh cãi thần học, hầu hết những cuộc tranh cãi này lẽ ra đã không phát triển nếu một mình Jesus giúp tổ chức một tôn giáo mới phát triển. Có thể nói chắc là Jesus có lẽ đã không lưu ý đến một chút nào cả. Đời sống, đối với Ngài không phải là điều để tranh luận và bàn cãi. Tôn giáo cũng vậy. Con người phải sống có tôn giáo, không phải tranh cãi.

Người Cơ Đốc Giáo nói Jesus là vị cứu rỗi trực tiếp. Thông thường họ gọi Ngài là Chúa có nghĩa là Người cứu nguy hay Chúa Cứu thế. Họ nói Jesus Christ là Chúa con của Thượng Đế. Hầu hết những người Cơ Đốc Giáo tin rằng Ngài chia sẻ tính thần thánh của Thượng Đế, chính Ngài là Thượng Đế. Ngài sống và chết như một con người và vì con người. Nhưng Ngài hồi sinh từ nấm mồ và thăng thiên và "ngồi ngay bên tay phải Thượng Đế", như một tín điều nổi tiếng tuyên bố.

Những sự xác định này phát triển từ khái niệm sùng bái huyền bí cổ đến nỗi những người Cơ Đốc Giáo hiện đại không biết nguồn gốc hay lý do về sự tồn tại của chúng. Những khái niệm này còn sống mãi vượt qua cả nguồn gốc của nó, vì chúng được bao gồm trong các tín điều của các nhà thờ Cơ Đốc Giáo chính thống. Có một câu chuyện Cơ Đốc Giáo cổ nói về những khái niệm cổ. Câu chuyện này được nhiều người gọi là "câu chuyện cứu rỗi". Nó mô tả con người chìm ngập trong tội lỗi từ thời mới có người đầu tiên. Con người đầy tính độc ác đến mức không biết gì về điều thiện. Chỉ có Thượng Đế mới có thể làm gì để chuộc lỗi cho họ từ tình trạng ấy. Cho nên Thượng Đế chọn dân Hê Brơ - Do Thái để dạy con người hướng thượng trên tội lỗi đang diễn ra này.

Người Do Thái không đóng vai trò thích đáng của mình trong kế hoạch này. Cho nên Thượng Đế phái Jesus Christ, đứa con duy nhất của Thượng Đế, mang con người trở về hòa hợp với chính mình. Qua đời sống, cái chết, phục sinh, và thăng thiên vào Thiên Đàng, Jesus đã làm moị điều cần thiết. Qua sự hy sinh thiêng liêng này, con người giành được sự hủy bỏ hay tha thứ những tội lỗi to lớn chống lại Thượng Đế.

Thực tế là tất cả những người Cơ Đốc Giáo chấp nhận những mục chính trong câu chuyện đầu bi thảm là thực, mặc dầu một số không nhìn vào các lời kể cái gì thực sự xẩy ra. Một số cảm thấy đó là cách mô tả cái gì đó là thực. Họ nói câu chuyện có nghĩa là khởi đầu người ta có ý định hoàn toàn và có quan hệ chính đáng với Thượng Đế.

Tuy nhiên, hết người này đến người kia, từ thế hệ này đến thế hệ khác, đã có những sự chọn lựa không thích hợp. Họ mất mối quan hệ chính đáng, và bởi vậy họ mất khả năng sống toàn hảo. Mỗi người phải trải qua khó khăn nhưng là tiến trình bổ ích để tìm thấy điều đó. Đồng thời một người cố gắng chân thật, Thượng Đế lưu ý đến hạnh phúc của người ấy. Thượng Đế có thể làm cho người ta tìm lại chính mình.

Cho đến nay đa số các người Cơ Đốc Giáo đã nói Jesus là một phần thiết yếu con đường cứu rỗi có thể làm được của Thượng Đế.

Điều này đã dẫn dắt người Cơ Đốc Giáo cầu nguyện với Chúa Jesus và tôn thờ Ngài, giống như họ tôn thờ Thượng Đế. Nhiều người Cơ Đốc Giáo đã tìm thấy ở Chúa Jesus tất cả những gì về thượng đế mà họ biết.

Tất cả những người Cơ Đốc Giáo cho rằng niềm tin của họ bắt nguồn từ điều mà Jesus đã nói hoặc làm, dù rằng người Cơ Đốc Giáo trong tất cả các giáo phái tin rằng nhiều điều mà chính Jesus cũng chưa bao giờ nghe nói. Trong quá trình phát triển Cơ Đốc Giáo, người Cơ Đốc Giáo cũng đối mặt với cùng những câu hỏi chung về bản chất của con người và bản chất của Thượng Đế. Hầu hết những người Cơ Đốc Giáo tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi này khác hẳn với những câu trả lời của chính Jesus. Câu trả lời tùy thuộc kinh nghiệm cá nhân. Vậy nên câu trả lời của Cơ Đốc Giáo thay đổi theo thời gian và không gian. Nhưng những câu hỏi mà người dân băn khoăn ở thời Jesus và ở thời đại chúng ta, cũng rất giống nhau, vì con người cơ bản là giống nhau.

TÔI LÀ GÌ?

Người Cơ Đốc Giáo thường nói con người còn nhiều hơn những gì mà nó có vẻ là như thế. Cái có thể nhìn thấy, xác thân, thực sư là cái nhà của cái ta không nhìn thấy. Theo truyền thống, người Cơ Đốc Giáo gọi cái tôi nội tâm này là "linh hồn". Xác thân con người chỉ là thứ tạm bợ, và cuối cùng sẽ chết. Những thành phần của nó một lần nữa lại trộn lẫn với thành phần của đất. Nhưng linh hồn của con người thì bất diệt, tồn tại sau cái chết của xác thân, hầu hết người Cơ Đốc Giáo nói như vậy.

Linh hồn con người có liên quan với Thượng Đế trong ý nghĩa này. Thượng Đế là tinh thần bất diệt, hiện hữu trước khi sáng tạo. Linh hồn con người được tạo ra bởi Thượng Đế, và một khi được tạo ra, chúng cũng bất diệt. Người Cơ Đốc Giáo tin rằng mỗi linh hồn là một cá thể, được hợp nhất với xác thân cá nhân từ trước khi sinh ra. Qua sự hợp nhất của linh hồn và xác thân, một con người được thành hình.

Người Cơ Đốc Giáo cố gắng miêu tả linh hồn bằng nhiều cách. Một số người nghĩ rằng linh hồn có liên quan với trí thông minh hay với sinh lực, hay với một thứ gì khác. Nhưng người Cơ Đốc Giáo nói chung chẳng bao giờ có thể đồng ý bằng một từ khác về linh hồn. Họ nói "linh hồn" có nghĩa là "cái gì đó bất diệt" không phải là cái gì đó không xác định. Nó không bị ảnh hưởng bởi cái chết hay lực phá hoại khác. Nó là cái nằm dưới toàn bộ đời sống có ý thức của con người. Không thể nhìn thấy nó được. Nó không ở chỗ nào cả. Nó vô tận và không thay đổi. Sự hiện hữu của nó không thể chứng minh được. Nó hiện lên bằng "niềm tin".

THƯỢNG ĐẾ LÀ GÌ?

Một đứa trẻ sơ sinh không biết mình là con người. Nó phải dần dà kinh nghiệm qua thực tế mà biết nó khác mẹ nó, rồi nó đi đến chỗ biết nó khác với tất cả những người khác. Nó phải học để có ý thức về chính nó. Rồi nó càng ngày càng có ý thức với những người mà nó tiếp xúc.

Khi nó lớn lên, trưởng thành trong mối quan hệ với chính nó và người khác, nó được chuẩn bị đầy đủ cho những kinh nghiệm rộng lớn hơn. Những qui luật tự nhiên có, trật tự và sự không thay đổi của thiên nhiên mà nó quan sát từ hồi thơ ấu, những hy vọng và nhu cầu mà nó chia sẻ với đồng loại; chu kỳ phát triển và suy tàn có căn cứ trong đó nó nhìn thấy mọi sinh vật cũng góp phần -- những thứ đó dần dà làm cho nó có ý thức về điều gì đó vượt quá nó và những người như nó. Dường như có một ý nghĩa và một kế hoạch đối với cuộc sống. Đó là gì? Cái gì ở đằng sau tất cả thứ đó?

Những câu hỏi như vậy nằm trong số câu hỏi phổ biến nhất về những băn khoăn của con người. Chúng đã đưa hầu hết mọi người suy nghĩ rằng cái gì đó hay người nào đó mà họ gọi là Thượng Đế ở đằng sau tất cả. Người Cơ Đốc Giáo đã đưa ra nhiều miêu tả về Thượng Đế, mặc dù họ thừa nhận rằng Thượng Đế vượt qua sự hiểu biết và mô tả của con người. Thượng Đế quyền năng, trí tuệ, nhân từ và thương yêu vô hạn. Thượng Đế là vô hạn, vô hình, và nhân từ. Ngài là Người Phán Xử, Chúa, Cha.

Những miêu tả này có ý nghĩa gì đối với một người hoàn toàn lệ thuộc vào kinh nghiệm riêng của mình. Bất cứ một trong những từ ngữ này đều không thể có giá trị như nhau đối với tất cả mọi người. Những miêu tả này giống như những biển báo hay bảng chỉ đường ở dọc đường. Nhưng chúng không phải là mục đích như một số nhà thần học tuyên bố. Rất hữu ích để nhớ rằng khi Jesus muốn truyền cái gì đó thuộc niềm tin và triết lý của Ngài, Ngài dùng ngụ ngôn, truyện kể, và những hình thái tu có chất thơ.

Những trang sử của Cơ Đốc Giáo cho thấy nhiều nhà lãnh đạo không biết nhiều về người dân bằng Jesus. Ngài biết rằng không có hiểu biết thật sư nào tách rời khỏi kinh nghiệm trực tiếp hay gián tiếp. Con người phải biết và xác định Thượng Đế cho mình. Nhưng lịch sử Cơ Đốc Giáo chứa đựng những chuyện có niềm tin ép buộc. Đã có những lúc khi niềm tin này được xác định và tất cả những ai không chấp nhận điều đó đã bị bắt buộc ra khỏi nhà thờ. Có những tranh cãi, chiến tranh và khủng bố dưới danh nghĩa của tín ngưỡng này hay tín ngưỡng kia.

Tuy vậy thường là ngay cả đến lúc cực điểm của khủng bố và ép buộc, vẫn có một số người thận trọng biết rằng niềm tin là chuyện cá nhân. Tín ngưỡng thực là không thể ép buộc. Khái niệm về Thượng Đế của người ta là chuyện cá nhân cũng như phản ứng của người ta trước một bản giao hưởng. Tôi không thể nghe giao hưởng thay cho bạn, cũng không thể trải nghiệm về Thượng Đế cho bạn. Vậy thì tại làm sao chúng ta có thể miêu tả chúng trong cùng một từ ngữ.

THÁNH THẦN LÀ GÌ?

Chuyện Cơ Đốc Giáo về cứu rỗi nói Thượng Đế cho thấy tình thương yêu vĩ đại khi Ngài gửi con trai ngài xuống sớm giữa loài người để hướng dẫn và cứu rỗi. Nhưng Jesus không còn ở đấy để hướng dẫn người dân đi vào lối sống tốt hơn. Thay vào chỗ của Jesus, chuyện cổ nói rằng, Thượng Đế sai Thánh Thần. Trong nhiều năm qua, những cuộc tranh cãi sôi nổi đã diễn ra trong giới chính thống về địa vị và chức năng của Thánh Thần. Hầu hết những người Cơ Đốc Giáo hiện đại không còn quan tâm đến những cuộc thảo luận này. Thánh thần được coi như Thượng Đế ở một dạng khác. Đó chính là quyền năng của Thượng Đế đang tác động vào và qua đời sống của tín đồ nhằm trợ giúp cho họ và giữ quan hệ đúng với Thượng Đế và với xóm giềng.

Cơ Đốc Giáo có ba thượng đế hay chỉ có một -- tùy theo ý kiến của người giải thích. Người Cơ Đốc Giáo thường phẫn nộ khi ai đó nói rằng Cơ Đốc Giáo không phải là độc thần. Tuy nhiên những người sống trên những mảnh đất không phải là Cơ Đốc thấy rất khó hiểu làm sao Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Thánh Thần lại có thể là một Thượng Đế. Người Cơ Đốc Giáo thường trả lời là Thượng Đế có thể xuất hiện trong nhiều vai trò, cũng giống như một người có thể là con, là chồng, và là cha.

CÁI GÌ LÀ QUAN HỆ VỚI THƯỢNG ĐẾ?

Người Cơ Đốc Giáo chính thống là người xác nhận học thuyết bày tỏ trong những tín điều quan trọng của nhà thờ. Thường thường những tín điều đã trả lời những câu hỏi của người Cơ Đốc Giáo trước khi có cơ hội đặt câu hỏi. Tuy vậy hàng triệu Cơ Đốc Giáo chính thống vẫn cho rằng họ thỏa mãn với những câu trả lời của tín điều.

Theo giáo huấn chính thống, Thượng Đế tạo ra thế giới và mọi thứ trong đó vì lòng thương yêu phúc lành của Ngài. Ngài quyết định là hiện thân của điều thiện trong vũ trụ, trong mọi sinh vật sống, trong mọi thứ hiện hữu. Đây là một học thuyết khó hiểu, như mọi cố gắng giải thích về căn nguyên của sự sáng tạo.

Cơ Đốc Giáo chính thống nói rằng một khi Thượng Đế tạo ra người và đem họ xuống sống trái đất, Ngài sẽ không để họ không biết ý muốn của Ngài. Ngài sẽ trao cho họ sự phát hiện không ngừng về trách nhiệm của họ. Ngài làm cho họ có thể sống tốt đẹp và cuộc sống thỏa mãn. Điều này có được do một đức tính quan trọng của Thượng Đế -- ân huệ.

Ân huệ của Thượng Đế làm cho con người có thể hiểu Thượng Đế và ý muốn vì họ của Ngài trong đời sống thường nhật. Ân huệ này làm cho họ có thể giũ sạch những lầm lỗi cũ và lại phấn đấu vì sự tuyệt hảo hay ít nhất cũng trở nên tốt hơn. Ân huệ của Thượng Đế dẫn đến khả năng về một "đời sống bất diệt", hay đặc tính bất diệt của đời sống không bị phá hủy bởi cái chết của con người.

Hầu hết các người Cơ Đốc Giáo khăng khăng cho rằng có một loại thiên đàng nào đó mà người mộ đạo trung thành có thể mong đợi bằng đức tin. Họ quan niệm thiên đàng này theo nhiều cách khác nhau, dù nhà thờ đã từ lâu nhắc nhở các tín đồ đừng ước ao sự báo ơn vật chất mà phải nỗ lực tinh thần làm điều chính đáng. Nhiều người Cơ Đốc Giáo chính thống cũng tin vào ma quỷ gọi là Satan (Sa Tăng), và loại địa ngục nào đó hay nỗi thống khổ đời đời với những ai không được "cứu vớt".

Nguyên nhân cơ bản niềm tin về thiên đàng và địa ngục, ma quỷ và thiên thần, và những thứ giống như vậy chỉ được hiểu một phần ngay cả ngày nay. Không một cái gì trong những thứ này có sự tồn tại thực sự. Tuy vậy họ đều nói điều gì đó về nhu cầu của con người. Họ nói về nỗi thống khổ do cảm nghĩ tội lỗi và "lạc đường". Họ cũng nói về những lúc thanh thản tâm hồn dường như "thiên đàng".

Những người không tìm thấy tự do và niềm vui trong hiện tại, hay lo lắng quá mức về quá khứ và tương lai. Thường thường sự thất vọng và vỡ mộng của họ khiến họ hy vọng ở ngày mai có thể giải quyết những khó khăn phiền nhiễu họ hôm nay. Lo lắng nhiều về "đời sống sau khi chết" mà nhiều người cẩn thận cảm thấy, không phải là một dấu hiệu của sức khỏe nội tâm và niềm tin đích thực về những triển vọng trong cuộc sống. Đúng hơn là nó cho thấy sự thiếu niềm tin và lòng tin thực sự vào cuộc sống.

Một số người Cơ Đốc Giáo lúc nào cũng khăng khăng cho rằng thiên đường và địa ngục không phải là chỗ để ở trong một tương lai xa xăm. Chúng là những hoàn cảnh của tâm linh. Người ta có ý định để con người sống trong an bình với Thượng Đế. Vì họ đã được dự định như vậy, làm theo ý của Thượng Đế mang lại cho họ thanh bình. Đó là thiên đường. Không cần phải chết mới thấy thiên đường. Cũng vậy, ai vi phạm những điều kiện cần thiết để sống an bình với Thượng Đế, hiện đang sống trong địa ngục.

THẾ NÀO LÀ CUỘC SỐNG CÓ ĐẠO ĐỨC?

Muốn sống thật đạo đức không phải là dễ dàng. Nó đòi hỏi cố gắng và đôi khi đau đớn. Đi theo những nghi thức sùng bái Thượng Đế riêng, và hối hận về những lầm lỗi trong quá khứ, tử tế có ích cho người khác cũng chưa đủ. Các chi tiết phù hợp cho những người Cơ Đốc Giáo nhớ đến lời Jesus nói con người trước hết phải biết thương yêu Thượng Đế và rồi thương yêu đến xóm giềng. Cuộc sống có đạo đức đòi hỏi một sự tập trung hoàn toàn xoay quanh Tinh thần thương yêu. Chỉ có bằng cách ấy, những hành động thiện và sự tận tụy thành thực mới có ý nghĩa và mục đích. Rồi đời sống mới hoàn toàn.

Hầu hết những người Cơ Đốc Giáo tin rằng người ta vẫn có thể mắc những lỗi lầm trong đời sống hàng ngày dù rằng người ấy đạt trọng tâm đời sống vào thái độ thương yêu. Họ gọi những lầm lỗi ấy là "tội lỗi". Tội lỗi thay đổi tùy theo tính cách nghiêm trọng của tội lỗi đối với con người hay tội lỗi đối với Thượng Đế. Hầu hết những nhà thờ Cơ Đốc Giáo có tổ chức đã phân loại các tội lỗi và mức độc ác của chúng. Những người đi lễ được răn bảo không vi phạm tội lỗi và được chỉ dẫn cách được tha thứ khi họ phạm tội.

Sống trong sợ hãi, tội lỗi, và ân hận khác biệt hẳn với sống sáng tạo mà một số người Cơ Đốc Giáo đạt được. Họ đã khám phá ra rằng một đời sống tốt đẹp không đến từ việc ghi nhớ những điều nên làm và những điều không nên làm. Nó đến từ sự đương đầu với đúng sự việc bằng niềm tin và sự quan tâm. Rồi tất cả những tiếp xúc và kinh nghiệm là tôn giáo. Tất cả đời sống là tôn giáo. Và thực sự chúng ta có thể có cuộc sống tốt nhất.

Tất cả những cung cách xử sự và luân lý ngày nay dường như hình thành trên nền móng của sự tự kiềm chế và tôn trọng người khác. Qua lối sống khôn ngoan và ôn hòa, con người có thể xây dựng những thói quen tốt. Những thói quen tốt là sự trợ giúp cho một đời sống tốt đẹp. Nhưng những người Cơ Đốc Giáo thận trọng ghi nhớ rằng mỗi hành động mới đòi hỏi một quyết định mới. Một đời sống tốt đẹp đạt được là do chọn lựa khôn ngoan, cân nhắc những gì điều chỉ có giá trị tạm thời với điều có giá trị lâu dài.

Nhiều thế kỷ qua, người Cơ Đốc Giáo tin rằng họ đã tìm thấy hạnh phúc lâu dài và sâu xa bằng cách sống tận tụy với Thượng Đế và với những người khác. Cơ hội lớn nhất của con người là tìm cầu cứu cánh này. Nhưng người Cơ Đốc Giáo thừa nhận rằng nhiều người chung quanh chúng ta sống dường như không khám phá ra đức tính đó. Tuy vậy cơ hội này vẫn được dành cho mỗi người. Thượng Đế không chọn cho họ. Những người Cơ Đốc Giáo mộ đạo tự chọn lấy, họ nói như Jesus dạy: "Cơ hội của ngươi sẽ được thực hiện".

17. CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN CỨU RỖI LINH HỒN

Xuất phát từ Jesus mà Cơ Đốc Giáo bắt đầu và lấy tên này. Tuy nhiên chắc là Jesus cảm thấy mình là một người xa lạ trong việc bàn luận về niềm tin Cơ Đốc Giáo. Như Jesus đã thấy, trước sự buồn phiền của Ngài, người ta thường háo hức tôn kính với một vị thầy được tin cậy hơn là theo gương của Ngài về sự tìm kiếm can đảm. Từ thế kỷ thứ nhất, người Cơ Đốc Giáo đã quên và không lưu ý hầu hết những gì Jesus dạy. Thay vì bám níu vào Jesus, Họ thấy ở nơi Ngài nhiều điều mà thật ra Ngài không bao giờ mơ tưởng cho là của chính mình. Cơ Đốc Giáo không phải là một tôn giáo của Jesus. Đó là một tôn giáo về Jesus.

Lý do chính về sự dị biệt mà Cơ Đốc Giáo cho thấy nằm trong thực tế đơn giản: thế giới không còn giống như thời của Jesus. Vì thế giới thay đổi, các tôn giáo thay đổi. Không có tôn giáo nào đứng nguyên một chỗ. Mỗi tôn giáo đều đi qua một tiến trình phát triển và biến đổi chừng nào nó còn là một lực sống giữa con người. Nó hấp thụ khái niệm, hy vọng, sợ hãi, và tập tục. Vì tôn giáo thay đổi con người nên chính tôn giáo cũng thay đổi.

Cho nên người Cơ Đốc Giáo đã thay đổi bởi niềm tin của họ, và dần dần những niềm tin đã bị biến đổi. Thường thường những niềm tin khác biệt hình thành cơ sở cho một hội ái hữu mới hay giáo đoàn những người thấy trong đó một hy vọng mạnh mẽ cho một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bởi vậy, Cơ Đốc Giáo được đại diện bởi nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm coi đường lối của mình là quan trọng, và có lẽ tốt hơn, con đường đi đến cứu rỗi linh hồn.

GIÁO HỘI CƠ ĐỐC LA MÃ

Những người Cơ Đốc La Mã truy nguyên nguồn gốc của họ từ cuộc đàm thoại giữa Peter và Jesus, như được kể trong Kinh Matthew 16:17-19. Trong đoạn này, Jesus nói với Peter rằng Ngài là nền móng của Giáo hội. Peter là sứ giả của Thượng Đế phái xuống trái đất, có quyền quyết định cái phải và cái trái và tha thứ tội lỗi hay không tha thứ. Người Cơ Đốc La Mã nói lời tuyên bố này minh chứng Jesus thiết lập Giáo hội của họ.

Họ nói rằng Thượng Đế phong Peter làm Giáo hoàng đầu tiên có đủ quyền hành đối với tất cả người Cơ Đốc Giáo. Dòng dõi Giáo hoàng được kéo dài đến ngày nay, mỗi vị Giáo hoàng có quyền hành như quyền hành của Peter. Mỗi vị Giáo hoàng là người đứng đầu hữu hình của Giáo hội. Christ là người trị vì vô hình.

Đối với người Cơ Đốc La Mã, Giáo hội là một phần thiết yếu trong chương trình cứu rỗi con người của Thượng Đế. Thượng Đế vì tình thương yêu và ân huệ đã thiết lập Giáo hội để làm rõ và xác định những phương tiện cho sự chuộc tội của con người. Đây là lý do duy nhất mà Giáo hội. Nhớ điều này, những nhà lãnh đạo Cơ Đốc Giáo, từ Giáo hoàng đến tu sĩ, đã không ngừng tìm cách làm cho Giáo hội có ảnh hưởng trong cả những chi tiết nhỏ nhất về sự cứu rỗi linh hồn con người.

Niềm Tin. Tín đồ Cơ Đốc Giáo không bị đòi hỏi phải hiểu chương trình cứu rỗi. Họ cũng không bị đòi hỏi phải hiểu Thượng Đế -- đương nhiên là họ không thể. Cơ Đốc Giáo yêu cầu tin theo và vâng lời. Niềm tin và vâng lời dựa vào một học thuyết căn bản: nếu Thượng Đế là một Thượng Đế có tình thương vô hạn, thì Thượng Đế phải hình thành nguồn cứu vớt nhân loại rõ ràng. Cơ Đốc Giáo La Mã khẳng định điều đó đúng là điều mà Thượng Đế đã làm khi Ngài phái Jesus, con Ngài xuống trần thế. Đến lượt Jesus, Jesus đã trao cho Peter "chìa khóa của vương quốc"

Ai cũng cần được cứu vớt vì phải chịu tội lỗi đầu tiên của họ mà loài người đã phạm phải chống lại Thượng Đế. Người Cơ Đốc Giáo tin vào câu chuyện cổ kể Thượng Đế đã ban cách cứu rỗi linh hồn bởi gánh nặng tội lỗi. Bởi khổ đau mà Thượng Đế gây cho con người, Jesus đã trả món nợ mà con người không bao giờ hy vọng đáp ứng được. Jesus đã làm cho tất cả mọi người đều có thể nhận được sự cứu rỗi linh hồn.

Ảo Tưởng Ban Phước Lành. Sự cứu rỗi linh hồn mang đến cho con người hạnh phúc cao nhất mà người ta có thể biết, Ảo Tưởng Ban Phước Lành. Điều này không đơn giản là "thiên đường". Trong khi việc xẩy ra tại thiên đường, thực sự là điều phải kinh qua mặt đối mặt với Thượng Đế. Chỉ sau khi chết việc này mới xẩy ra. Trong khi ta sống, chỉ có sự gợi ý về việc đó.

Sống trong thế giới này, kiến thức của chúng ta bị hạn chế. Chúng ta chỉ có thể thấy một phần của chân lý. Nhưng chúng ta được tạo ra để biết Thượng Đế, và biết cái toàn thể, và chỉ qua kiến thức này, chúng ta có thể tìm được hạnh phúc sâu xa. Ảo Tưởng Ban Phước Lành đem đến kiến thức trọn vẹn về chân lý, qua tầm nhìn của Thượng Đế. Nó vượt ra ngoài sự hiểu biết và giải thích, nhưng người Cơ Đốc Giáo được Giáo hội bảo đảm, đó là phước lành vĩ đại nhất.

Kinh Thánh. Kinh thánh, giống như nghi thức của Cơ Đốc La Mã thường là tiếng La Tinh. Trong những năm gần đây, sự chuyển ngữ ra tiếng khác đã được chấp thuận. Kinh Thánh Cơ Đốc Giáo La Mã gồm có những sách quen thuộc về Cựu và Tân Ước và một chương phụ gọi là Apocrypha (Kinh Ngụy Tác)

Người Cơ Đốc Giáo sùng kính nhất Kinh Thánh chủ yếu vì nó chứa đựng câu chuyện về cứu rỗi linh hồn. Họ tin rằng không có lầm lẫn hay không rõ trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, hầu hết những người Cơ Đốc Giáo không tự mình nghiên cứu Kinh Thánh. Họ không mong mỏi gì giải thích Kinh Thánh cho chính họ, vì Giáo hội giải nghĩa hầu hết các đoạn trong Kinh.

Người Cơ Đốc Giáo nghiên cứu những lời giáo huấn của Giáo hội được coi là quan trọng hơn đọc Kinh Thánh.

Lễ Ban Phước. Người Cơ Đốc Giáo La Mã tiếp xúc với Giáo hội thường xuyên qua việc dùng bẩy lễ ban phước, chúng cho họ sự chỉ đạo và sức mạnh về con đường cứu rỗi Họ coi những lễ ban phước này là những biểu tượng ân huệ của Thượng Đế được truyền qua Giáo hội. Những người Cơ Đốc Giáo La Mã không cho rằng lễ ban phước là con đường duy nhất để cứu rỗi. Nhưng lễ ban phước mở ra một lối thoát an toàn và chắc chắn trước sự bất hạnh và trừng phạt đời đời đối với những ai sử dụng lễ ban phước ấy.

Thường thường một người Cơ Đốc Giáo La Mã nhận Lễ ban phước trong Lể Rửa Tội lúc còn thơ ấu. lễ ban phước này xóa bỏ tội lỗi đầu tiên và bất cứ tội lỗi nào đã phạm phải cho đến lúc đó. Lễ ban phước xong, Lễ Kiên Tín sẽ được tiến hành khi đủ trưởng thành để hiểu. Nó ban phước lành của Thánh thần giúp ý muốn và can đảm theo ý của Thượng Đế như Giáo hội giải thích.

Khi người Cơ Đốc Giáo kết hôn, lễ ban phước trong Hôn nhân ban phước lành của Thượng Đế và chấp thuận về hôn nhân và những đứa con được sinh ra sau này bởi cập vợ chồng này.

Nhà Thờ coi việc này rất quan trọng đến mức không công nhận bất cứ lễ hôn nhân nào ngoài nghi lễ của chính mình. Những người Cơ Đốc Giáo La Mã được dạy rằng hôn nhân là sự hợp nhất thánh thiện và bất diệt giữa nam và nữ vì mục đích tiếp tục giống nòi.

Lễ ban phước trong Lễ Thụ Phong là để rửa tội và để cống hiến cho người nam và người nữ phụng sự trong nghi lễ thần thánh của các thầy tu và nữ tu sĩ và về chức thầy tu. Người được thụ phong bỏ đi những lo âu hàng ngày, kể cả hôn nhân và đời sống gia đình. Đó là nhiệm vụ tối thượng của người Cơ Đốc Giáo. Đối với những ai có thể thực thi được những đòi hỏi của nó, lễ này mở ra nhiều cơ hội cứu rỗi hơn bất cứ lối sống nào khác.

Những người sắp chết nhận được Lễ ban phước trong Lễ Xức Dầu cuối cùng từ thầy tu. Lễ này tha thứ những tội lỗi cuối cùng của họ.

Có hai Lễ ban phước khác, lễ Ban Thánh thể và Lễ Xưng tội thường được tổ chức thường xuyên để ban phước lành tinh thần. Mỗi chủ nhật hay vào một ngày nào đó người Cơ Đốc Giáo phải tham dự một lễ gọi là lễ mi-xa, kỷ niệm Lễ ban Thánh thể. Đó là một nghi lễ cổ tưởng nhớ đến bữa ăn cuối cùng của Jesus cùng với các tông đồ của Ngài và về cái chết của Ngài trên cây thánh giá như sự hy sinh để chuộc tội lỗi cho con người. Trong lễ này, vị thầy tu thi hành hai phần phép lạ về rượu vang và bánh, biến chúng thành máu và thân xác của Jesus Christ mà không thay đổi vẻ ngoài của chúng.

Người Cơ Đốc Giáo tin rằng phép lạ trong sự biến thể xẩy ra khi thầy tu dâng các phần tử cho Thượng Đế, trong khi trình diễn lại cái chết của Jesus Christ. Rồi thầy tu chia phần cả bánh và rượu vang đã được biến đổi. Trừ phi đau yếu ngăn cản, người Cơ Đốc Giáo được yêu cầu dự lễ ban Thánh thể để nhận bánh cúng từ vị thầy tu tại bàn thờ ít nhất một năm một lần trong mùa Phục Sinh. Do sự làm đi làm lại tấn kịch tôn giáo này, người Cơ Đốc Giáo tin họ được giúp đỡ trong tiến trình tiến tới cứu rỗi linh hồn.

Vì không có một lễ ban phước nào xóa bỏ khuynh hướng tội lỗi của con người, người Cơ Đốc Giáo thường xuyên cần tìm sự tha thứ những tội lỗi mới phạm phải. Việc này có thể làm được qua lễ ban phước trong Lễ xưng tội. Xưng tội gồm có hối hận tội lỗi, thú tội với thầy tu, thi hành những hình phạt được ban ra bởi thầy tu, và giành được sự tha thứ từ thầy tu.

Thánh. Những thánh được tôn vinh bởi Cơ Đốc Giáo La Mã gồm có những tông đồ lúc đầu, một số thành viên của những dòng tu thánh thần, và những người có niềm tin và hành động cho thấy sự tận tụy trọn vẹn trong việc đi tìm sự cứu rỗi. Những người Cơ Đốc Giáo tin rằng những người thánh thiện này sống trọn đời cho sự cứu rỗi thành công nên họ có thể giúp những người khác. Qua sự cầu nguyện tới các vị thánh, và qua việc đốt nến trước hình ảnh của họ, và qua hành động tôn vinh tinh thần của vị thánh, người Cơ Đốc Giáo La Mã tin là có thể giành được một số công đức của vị thánh cho mình.

Mary. Người Cơ Đốc Giáo La Mã sùng kính mẹ của Jesus như "Mary thánh thiện, Mẹ của Thượng Đế". Họ tin rằng bà được tôn vinh khác thường bởi Thượng Đế khi Thượng Đế chọn bà là một bà mẹ đồng trinh mang thai đứa con do phép lạ. Đối với nhiều người Cơ Đốc Giáo, Mary dường như gần gũi hơn và quan tâm đến những khó khăn của họ hàng ngày hơn là Jesus Christ và Thượng Đế khi họ làm cho người thờ cúng kính sợ. Đôi khi họ gọi bà là "Hoàng Hậu của Thiên Đường", và xin bà cầu nguyện cho họ ngay bây giờ và khi họ chết.

Nhà Thờ và Lịch sử. Từ Cơ Đốc có ý nghĩa phổ biến hay chung trong ảnh hưởng của nó đối với con người. Chắc chắn, Nhà Thờ Cơ Đốc Giáo La Mã đã ảnh hưởng một phần lớn nhân loại. Nhà Thờ đã nói với hàng triệu người có ham muốn chủ yếu là có cảm giác an ổn và chắc chắn trong một đời sống bị đè nặng bởi đau buồn và ngờ vực. Đối với những người này, đó là ngọn lửa hy vọng và bảo đảm cho cuộc đời họ sống hiện nay và cuộc đời sắp đến.

NHÀ THỜ CHÍNH THỐNG CƠ ĐỐC GIÁO PHƯƠNG ĐÔNG

Những nhà nghiên cứu văn hóa đã từ lâu nhận thấy sự khác biệt to lớn giữa những người dân ở Đông và Tây bán cầu. Từ lúc còn trứng nước Cơ Đốc Giáo đã có những bất đồng ý kiến bởi những dị biệt. Có những vụ xung đột và bất đồng ý kiến một phần do chính trị, một phần do xã hội, và một phần do tôn giáo. Cuối cùng vào thế kỷ thứ mười một, những sự xung đột đưa đến sự tan vỡ không bao giờ có thể sửa chữa được. Những nhà thờ phương Đông và Phương Tây rút phép thông công lẫn nhau, và mỗi bên đều tuyên bố bên mình mới là Chính Thống Cơ Đốc Giáo.

Nhà Thờ. Nhà Thờ phương Đông không có Giáo hoàng. Mỗi nhà thờ là một phần của một vùng gọi là một giáo khu thuộc một liên đoàn giáo trưởng. Những người Cơ Đốc Giáo Phương Đông tin họ là những người của Nhà Thờ xác thực duy nhất bắt nguồn trực tiếp từ công việc của những người Cơ Đốc Giáo đầu tiên. Họ gọi nhà thờ đó là "Tòa Thánh Tông Đồ Cơ Đốc Giáo Chính Thống"

Tín Điều. Nhà Thờ Phương Đông không thay đổi những tín điều, nhưng họ không giải thích theo nghĩa đen. Người Cơ Đốc Giáo La mã tập trung vào sự cứu rỗi do cái chết của Jesus, nhưng người Cơ Đốc Giáo Phương Đông quan tâm khá nhiều đến bản chất thiêng liêng của con người. Người Cơ Đốc Giáo La Mã cố gắng vâng theo những lời dạy của nhà thờ, nhưng người Cơ đốc Giáo Phương Đông cố gắng nặng về cảm thấy là một với Thượng Đế. Những người Cơ Đốc Giáo khác lại bận tâm để đạt sự cứu rỗi cho kiếp sau, nhưng người Cơ Đốc Giáo Phương Đông lại tìm cách tái sinh tinh thần ngay trong đời này.

Các Lễ Ban Phước. Người Cơ Đốc Giáo Chính Thống Phương Đông tiến hành bẩy Lễ Ban Phước. Giống như người Cơ Đốc Giáo La Mã, họ coi lễ mi-xa là hành động thờ phụng quan trọng nhất nhưng cả hai rượu và bánh được dâng cho giáo đoàn.

Giới Tăng Lữ. Thầy tu được coi như những tác nhân cần thiết giữa Thượng Đế và con người. Thầy tu có thể có gia đình nếu hôn nhân xẩy ra trước khi thụ phong. Các tu sĩ, đương nhiên phải giữ những lời nguyện thông thường về sự tận tụy, trong sạch, vâng lời, và nghèo nàn. Giám mục được tuyển chọn trong số các tu sĩ mỗi giáo phận. Họ được gọi là giáo trưởng hay tổng giám mục. Họ ngang hàng về cấp bậc, tuy một người có thể được bổ nhiệm làm người lãnh đạo danh dự.

Thờ Phượng. Những buổi lễ theo thông lệ và uy nghi rất thân thiết đối với người Cơ Đốc Giáo Phương Đông. Những thầy tu của họ ngâm những lời về nghi lễ bằng tiếng Hy Lạp, hay bằng tiếng Slavonic (Xla-vơ) của Nhà Thờ Cổ. Nhà Thờ được trang hoàng với những bức tranh tôn giáo đặc biệt gọi là tranh thánh tượng- không bao giờ có các bức tượng.

Kinh Thánh. Kinh thánh thực chất giống như kinh thánh quen thuộc đối với tất cả người Cơ Đốc Giáo. Các tu sĩ khuyến khích tín đồ đọc Kinh Thánh, và tất cả những gì có thể giải thích điều họ đọc.

Tu Tập. Người Cơ Đốc Giáo Chính Thống Phương Đông thường cảm thấy tôn giáo của mình đòi hỏi một sự thay đổi trong đời sống nội tâm. Họ không cảm thấy phải đòi hỏi sự thay đổi lớn trong xã hội hay chính phủ. Vì lý do đó, nhà thờ Phương Đông, đôi khi chấp nhận những hoạt động của chính phủ hay xã hội mà người Phương Tây đã lên án.

Hầu hết những người Cơ Đốc Giáo Chính Thống Phương Đông sống ở đông Âu, tại Á Châu và Ai Cập. Vì họ thường không chú tâm vào việc tuyển mộ những người đổi đạo, tôn giáo của họ chỉ lan tràn sang Hoa Kỳ và những mảnh đất khác hầu hết bằng con đường di dân.

Bất cứ nơi nào mà người Cơ Đốc Giáo Phương Đông đã đi tới, họ đều lấy được cái vẻ đẹp lặng lẽ và cái tượng trưng phong phú trong các buổi lễ và nhà thờ của họ. Họ đã gây được ấn tượng với những người khác bằng sự tìm kiếm một đời sống nội tâm trầm lặng thong dong vượt qua con người và liên kết họ với thần thánh.

NHỮNG NHÀ THỜ CƠ ĐỐC GIÁO TIN LÀNH

Giáo Hội Cơ Đốc Giáo lại chia rẽ nữa. Sự chia rẽ khởi đầu bởi một người Đức trẻ tuổi tên là Martin Luther. Hầu như Luther không biết hành động của ông hôm đó năm 1517 dẫn tới sự cải tổ Tin Lành có ảnh hưởng sâu rộng. Tất cả những gì Ngài làm là để thông báo ước muốn của Ngài bàn cãi về những lý do kết án việc hạ giá "sự xá tội" được quảng cáo cao độ, đó là bảo đảm tha thứ các tội lỗi.

Tình cờ là việc bán xon (hạ giá) mà Ngài kết án lại được đưa ra bởi một chức quyền của Giáo Hội Cơ Đốc Giáo La Mã và được Giáo hoàng phê chuẩn.Và chính Luther là một thầy tu. Loan báo đóng đinh vào cửa nhà thờ của Ngài là một thách thức làm hoảng hốt quyền lực của Giáo hoàng và Giáo Hội, vào cái ngày mà toàn thể xã hội bị trị bởi sự bức chế của họ. Đối đầu với yêu cầu phải rút lại lời tuyên bố của mình, Luther cảm thấy không thể làm như thế một cách thành thực. Những người đồng hương tập hợp quanh Ngài, và Sự Cải Tổ Tin Lành bắt đầu.

Sau này những nhà lãnh đạo đã có những "phản đối" rộng lớn chống lại quyền lực của Giáo Hội. Động cơ thúc đẩy của họ không giống nhau nhưng những người này có một niềm tin chung. Đường lối cứu rỗi không phải là độc quyền của Giáo Hội Cơ Đốc Giáo La Mã và Giáo hoàng. Hầu hết những sự phản đối là chống lại hệ thống nhà thờ, không chống lại học thuyết. Đối với đa số những người Tin Lành, vẫn không có sự bất đồng ý kiến về học thuyết cơ bản.

Bây giờ có rất nhiều giáo phái khác nhau trong Tin Lành, và không có một quyền lực duy nhất nào trên tất cả. Hầu hết những người Tin Lành tin vào quyền lựa chọn niềm tin tôn giáo và tình đoàn kết tôn giáo của những người khác. Tự do về niềm tin và tự do chọn lựa nhà thờ đã dẫn đến nhiều thay đổi về chủ đề Tin Lành. Mặc dầu vậy, những người Tin Lành thấy các lãnh vực cùng đồng ý ngày càng tăng trong tín điều và trong những cố gắng phục vụ xã hội.

Cứu Rỗi Bằng Niềm Tin. Hầu hết những người Tin Lành cho rằng không có người nào dù làm gì đi chăng nữa, có thể đạt được sự cứu rỗi cho chính mình hay cho người nào khác. Cứu rỗi là một tặng phẩm của Thượng Đế. Ta phải tin tưởng đời sống và cái chết của Jesus khiến con người lấy lại quan hệ hòa hợp với Thượng Đế. Phước lành cao cả nhất của Thượng Đế nằm trong kế hoạch cứu rỗi được mở ra cho tất cả. Tất cả những gì cần thiết là niềm tin.

Cuộc Sống Hiến Dâng. Đời sống tôn giáo không đòi hỏi người ta phải bỏ hôn nhân, gia đình, và những lợi ích hàng ngày của con người. Những người Tin Lành hầu như không có tu sĩ và nữ tu sĩ., và những mục sư của họ thường là những người có gia đình. Niềm tin, không phải là những việc làm, hình thành con đường cứu rỗi. Niềm tin không lệ thuộc vào nghề nghiệp của ta, nhưng Thượng Đế kêu gọi con người gắng hết sức mình ở bất cứ nơi đâu. Tôn giáo không phải là vấn đề đi nhà thờ hay suy ngẫm ngoan đạo. Đó là cách bạn sống hàng ngày.

Chức Phận Thầy Tu Của Tất Cả Tín Đồ. Mỗi người có thể trực tiếp đi tới Thượng Đế cho chính mình Nhiệm vụ của Nhà Thờ và các mục sư của Nhà Thờ là dạy con người, không phải là thay mặt họ, hay chỉ huy họ. Đây là cốt lõi thực sự của Tín Lành. Có những lý do khác về sự tồn tại của Nhà Thờ: giải thích ý Thượng Đế, nuôi dưỡng tình thân hữu và tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên cùng tìm kiếm những mục tiêu giống nhau. Quyền lực lãnh đạo Nhà Thờ cũng khác nhau, một số được cai quản bởi các mục sự, một số bởi các mục sư và những thành viên được đề cử, và một số bởi toàn bộ hội viên.

Kinh Thánh. Hầu hết những người Tin Lành tin là Kinh Thánh chứa đựng những luật lệ về niềm tin và thực hành tôn giáo. Cho nên những người Tin Lành nghiên cứu Kinh Thánh một cách nghiêm túc, đọc kinh thánh bằng ngôn ngữ của chính mình. Tuy nhiều người Tin Lành hiện nay giải thích Kinh Thánh ít cứng nhắc hơn nhiều, nhưng vẫn còn có một số cho rằng việc này họ có toàn quyền tới những từ nhỏ nhặt nhất không cần để ý đến ý nghĩa lịch sử.

Thờ Phượng. Những người Tin Lành được khuyến khích cầu nguyện thành thật và thường xuyên. Đối với một số, cầu nguyện là phương pháp cầu xin Thượng Đế các thứ. Hay đó là cách giúp bè bạn thoát khỏi tình trạng khó khăn hay "đổi đạo" một người nào đó. Đối với những người thận trong nhất, đó là sự cố gắng để nhìn sự việc chúng thực sự là như thế nào, để đi vào quan hệ chính đáng với chính mình, với Thượng Đế của mình và với thế giới của mình.

Hầu hết những người Tin Lành tiến hành hai lễ ban phước, rửa tội và lễ ban thánh thể. Họ không tin vào thuyết biến thể. Đối với những người Tin Lành, cảm nghĩ và ý định của một người khi nhận lễ ban phước quan trọng hơn nghi lễ của lễ ban phước. Điều này cũng đúng cho những nhiệm vụ của tôn giáo khác gồm có lễ vật ủng hộ nhà thờ, sự tham dự các buổi lễ, và tham gia vào Hội ái hữu Cơ Đốc Giáo.

Một người Tin Lành được tự do sống cuộc đời tốt nhất và tận tụy nhất mà người ấy có thể, chọn tình thân hữu mà người ấy cảm thấy hoàn toàn có thể làm được. Để giúp đỡ sống theo đường lối ấy, một số người Tín Lành đặt niềm tin vào Jesus làm Chúa Cứu Thế riêng cũng như cho tất cả ai tin. Những người khác giành được cảm hứng về đời sống tôn giáo từ tấm gương cao thượng về cuộc đời của Jesus.

Tin Lành Thuộc Phái Phúc Âm. Đa số các nhà thờ Tin Lành được coi là nhà thờ Tin Lành thuộc Phái Phúc Âm. Những nhóm này nhấn mạnh vào sự ly khai với Nhà Thờ Cơ Đốc Giáo, cho rằng quyền uy như vậy là sự xuyên tạc tôn giáo. Những sự chống đối đầu tiên là thành thật và cần thiết, nhưng sau này mỗi một giáo phái phát triển một uy quyền của riêng mình không khác gì nhiều với điều họ đã lên án.

Những nhà thờ Phái Phúc Âm khẳng định ủng hộ học thuyết chính thống. Trong đó học thuyết chính là nhu cầu của con người về sự cứu rỗi và kế hoạch cứu rỗi con người của Thượng Đế. Trong nửa đầu thế kỷ thứ hai mươi đã có một sự đổi mới mạnh mẽ trong những học thuyết cũ, được coi là phong trào chính thống mới.

Một số giáo phái Tin Lành cho rằng một số giáo huấn là nền tảng của Cơ Đốc Giáo. Nhất là họ đã nhấn mạnh vào toàn bộ chân lý của Kinh Thánh và những phép mầu mà Kinh Thánh nói. Những người Cơ Đốc này được gọi là người theo trào lưu chính thống. Họ được biết đến vì những cố gắng gây xúc cảm mạnh mẽ trong việc cải đạo người khác đi theo niềm tin của họ.

Những người Tin Lành Tự Do. Ngay từ lúc khởi đầu Cơ Đốc Giáo, có một số người chín chắn thấy không phải ai cũng có thể thỏa mãn với cùng lời nói và cùng kinh nghiệm. Những người Cơ Đốc Giáo hiện đại khẳng định về tự do của niềm tin có một truyền thống dựa trên thực tế trong quá khứ tôn giáo của họ. Họ được gọi là những Người Tự Do -- một nhóm thiểu số trong Tin Lành. Chậm nhưng chắc con số nhóm này gia tăng. Thậm chí có lẽ ý nghĩa hơn là sự việc ảnh hưởng của họ dần dần giúp giải thoát những nhóm chính thống hơn.

Những Người Tự Do thực sự tin rằng mỗi người phải có cơ hội để phát triển trong kinh nghiệm và hiểu biết tôn giáo cùng với việc thử nghiệm đường lối sống tốt đẹp hơn. Họ tin rằng tôn giáo dành cho toàn bộ một con người cả về cảm nghĩ và lẽ phải của mình. Họ chứng minh nhà thờ là một thể chế giúp con người trở thành như cá nhân và những thành viên của tình thân hữu dân chủ. Sự cứu rỗi mà người Tin Lành Tự Do tìm kiếm hình thành qua lối sống trong tính trọn vẹn của nó.

Cơ Đốc Giáo không phải là con đường, nhà thờ nào hay nhóm duy nhất. Cơ Đốc Giáo là cái người Cơ Đốc Giáo tạo ra. Nó giống như con sông không ngừng chảy vào biển vô hình. Những dòng nước chảy vào biển đôi khi hơi mặn. Những xoáy nước hình thành dọc theo bờ sông đôi khi tù đọng. Nhưng giống tất cả những tôn giáo lớn khác trên thế giới, Cơ Đốc Giáo tiếp tục tiến tới một tương lai mà không ai có thể tiên đoán hoàn toàn được. Nó tiến đi với hy vọng và khát vọng cũng như với sợ hãi và lo âu của nhiều triệu người tự gọi họ là người Cơ Đốc Giáo.

18. SỐNG BẰNG TÔN GIÁO

Tôn giáo trong trạng thái tốt nhất của nó đáp ứng những nhu cầu căn bản của con người. Phân tích đến cùng, tất cả chúng ta dường như đều cần những điều giống nhau. Chúng ta cần cảm thấy chúng ta quan trọng đối với những người quanh chúng ta. Chúng ta cần cảm thấy chúng ta có một vị trí giữa những người đồng loại. Chúng ta cần cảm thấy mục đích và ý thức về hướng đi trong cuộc sống của chúng ta. Và chúng ta cần cảm thấy chúng ta đang tiến tới những mục tiêu cao nhất của chúng ta.

Trong mỗi năm từ khi Jesus nói và đi trên những nẻo đường của Palestine, một số người đã tìm thấy câu trả lời cho những nhu cầu sâu xa nhất của họ trong cái Ngài đã nói và làm. Những bất đồng ý kiến về việc tin vào cái gì thường nhiều hơn nhưng chẳng mấy quan trọng. Điều quan trọng là họ đã sống xứng đáng hơn vì cuộc đời của Jesus.

Người Cơ Đốc Giáo nói thông điệp của Jesus là vô tận, vì Ngài đã rút ra những bài học trực tiếp từ những kinh nghiệm của những người Ngài biết. Đối với họ, nhiều tuyên bố của Ngài khi Ngài bầy tỏ ra vẫn đúng đến ngày nay. Bài giảng đạo trên núi đã thôi thúc người Cơ Đốc Giáo mộ đạo có lối sống thận trọng bởi những chuyện ngụ ngôn của Ngài. Nghiên cứu cẩn thận và sử dụng thận trọng, những lời dạy như vậy làm cho tâm trí của những người Cơ Đốc Giáo ngày nay thanh thản.

HÃY TỰ KÍNH TRỌNG

Jesus biết nhiều người đã mất ý thức về giá trị thực sự của chính mình. Họ cảm thấy họ không quan trọng đối với Thượng Đế và con người. Những tu sĩ và các vị thầy tôn giáo chỉ cho họ thêm khó khăn vì bị gán cho là "những kẻ tội lỗi" và "không trong sạch". Đối với những người bị phiền toái như vậy, Jesus đã thuyết giảng thông điệp về lòng tin, ""Các ngươi là tinh hoa của xã hội, "các ngươi là ánh sáng của thượng đế".

Đôi khi mất tự trọng khiến người ta qụy lụy trước một người khác có vẻ là quan trọng. Đã có nhiều người Cơ Đốc Giáo quá ư khúm núm tuân theo những mệnh lệnh và chỉ đạo của những người lãnh đạo nhà thờ. Họ không dám nghi ngờ, hỏi han hay điều tra, vì sợ hãi họ có thể mắc thêm lầm lỗi. Không có chỗ nào trong thông điệp của Jesus đề cập đến quyền của ai đó có thể chỉ đạo niềm tin cho người khác. Jesus đã công khai gửi lời mời dân chúng tham gia với Ngài trong việc tìm kiếm một cuộc đời phong phú. Trong việc tìm kiếm này, tất cả đều bình đẳng.

Ngày nay chúng ta sống trong một thế giới đầy lo âu. Hoàn cảnh này do con người tạo ra, và hoàn cảnh ấy có thể bị loại bỏ bởi những nỗ lực thông minh của con người. Chúng ta lo lắng về nhiều điều không kể xiết -- mất một cái gì đó, muốn một cái gì đó. Chúng ta lo lắng về chuyện lớn chuyện nhỏ, và sự lo lắng của chúng ta xâm nhập vào mọi chỗ trong cuộc sống. Chúng ta càng ngày càng nên không thể làm những việc nên làm và có thể làm vì chúng ta quá lo lắng về những thứ ta không thể làm được. Jesus cố gắng làm dịu đi những sự sợ hãi như vậy bằng cách vạch ra giá trị thực sự.

Đừng lo lắng về đời sống, quan tâm đến việc ăn gì và uống gì, hay về thân xác, quan tâm đến việc mặc gì. Đời sống có quan trọng hơn thực phẩm, và thân xác hơn quần áo không? Hãy nhìn vào những con chim hoang dã, chúng không gieo và gặt, hay không tích trữ thực phẩm trong kho, thế mà Thượng Đế vẫn cho chúng ăn.

Ngày nay cũng như vào thời Jesus, con người có thể trở nên bệnh hoạn về tinh thần và thể xác khi họ không còn tôn trọng mình. Đôi khi bệnh hoạn ở dạng coi thường ham muốn riêng, hay cảm tính, hay bề ngoài. Jesus không bao giờ ngưng nghỉ khuyến khích con người hãy tôn trọng chính mình. Ngài biết người ta không thể tiến tới chín chắn trừ phi có khả năng chấp nhận mình là như thế.

Nếu một người trong chúng ta quá ghét cái cách ai đó hành động hay bề ngoài, người ấy sẽ chỉ nhìn thấy cái mà người ấy không thích về chính mình. Phải chăng đó là bức tranh thực sự của con người ấy là như thế? Dĩ nhiên là không. Tương tự, một số người thất bại không thấy thỏa mãn trong những cuộc tiếp xúc với người khác. Họ đang nghĩ về bề ngoài và cách đối xử của những người bạn họ, thay vì thực sự hiểu biết họ.

Jesus dạy con người phải thương yêu xóm giềng như thương yêu chính mình. Nếu chúng ta muốn thương yêu người, chúng ta phải thương yêu mình trước. Chúng ta thường được bảo thương yêu mình sau. Nhưng nếu đứng là vậy, chúng ta chẳng bao giờ thương yêu ai cả. Thương yêu mình một cách khôn ngoan là cơ sở để thương yêu người khác đứng đắn.

THƯƠNG YÊU NGƯỜI

Quá nhiều người lầm lẫn về việc khư khư giữ lấy tình thương yêu cho chính mình. Họ cố gắng thuyết phục người yêu quyết định vì mình hoặc cả đến hành động vì mình. Jesus nói, tình thương yêu chân thật đơn giản là cho người đó quyền là chính mình.

Thỉnh thoảng chúng ta cố gắng thay đổi hay sửa đổi một người nào đó. Chúng ta thường thường biết như vậy là phá vỡ tình thân hữu. Chúng ta càng cố gắng ép buộc người ta theo kiểu mẫu của mình, thì chúng ta lại càng có ít ảnh hưởng với họ. Ép buộc tự nó thất bại. Tình thương yêu và chấp nhận là sức mạnh vĩ đại nhất. Chúng được đền đáp bằng tình thương yêu và chấp nhận.

Đó là bài học gian khổ nhất về tư cách làm cha mẹ. Đương nhiên các em nhỏ phải được bảo vệ trước cái nguy hiểm có thể xẩy ra do những quyết định non nớt của chúng mang lại. Tuy nhiên, khi năm tháng trôi qua, cha mẹ phải biết cách để cho con cái gánh vác trách nhiệm về đời sống của riêng chúng. Không ai có thể trở nên chín chắn nếu không được phép là chính mình.

Có một câu châm ngôn nổi tiếng, "Tha thứ nhưng đừng quên". Dàn hòa với người bạn mà mình đã cãi cọ, nhưng mình vẫn còn nuôi sự oán giận ngấm ngầm. Những cảm nghĩ đau đớn chôn vùi dưới cái tha thứ bên ngoài có cơ hội phát triển và trở nên cay độc. Chúng ngăn trở mối quan hệ tốt hơn với người khác.

Jesus hiển nhiên biết rõ sự thật là nếu một người không thật tâm tha thứ thì chính người ấy không thể hạnh phúc:

Nếu ngươi tha thứ người khi họ làm ngươi khó chịu. Thượng Đế cũng sẽ tha thứ cho ngươi. Nhưng nếu ngươi không tha thứ người khi họ làm ngươi khó chịu, Thượng Đế cũng sẽ không tha thứ cho ngươi về tội lỗi của ngươi.

Và trong lời cầu nguyện quen thuộc căn cứ vào những khuyến bảo của Jesus cho tín đồ, có lời yêu cầu này:" Hãy tha thứ cho chúng con vì những tội lỗi của chúng con, chúng con tha thứ những người làm việc xấu chống lại chúng con."

Jesus lúc nào cũng nhắc nhở người dân là tha thứ cho người sai trái cũng quan trọng như đối với người đã làm sai. Tha thứ phải được thực thi thường xuyên khi cần. Không có giới hạn nào cho việc này. Mặt khác oán hận sẽ len lỏi và dần dần ngăn cản người không biết tha thứ sống hạnh phúc.

Jesus dạy tình thương yêu là qui luật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống con người, giữa bạn bè với nhau, giữa người trong gia đình, giữa những nhóm người. Những người Cơ Đốc Giáo hoàn toàn bất đồng giữa họ với nhau về việc áp dụng lời dạy này. Một số người nói rằng lời dạy ấy không thể áp dụng cho mối quan hệ giữa những nhóm người hay quốc gia. Họ còn nói đó là lời khuyên tốt nhưng không thể thực hiện và không có ai trên trái đất này có ý định theo. Một số người Cơ Đốc Giáo đã cầu xin chiến tranh, tra tấn và hành hình trên danh nghĩa đức tin của họ. Những người khác lại nhất định rằng tình thương yêu phải được áp dụng trong tất cả những giai đoạn của cuộc đời, đến mức cao nhất có thể được.

HÃY THÀNH THẬT

Chỉ khi chúng ta biết thương yêu chúng ta mới có thể thành thật với chính mình và với người khác. Đối với Jesus, thành thật nội tâm có tầm quan trọng hàng đầu để có một cuộc sống đạo đức. Ngài kêu gọi người dân hãy có đạo đức, không phải chỉ để thực hành điều thiện. Ngài thất vọng bởi những người giả vờ đứng cầu nguyện trong giáo đường hay ở góc phố để người ta nghĩ rằng họ ngoan đạo. Jesus nói rằng cầu nguyện trong thâm tâm và tại nhà tốt hơn cầu nguyện để gây ấn tượng nơi công cộng rất nhiều.

Ngài nói với các tín đồ rằng sẽ không đi tới đâu cả trong việc tìm kiếm tinh thần bằng cách nhắc đi nhắc lại những "câu rỗng tuếch". Thất vọng biết bao khi thỉnh thoảng nhiều người Cơ Đốc Giáo ngày nay nghĩ rằng tôn giáo đó gồm có nhắc đi nhắc lại tín điều và lời cầu nguyện không có ý nghĩa gì đối với họ. Nguy cơ thực sự là sự không thành thật này làm chúng ta mù quáng về nhu cầu một điều gì hơn nữa, và chúng ta tiếp tục cố làm ra vẻ chúng ta thỏa mãn.

Chúng ta không thành thật trên nhiều phương diện khác. Chúng ta làm những hành vi tốt cốt để gây ấn tượng có lợi với người khác mà không có xúc cảm gì về điều thiện. Chúng ta biết nói những lời lễ phép mà không có xúc cảm gì về lễ phép. Chúng ta gia nhập các đoàn thể và các nhóm xã hội, nhưng chúng ta không học cách thương yêu người hơn nữa. Chúng ta mang những bộ mặt đẹp đẽ giả tạo trước công chúng, và đôi khi chúng ta lừa bịp chính chúng ta. Nhưng cảm nghĩ nội tâm quan trọng hơn những gì chúng ta trưng ra ở bề ngoài nhiều. Chỉ khi những ý định nội tâm xứng với những hành động bên ngoài thì chúng ta mới sống dồi dào. Điều này là thành thật.

HÃY DỄ DẠY

Người có lối sống tốt nhất là một người vẫn tìm kiếm những lối để sống tốt hơn. Người như vậy duy trì khả năng băn khoăn về đời sống. Người đó mong mỏi hàng ngày được dạy bảo điều gì mới và tốt hơn. Người ấy cởi mở và thành thật giống như đứa bé nhỏ tràn đầy kinh ngạc và thích thú với mỗi kinh nghiệm mới.

Jesus thấy nhiều người "tôn giáo" như những người Pharisees và Sadducees không thể dạy bảo được. Họ cảm thấy họ đã biết hết những câu trả lời. Vậy nên không cần nêu câu hỏi. Mọi thứ đều được giải quyết theo "Luật" hay "Sách". Đời sống không dạy cho họ điều gì mới cả. Nó chỉ làm cho họ chắc chắn là những câu trả lời của họ mới là những câu trả lời.

Vô số người Cơ Đốc Giáo đã biết những giá trị của tính ham học. Họ tiếp tục kiên định quan sát đời sống bằng sự quan tâm. Họ từ chối không chấp nhận những câu trả lời của một người nào đó nếu không kiểm tra chung. Họ đã cố gắng theo lời khuyên bảo của Jesus:

Hãy hỏi, và điều ngươi hỏi sẽ được trao cho ngươi. Hãy tìm kiếm, và ngươi sẽ tìm thấy điều mà ngươi tìm kiếm. Hãy gõ cửa, và cửa sẽ mở cho ngươi. Bao giờ ngươi hỏi, cũng sẽ được nhận, và ngươi tìm kiếm sẽ tìm thấy, và người gõ cửa thì cửa sẽ mở cho ngươi.

"Phước lành cho những người đói khát tính chính trực vì họ sẽ được thỏa mãn!" Đó là toa thuốc cho lối sống tôn giáo đã được áp dụng và dặn bảo bởi những người Cơ Đốc Giáo cách xa thời của Francis of Assisi, Meister Eckhart, và Rufus Jones.

Vì những vấn đề nhỏ nhặt và những mối lo âu không quan trọng, chúng ta thường không nhìn thấy đời rộng lượng như thế nào với chúng ta. Đó là một thế giới tuyệt diệu mà chúng ta đang sống. Không ai có thể lấy đi niềm vui sống cơ bản và hồn nhiên của chúng ta -- mùi vị của thực phẩm, hương thơm của cây thông trong mưa, cái đẹp của đêm trăng, âm thanh của thác nước, mầu sắc của hoàng hôn, niềm vui của tình yêu và đang được yêu. Có thể nói, không ai có thể thực sự lấy những thứ đó của chúng ta, trừ phi chính chúng ta. Tấn thảm kịch của cuộc đời không chỉ là sự vô nhân đạo của con người đối với con người, dưới những hình thức của trại tập trung, bóc lột, và chiến tranh. Bi kịch của cuộc đời cũng là sự hành hạ mà chúng ta đặt lên chính chúng ta vì không chấp nhận những gì là của chính chúng ta.

Đời sống là một tặng phẩm. Jesus nói "Ngươi tự do nhận"; "tự do cho". Tất cả những niềm vui căn bản của đời sống là tặng phẩm đến với chúng ta không cần phải kiếm chúng. Hầu hết trong chúng ta không ý thức được điều này quá xâu. Jesus thường nhấn mạnh đến những tặng phẩm tuyệt vời mà đời sống hiến dâng.

Có một ý nghĩa thực sự trong chuyện ngụ ngôn về người con trai hoang tàng, người thanh niên này đã phí phạm mọi thứ mà đời sống đã cho anh ta, cho đến khi anh ta sống "vô giá trị". Đối với nhiều người Cơ Đốc Giáo, chuyện ngụ ngôn này dạy: Có thể bạn đã phí phạm mọi thứ đời sống tặng bạn cho đến nay. Bạn có thể đang phải sống vô giá trị - sợ sệt, lo âu, tội lỗi, và ân hận. Dù vậy, những ảnh hưởng nhân từ mà cuộc đời ban tặng vẫn vận hành trong vũ trụ, và trong bạn, để hồi phục lại cái ngã thực sự của bạn. Đỉnh cao về chuyện ngụ ngôn của Jesus là khi người thanh niên ưu phiền này "đến với chính mình".

Bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể đến với chính mình, vì mỗi lúc nó lại tạo ra cơ hội cho chúng ta. Chừng nào chúng ta còn sống, chúng ta còn phải đương đầu với sự thách thức của việc tiếp tục phát triển tinh thần và xúc cảm. Jesus nói, tất cả chúng ta lúc nào cũng có sự dồi dào của đời sống và nguồn vui của nó phục vụ cho hạnh phúc sâu xa nhất của chúng ta. Những người Cơ Đốc Giáo gặp cơ hội tìm ra chân lý cho chính mình mà Jesus đã nói: "Hãy chú ý, Vương Quốc của Thượng Đế ở trong bạn."

HỒI GIÁO

19. MOHAMMED NÓI THAY ALLAH

Năm lần một ngày, những người Hồi Giáo mộ đạo ở khắp nơi quay mặt về thị trấn nhỏ ở Saudi Arabia (Ả Rập Xê Út). Quỳ xuống trên một tấm thảm, họ cầu nguyện hướng về Mecca. Thường thường họ sử dụng lời cầu nguyện mà họ gọi là Fatihah được nổi tiếng đối với họ như lời cầu nguyện Chúa dành cho người Cơ Đốc Giáo:

Đội ơn Thượng Đế, Chúa tể của những thế giới!
Cầu xin Đức Chúa lòng lành nhân từ!
Chúa tể trong phán xử!
Chỉ Người chúng con thờ cúng, và với Người chúng con cầu xin giúp đỡ
Xin Ngài dìu dắt chúng con trên con đường ngay thẳng,
Con đường của những người đã được ân huệ; với những người không giận dữ, và không đi vào con đường lầm lạc.

Hàng triệu người đang theo nghi thức cầu nguyện Hồi Giáo, bắt đầu mười bốn thế kỷ qua bởi Mohammed. Đó là một trong những cách họ trình bày là họ đồng ý với điều mà Mohammed nói với dân. Allah, Thượng Đế, là một thực thể trước nhất của đời họ. Những người Hồi Giáo mộ đạo có thể nhắc đi nhắc lại từ kinh Koran một cách thành thật: Đích thực là lời cầu nguyện của con, và lòng mộ đạo của con, và đời con, và cái chết của con, thuộc về Thượng Đế".

Nhiều năm đã qua từ khi Mohammed sống, dạy các tín đồ những điều mà Thượng Đế đòi hỏi nơi họ. Đồng thời người Hồi Giáo theo sát những mệnh lệnh của Kinh Koran, vững tin rằng kinh này chứa đựng đúng điều Mohammed đã nói. Họ tin rằng điều mà Ngài nói ở thế kỷ thứ sáu vẫn cung cấp những câu trả lời phù hợp cho những câu hỏi hiện đại. Thượng Đế là thế nào? Tôi là gì? Trách nhiệm của tôi đối với Thượng Đế là gì? Việc gì sẽ xẩy ra sau khi tôi chết? Đường lối sống chính đáng là gì?

ẢO GIÁC CỦA MOHAMMED

Trong một đêm tối tăm vào năm 611 trước Công Nguyên, một người ở Mecca một mình ngồi cầu nguyện và trầm tư mặc tưởng ở một hang Núi Hira, ngay ngoài thành phố. Những người biết rõ ông có lẽ không lấy gì làm ngạc nhiên, vì ông thường vào hang này tìm sự tịch mịch cần thiết cho sự suy tư sâu xa. Nhưng đêm nay -- suốt từ đó người Hồi Giáo biết đến "Đêm Quyền Năng Siêu Việt" -- mang đến cho Mohammed một kinh nghiệm mới.

Đột nhiên từ những suy tư, một ảo giác kỳ thú nổi lên nơi Ngài. Thiên thần Gabriel xuất hiện, truyền lệnh của Thượng Đế là Mohammed phải kêu gọi dân chúng thờ phượng Allah, Thượng Đế duy nhất của tất cả các thế giới. Bị áp đảo, Mohammed nói mình bất lực không thể làm công việc như thế. Để trả lời, thiên thần Gabriel nhắc lại lệnh của Allah hai lần nữa. Mohammed rời hang đá đi lên đỉnh núi thử xem không khí ban đêm có thể làm cho kinh nghiệm lạ lùng này mờ nhạt đi không. Ngay cả ở chỗ này, Ngài nghe thấy một giọng nói bảo ngài rằng Ngài là nhà Tiên Tri của Thượng Đế.

Bối rối và sợ hãi, Mohammed chạy vội về nhà kể cho người vợ, Khadijah, sự việc đã xẩy ra. Phải chăng Ngài mất trí? Khadijah làm yên lòng Ngài, an ủi Ngài và khuyến khích Ngài nghỉ ngơi cho đến khi Ngài trở lại bình tĩnh. Bà nghĩ về những chuyện Ngài nói cho bà về đêm ấy. Bà thêm chúng vào điều Bà đã biết về đời sống của chồng bà. Và lặng lẽ, bà bắt đầu tin ảo giác này là thật.

MOHAMMED, MỘT CÔNG DÂN ĐÁNG KÍNH TRỌNG

Khadijah đã từ lâu tin chồng bà là một người khác thường. Từ những ngày đầu mới quen biết nhau, khi cậu của Mohammed, Abu Talib, đã giới thiệu ông với bà rằng ông là người lãnh đạo đoàn bộ hành, bà đã phải kính trọng sự phán xét và tính nết của Ngài. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ với thành công, và sự kính trọng đã phát triển thành lòng thương yêu lẫn nhau. Hai người đã lấy nhau, mặc dầu bà đã là một góa phụ giàu có ở tuổi bốn mươi và Ngài mới có hai mươi lăm tuổi. Cuộc hôn nhân trong mười lăm năm của họ là một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc, mặc dù cái chết của hai đứa con trai. Mohammed rất tận tụy với bà và bốn đứa con gái.

Khadijah biết những người trong bộ lạc của Mohammed, người Koreish, đồng ý về sự đánh giá cao chồng của bà. Họ biết Ngài là một người có tư tưởng, sau một thời gian dài im lặng. Họ đi đến tôn kính Ngài và thường hỏi Ngài lời khuyên khi họ cần đến một ý kiến khách quan. Dường như lúc nào Ngài cũng rất ít khác biệt với những người quen biết Ngài, từ ngày Ngài còn là một cậu bé mồ côi cho đến nay. Dù là một cậu bé chăn cừu cho người cậu, trông coi cừu trong những khu rộng lớn và trống trải của bãi sa mạc, Ngài vẫn nghĩ đến những câu hỏi bất diệt về đời sống và cái chết. Khi hôn nhân giải thoát Ngài khỏi phải làm việc, Ngài bắt đầu đem những câu hỏi đó với Ngài vào hang động để nghiền ngẫm suy tư.

Đặc biệt Khadijah biết phạm vi bất mãn của Mohammed với điều mà Ngài nhìn thấy đời sống của dân tộc Ngài khi Ngài quan sát họ trong việc đối xử với nhau. Ngài đã nhìn thấy không biết bao nhiêu vụ xung đột giũa những bộ lạc trong đó các bên chống đối dấu đi những quyền lợi ích kỷ dưới danh nghĩa tôn giáo và danh dự. Ngài đã nhìn thấy họ buôn bán và làm lễ gần Mecca, nhất là trong những mùa hội chợ, uống rượu, đánh bạc, và nhẩy múa. Thậm chí Ngài chứng kiến những người cha Ả Rập chôn sống nhứng con gái mà họ không muốn theo một tập tục phổ biến. Ngài đã nhìn thấy dân tộc của Ngài quá chú trọng đến quyền lợi nhỏ nhặt của bộ lạc đến nỗi không nhận thức được những nguy hiểm từ những xứ ngoại quốc hiếu chiến.

Thận trọng nhất là Ngài đã quan sát sự thờ cúng của họ tại Ka’aba, một ngôi đền tôn giáo tại Mecca. Hai lần một năm những người hành hương đến từ khắp Ả Rập để dâng lời cầu nguyện và lễ vật trước những hình ảnh của 360 vị thần, một vị thần đại diện cho mỗi ngày theo năm Ả Rập. Tòa nhà vuông bằng đá, Ka’aba, vẫn còn tồn tại và vẫn che chở miếng đá đen tin là rơi từ Thiên Đường. Huyền thoại Ả Rập kể Abraham và Ishamel đã xây dựng ngôi đền Ka’aba như thế nào, đặt miếng đá đen (thiên thạch) vào một góc. Mohammed đã quan sát những người hành hương tại đấy và tại khu chợ ở Mecca, nơi có thể mua những thần tượng nhỏ để mang về nhà.

Điều mà Ngài nhìn thấy về tôn giáo Ả Rập đã để lại nơi Ngài đầy những câu hỏi và nghi ngờ. Ngài đã đối chiếu sự thờ phượng tại Mecca với ký ức của Ngài từ những chuyến du hành đến những nơi khác và với điều Ngài biết từ Cơ Đốc Giáo, Do Thái, và những người tin theo đạo thờ lửa đến thăm Mecca. Niềm tin của người thờ thần lửa vào Ngày phán xử và sự trừng phạt những người tội lỗi là gì? Hầu hết những người Ả Rập sống mà không suy xét đến cuộc sống mang họ đi đâu. Những cuốn sách thiêng liêng của Cơ Đốc Giáo và Do Thái nói về sự khải huyền của Thượng Đế đã làm cho những nhà tiên tri là gì? Người Ả Rập không có khải huyền để giúp họ. Họ chưa bao giờ có một nhà tiên tri. Chỉ có một Thượng Đế mà những dân tộc khác thờ phượng là thế nào? Người Ả Rập vinh danh ba trăm sáu mươi vị thần. Mohammed đã cân nhắc những khác biệt ấy một thời gian dài.

NHÀ TIÊN TRI KHÔNG ĐƯỢC QUẦN CHÚNG MẾN CHUỘNG

Như Khadijah nhớ lại tất cả những sự việc này, Bà đoan chắc ảo giác của Mohammed là sự thật. Từ lúc đầu, trước cả chính Mohhammed hoàn toàn bị thuyết phục, bà tin rằng chồng bà là nhà tiên tri do Thượng Đế chọn. Niềm tin không lay chuyển của bà khiến chồng bà tin vào chính mình. Ít lâu sau, những ảo giác khác lại đến với Ngài, trao thêm nhiều chi tiết về sứ mạng của Ngài với Allah. Trong ba năm chờ đợi, suy ngẫm và nói về Allah Ngài lặng lẽ cho thân quyến và thân hữu biết. Vào lúc cuối cùng thời gian ấy, Ngài đã tập họp được một nhóm nhỏ chỉ có ba mươi người tin theo. Thời gian đã chín muồi cho công việc tích cực hơn.

Ít lâu sau Ngài nói với một vài nhóm nhỏ tại khu chợ, ngoài đường phố và ở Ka’aba. Ngài bảo họ, phải bỏ sự thờ phượng các thần và nữ thần và phải theo ý của Allah, Thượng Đế duy nhất của tất cả thế giới. Nếu họ không làm như vậy, họ sẽ bị trừng phạt nặng nề sau Ngày Xét Xử. Đầu tiên, người dân tò mò nghe Ngài, vì đây là người mà họ biết và kính trọng. Khi Mohammed tiếp tục với những bài thuyết giảng lạ lùng, họ bắt đầu cười và chế nhạo. Việc phải bỏ những cách thờ phượng cũ là không thể tưởng tượng được. Phải chăng cha ông, tổ tiên đã thờ phượng theo lối ấy? Những thần và nữ thần có hình ảnh trong đền Ka’aba bao giờ cũng trông nom họ. Những nghi thức và tập tục cũ của họ rất quen thuộc và thoải mái. Họ biết một Thượng Đế duy nhất của Mohammed là gì đâu?

Một số người trong bộ lạc bắt đầu nghi ngờ về sự lành mạnh tinh thần của Ngài và những người khác trở nên khó chịu về quyết định việc Ngài nhạo báng thờ phượng các thần tượng ở Ka’aba. Họ sinh sống bằng cách cung cấp nhu cầu cho những người hành hương về Mecca để thờ cúng. Nếu người ta làm theo điều Mohammed yêu cầu, nguồn thu nhập của họ sẽ không còn.

Mặc dù bất bình phát triển, Mohammed nhất định nói là chính Allah đã nói điều này với Ngài. Ngài bảo thính giả hãy nghe cho kỹ, vì đây là những khải huyền cuối cùng Thượng Đế làm cho con người. Trước khi mọi thứ được sáng tạo, có một cuốn sách trên Thiên Đường chứa đựng tất cả chân lý, Mohammed nói với họ như thế. Một phần cuốn sách này chứa đựng đã được tiết lộ cho người Do Thái và những người Cơ Đốc Giáo qua những nhà tiên tri của họ, kể cả Jesus. Nhưng phần lớn của cuốn sách đó đã được tiết lộ cho Mohammed.

Cuối cùng những người Koreish không thể chịu đựng được nữa. Họ từ chối và không nghe Ngài. Họ bắt đầu ngăn cản việc thuyết giảng của Ngài và khủng bố các người đổi đạo. Họ thử mọi cách để làm Ngài nản chí bỏ nhiệm vụ của Ngài. Vì họ không còn nghe Ngài nữa, Ngài bắt đầu nói với những người lạ đến buôn bán hay hành hương trong thành phố. Những người Koreish cảnh cáo những du khách về Ngài nhưng những lời cảnh cáo chỉ gợi thêm tính tò mò của du khách. Những du khách mang về nhà câu chuyện về nhà thuyết giảng lạ lùng này đã nói bất chấp những thành viên của bộ lạc ông ta. Một số du khách từ thị trấn gọi là Yathrib đặc biệt lưu ý đến những gì Mohammed thuyết giảng cho họ. Họ đang tìm kiếm một nhà lãnh đạo có thể giúp họ vượt qua được hậu quả của cuộc chiến tai hại giữa hai bộ lạc. Họ bắt đầu nghĩ rằng Mohammed có thể là một sự chọn lựa tốt cho trách nhiệm này.

Vào lúc cao điểm của sự khủng bố, Khadijah chết. Cái chết của bà lại được tiếp theo sau cái chết của người cậu có thế lực của Mohammed, Abu Talib, người bảo vệ cho Ngài dù rằng chưa bao giờ đổi đạo. Hai sự mất mát này kèm theo sự khủng bố gia tăng làm Mohammed rất phiền não. Ngài bắt đầu nghi ngờ Ngài không thể nào hoàn thành mục tiêu tại Mecca, nơi đây an toàn cho nhóm tín đồ đang phát triển của Ngài bị đe dọa. Những hoàn cảnh này dẫn đến quyết định Ngài chấp nhận lời mời của những công dân Yathrib để trở thành người lãnh đạo cuả họ.

CUỘC ĐÀO THOÁT TỚI MEDINA

Cuộc ra đi từ Mecca được thi hành rất bí mật vì những người Koreish giận dữ có thể hãm hại họ. Tất cả hai trăm tín đồ được phái đi trước. Mohammed và người đệ tử lâu năm, Abu Bekr, đi cuối cùng. Mặc dù nhiều nguy hiểm nhưng toàn nhóm đến Yathrib bình an. Để vinh danh sự quang lâm của vị lãnh đạo mới, người dân đổi tên thành phố thành "Thành Phố của Vị Tiên Tri". Thành phố này nay được gọi là Medina. Phong trào của người Hồi Giáo đi Medina được gọi là Hegira, có nghĩa là rút chạy hay sự di trú. Việc này xẩy ra vào năm 622 sau Công Nguyên, và năm này trở thành năm đầu tiên của Lịch Hồi Giáo. Bây giờ Mohammed ở trong một vị thế thi hành quyền lực to lớn. Ngài trở thành người trị vì, thầy tu, nhà làm luật, và quan tòa, tiên tri và tổng chỉ huy toàn bộ cộng đồng. Ngài thiết lập hiến pháp cho dân Ngài, hết sức cố gắng thống nhất tất cả những nhóm khác biệt thành một khối thân hữu đoàn kết chặt chẽ. Người dân giúp đỡ lẫn nhau chống lại kẻ thù và mọi khó khăn. Họ phải trung thành với những quyết định của Allah được tiết lộ cho nhà tiên tri, Mohammed.

Một trong những hành động đầu tiên lúc tới Medina là xây dựng một nhà thờ Hồi Giáo đon giản làm trung tâm cho người Hồi Giáo đến thờ cúng. Nơi đây Ngài thuyết giáo thường xuyên. Những bài thuyết giảng của Ngài vạch ra những tiêu chuẩn luân lý đơn giản nhưng chắc chắn về lòng tốt đối với những du khách và trung thành với bè bạn. Ngài thúc giục họ cầu nguyện thường xuyên và phải trung thực trong những hành động sùng bái Allah. Trong cách diễn đạt sa mạc, Mohammed nói về những phần thưởng cho lối sống chính đáng và trừng phạt cuộc sống phí phạm. Thiên đường giống như một ốc đảo nghỉ ngơi thoải mái, trong khi địa ngục là một lò lửa, đói khát, và cô đơn.

NHÀ TIÊN TRI CHIẾN THẮNG

Mohammed lúc nào cũng tin tưởng hy vọng những người Do Thái và Cơ Đốc Giáo sẽ chấp nhận Ngài và thông điệp của Ngài như chương kế tiếp trong cuốn sách khải huyền mà tất cả đều giữ chung. Bởi vậy, khi Ngài đến Medina, Ngài đã chuẩn bị phải rất kiên nhẫn trong nỗ lực để thuyết phục công dân Do Thái ủng hộ thỏa ước Medina mới. Ngài còn yêu cầu những tín đồ cầu nguyện quay mặt về Jerusalem, và Ngài nhấn mạnh những yếu tố chung trong truyền thống của họ.

Tuy nhiên, chẳng mấy chốc người ta thấy rõ ràng người Do Thái sống tại đấy đã không có ý định gọi Mohammed là nhà tiên tri của họ. Nhiều người còn chế nhạo sự khám phá của Ngài. Các quan hệ có chiều hướng xấu đi khi một số người Do Thái vi phạm những điều kiện trong thỏa ước với Mohammed. Nhà tiên tri đưa ra một đòi hỏi hoặc họ phải gia nhập Hồi Giáo hoặc phải rời đi. Lệnh này được thi hành bởi quân đội của Mohammed. Đây là chiến thắng đầu tiên trong danh sách dài những chiến thắng của Hồi Giáo với quân địch. Những người Hồi Giáo cho rằng những biến chuyển như vậy rất cần thiết để bảo vệ sự phát triển cộng đồng tôn giáo của họ.

Thực tế là, điều này đánh dấu một điểm quan trọng hơn trong lịch sử Hồi Giáo. Mohammed đã bắt đầu nhìn thấy những lời tiên tri của mình sẽ không dễ được chấp nhận bởi những người không phải là Ả Rập. Hồi Giáo dần dần hướng nhiều hơn về những người Ả Rập. Những truyền thống Do Thái và Cơ Đốc Giáo bị thu hẹp và truyền thống Ả Rập được nhấn mạnh từ đó. Những người Hồi Giáo không còn cầu nguyện hướng về Jerusalem. Họ hướng về Mecca. Mohammed và các tín đồ nóng lòng ngóng đợi ngày họ có thể trở về Mecca một lần nữa.

Khi tiếng tăm của nhà tiên tri vang dội khắp Ả Rập, nhiều người đổi đạo vào tôn giáo mới. Cuối cùng, Mohammed cảm thấy cần phải vì phúc lợi của tín đồ lấy Mecca với quân đội của mình. Vậy nên, tám năm sau khi đào thoát khỏi Mecca, Ngài trở về Mecca như một người chiến thắng. Bao giờ Ngài cũng khoan dung với kẻ địch, tha thứ hầu hết chúng. Họ chỉ phải thú nhận niềm tin với Thượng Đế và nhà tiên tri của Thượng Đế.

Mohammed đi ngay đến ngôi đền. Ngài bỏ đi tất cả những thần tượng tại ngôi đền Ka’aba, tuyên bố đó là chỗ để thờ phượng Allah. Mecca trở thành thánh địa của Hồi Giáo.

Sự sụp đổ của Mecca đã khiến những cộng đồng khác tuyên bố qui phục trước tôn giáo và sự cai trị của nhà tiên tri. Đôi khi Mohammed tin rằng nhiệm vụ chính của Ngài là thống nhất những bộ lạc Ả Rập bằng cách đưa họ lại sống cùng nhau thành một quốc gia được cai quản theo ý Allah. Khi những bộ lạc không cam kết trung thành, thì họ sẽ bị giết và bị khuất phục bởi thánh chiến, cái mà người Hồi Giáo tin là tượng trưng ý của Allah. Dần dần những bộ lạc rải rác ở xa hợp nhất thành quốc gia Ả Rập.

Để giữ lời hứa với người trung thành, Mohammed trở về sống tại Medina. Nhưng Ngài vẫn hành hương tới Mecca, và bao giờ Ngài cũng xem Mecca là trung tâm hợp pháp chính đáng để thờ phượng Allah. Trong lần hành hương cuối cùng, Ngài thuyết giảng một bài, bài hay nhất của Ngài còn nhớ được. Trong bài giảng này, Ngài tuyên bố tất cả các tín đồ đều là anh em, cũng như không bao giờ ngừng giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhau.

TẶNG PHẨM CHO HỒI GIÁO CỦA MOHAMMED

Không lâu sau khi trở về Medina từ cuộc hành hương cuối cùng, Mohammed từ trần. Ngài thọ sáu mươi hai tuổi. Quá nhiều việc đã xẩy ra từ khi Ngài một mình trong hang gần Mecca và suy nghĩ về ý nghĩa của đời sống. Thông điệp của Allah đã được đưa ra và được chấp nhận một cách nhiệt tình. Những người Ả Rập đã biến đổi những thần tượng thành thờ phượng Allah. Họ không còn những cuộc chiến tranh bộ lạc. Họ đều là anh em. Họ không còn nhẩy múa, say sưa và cờ bạc trong những cuộc lễ ồn ào. Họ cầu nguyện và nhịn ăn và cảm thấy sự hiện diện của Allah gần gũi bên cạnh họ.

Gia tài của Mohammed để lại cho những tín đồ của Ngài thật vĩ đại. Ngài để cho họ đủ mạnh và đoàn kết để chống lại xâm lăng của ngoại bang. Ngài để lại cho họ một niềm tin mà họ thấy trong sáng và thỏa mãn. Ngài để lại cho họ nhiệt tình vì niềm tin đó dẫn họ đến truyền niềm tin này cho tất cả người khác. Ngài để lại cho họ những đệ tử được huấn luyện để tiếp tục phong trào. Ngài để lại cho họ một đạo quân có thể mở rộng Hồi Giáo đến những vùng đất khác bằng thánh chiến. Ngài để lại cho họ tấm gương của đời Ngài hết sức tận tụy theo ý của Allah.

Abu Bekr, thường phụ lễ Ngài, là người đương nhiên được chọn là người kế nghiệp nhà tiên tri, hay vua Hồi. Và sau một thời gian tang lễ ngắn ngủi, Hồi Giáo tiếp tục như trước hướng tới việc thực hiện toàn bộ giấc mơ của nhà tiên tri. Lịch sử đã thay đổi. Con người đã thay đổi. Họ không một mình thay đổi qua kinh nghiệm với con người Mohammed nhưng qua tín điều Ngài dạy họ. Đó là tín điều mà hàng triệu người Hồi Giáo vẫn đi theo, tuyên bố với niềm tin hoàn toàn:" Không có Thượng Đế mà là Allah, và Mohammed là nhà tiên tri của Allah".

20. NGƯỜI HỒI GIÁO NGHE VÀ VÂNG LỜI

Hầu hết những tôn giáo hiện đại trên thế giới thiết lập tôn giáo bởi một biến cố của lịch sử. Có nhiều trường hợp, nguồn gốc của những tôn giáo ấy bị chôn vùi quá sâu trong thời gian đến nỗi chúng ta không biết được những biến cố nào đã làm cho những tôn giáo ấy phát triển. Nhưng Hồi Giáo được phân biệt bởi hai sự kiện ngay từ lúc đầu. Trước tiên, Hồi Giáo trở thành một tôn giáo do kết quả nỗ lực chủ tâm lập kế hoạch và xem xét kỹ càng. Thứ nhì, toàn bộ phát triển của nó xẩy ra sau khi lịch sử thế giới đã bắt đầu được ghi chép kỹ lưỡng.

Trong thời gian ít năm ngắn ngủi, Mohammed đã tự nâng mình lên một địa vị lãnh đạo độc đáo trong lòng dân tộc Ngài. Ngài đã có cơ hội và thời gian để lập kế hoạch tỉ mỉ đáp ứng những nhu cầu xã hội và tinh thần của đồng bào của Ngài. Tuy rằng phải nói thay cho Allah, Mohammed đã đưa ra những luật lệ về niềm tin, về bổn phận tôn giáo, và về hạnh kiểm thích đáng. Kết quả, người Hồi Giáo tự tìm thấy sự chỉ dẫn cho hầu hết mọi hoạt động hay tình thế phải đối phó của con người.

TÔI PHẢI TIN GÌ?

Ở một nơi nào đó trong cuộc đời, mỗi một người có suy nghĩ đều băn khoăn về quyền năng hay một sức mạnh chịu trách nhiệm về sự sáng tạo mọi thứ mà chúng ta nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, nếm thấy và sờ thấy. Loại quyền năng hay sức mạnh ấy là gì? Nó hoạt động như thế nào và khi nào? Cái gì đã khiến nó hành hoạt trước tiên?

Mohammed đã phải đối mặt với những băn khoăn này khi còn là một thanh niên. Qua ảo giác, Ngài tin là đã tìm ra câu trả lời. Ngài đã không ngần ngại tiên cử những câu trả lời đến với người khác. Allah, Đấng Bất Diệt, là nguồn gốc của mọi sáng tạo. Tuyên bố chính tín ngưỡng của tất cả các tín đồ là tin vào Allah: "Tôi xác nhận là không có Thượng Đế mà chỉ có Allah"

Allah công bằng và nhân từ. Ngài thấy và nghe mọi thứ. Ngài có mặt ở khắp nơi. Ngài biết tất cả những hành động của con người, tốt hay xấu. Vào Ngày Xét Xử, Allah xét xử đời sống của con người. Trong lúc đầu Ngài quy định cách thức mà tất cả mọi thứ phải có sự tồn tại của nó. Trong lúc cuối cùng, Ngài quyết định vận mệnh bất diệt.

Mohammed tin rằng vạn vật trong tính trật tự và tính tùy thuộc của nó, nói lên câu chuyện về một Thượng Đế quả quyết. Allah đã tạo ra tất cả mọi thứ và đã định trước mọi biến chuyển. Tuy nhiên con người có thể tiếp xúc với Ngài qua cầu nguyện, và con người được tự do đặt kế hoạch cho đời mình. Tuy nhiên, họ phải biết rằng thiên đường hay địa ngục là hậu quả chờ đợi họ.

Vì từ lâu Allah đã tự rút khỏi chiều hướng sáng tạo tích cực của mình, nên con người khó mà biết cách nào làm theo ý của Ngài. Nhưng Allah hiểu nhu cầu của con người. Ngài thiết lập ba cách để tiết lộ ý của mình cho con người: một nhà tiên tri, Kinh Koran, và các thiên thần.

Cách thứ nhất trong ba cách được bầy tỏ trong phần hai của lời tuyên bố Hồi Giáo về niềm tin: "Tôi xác nhận không có Thượng Đế mà chỉ có Allah, và Mohammed là nhà tiên tri của Ngài."

Người Hồi Giáo kính trọng những nhà tiên tri khác -- gồm Adam, Noah, Abraham, Moses và Jesus. Nhưng Mohammed là nhà tiên tri cuối cùng, "niêm phong". Không có vị tiên tri nào từng nói về uy quyền như vậy. Không có vị tiên tri nào khác đã có sự tiết lộ hoàn toàn từ Thượng Đế như vậy.

Mohammed không bao giờ cho rằng mình là hơn một người bình thường. Sự tranh cãi chính với người Cơ Đốc Giáo của Ngài là nhiều người Cơ Đốc Giáo thờ cúng Đức Chúa Con, cũng như Đức Chúa Cha. Ngài không thể tha thứ cho sự thêm nếm ấy. "Không có ai trên thiên đường hay trái đất đến trước Đấng nhân từ làm bề tôi"

Thượng Đế là Đấng Bất Diệt
Chỉ mình Ngài là Thượng Đế
Ngài không sinh ra ai và cũng không bị sinh ra!
Cũng chẳng ai giống Ngài cả!

Những tiết lộ của Mohammed đã được gìn giữ trong Kinh Koran để khai sáng những thế hệ tiếp nối. Kinh Koran là một cuốn sách đặc biệt có ý nghĩa đối với người Hồi Giáo vì nó đồng nhất với cuốn sách khác mà người Hồi Giáo tin là tồn tại trên Thiên Đường từ lúc khởi thủy. Trong cuốn sách thần thánh này, ý muốn của Allah được ghi lại. Cùng những thiên khải như vậy cuốn sách đó là những thiên khải được trao cho Mohammed và được viết trong Kinh Koran. Kinh Koran là toàn bộ thông điệp của Thượng Đế gửi cho con người.

Những người Hồi Giáo chính thống luôn luôn tin chắc rằng bản văn trong sách thiêng liêng của họ là chính xác. "Những người có trí nhớ" biết những điều mà Mohammed nói. Ít lâu sau khi chết, những lời Ngài nói được viết thành văn bản. Việc này đã làm cho người Hồi Giáo từ lúc khởi đầu tôn giáo của họ có được bộ kinh thánh thiêng liêng.

Cách hiểu biết ý Thượng Đế thứ ba là qua các thiên thần. Đối với người Hồi Giáo thiên thần quan trọng nhất là Gabriel, nổi tiếng với họ như một "thiên thần thiên khải". Chính Gabriel đã mang thông điệp của Thượng Đế cho Mohammed. Gabriel và những thiên thần khác ở chung quanh ngai vàng của Thượng Đế, ở "tầng trời thứ bẩy" của thiên đường, thi hành ý của Allah và phục vụ các sắc luật của Ngài.

Một thiên thần khác -- hay thực ra nguyên là thiên thần - là Quỷ thần, đã bị đầy ra khỏi khỏi thiên đường vì cao ngạo. Người Hồi Giáo tin là thiên thần này đảm trách địa ngục và với những phụ tá, hoạt động để cản trở ý của Allah bằng cách quyến rũ con người vào con đường tội lỗi. Tuy nhiên, Allah toàn năng và quyết định tất cả. Cho nên công việc của thần Quỷ này bị hạn chế vào những gì mà quỷ thần này chỉ có thể làm được trong khuôn khổ chương trình của Allah. Thần Quỷ này thực sự không bao giờ có thể cản trở nổi Allah, vì chương trình của Allah gồm có phần để cho thần Quỷ làm công việc cám dỗ.

Thượng Đế công bằng nhưng đời thường thưởng phạt theo đúng với đặc tính cuộc sống của con người. Phải chăng điều thiện là không được thưởng và điều ác là bị trừng phạt. Kinh Koran nói với người Hồi Giáo là Phán Quyết cuối cùng sẽ tới vào cuối thời đại này và bắt đầu sự trường cửu khi Allah phán xét tất cả các linh hồn. Mỗi linh hồn sẽ bị xử theo hồ sơ cuộc đời nó. Allah nhân từ, và người thiện được phần thưởng lớn hơn người ấy đáng được thưởng. Nhưng trừng phạt tội lỗi thì đúng theo tội lỗi đáng bị trừng phạt.

Những tín đồ đã theo ý của Allah thì sẽ được thưởng sống đời đời trên thiên đường. Kinh Koran mô tả cuộc sống trên thiên đường giống như một ốc đảo tuyệt vời, có nước chảy, những thứ giải khát, trái cây và chim chóc, các chàng trai và những thiếu nữ phục vụ nhu cầu của các cư dân. Những người Hồi Giáo chín chắn tin rằng tiếng gọi thực sự của thiên đường là sự hiện diện bất diệt của Allah.

Địa ngục đã được chuẩn bị cho những ai khác từ chối không qui phục theo ý Allah. Hơn nữa, mô tả địa ngục giống như người ở sa mạc có thể tưởng tượng đến nỗi thống khổ cùng cực mãi mãi trong lửa và nóng. Cái mà họ ăn và uống giống như nước sôi. Khi họ kêu cứu, sự giúp đỡ làm họ trở thành khổ thêm. Một số người Hồi Giáo nói rằng Kinh Koran dùng cách nói hình ảnh để vạch ra rằng sẽ hoàn toàn không có niềm tin trong cuộc sống nếu không có sự hiện diện của Allah.

Allah, nhà tiên tri, kinh Koran, thiên thần và Phán Quyết Cuối Cùng -- con người phải tin tất cả những thứ đó. Thiết yếu niềm tin thứ sáu là: tin vào quyền năng hoàn toàn và vô biên của Allah.

Thực sự đây là sự nhắc lại của một số đặc tính của Allah, vạch ra sự cần thiết vâng lời dứt khoát về phần con người. Con người không cần hiểu ý của Thượng Đế -- thực ra, không thể hiểu được. Nhưng con người phải phục tùng điều đó. "Tôi nghe và vâng lời" mô tả mối quan hệ của con người với Thượng Đế.

Danh xưng Moslem có nghĩa "phục tùng" trong khi Islam có nghĩa là "sự phục tùng ý của Allah". Người Hồi Giáo tin rằng phục tùng mang lại hòa bình và thỏa mãn. Họ bác bỏ các thuật ngữ "Mohammedan" (Môn đồ của Mohammed và "Mohammedanism" (Đạo Mohammed) vì chúng ngụ ý thờ phượng Mohammed. Người Hồi Giáo chỉ thờ phượng Allah.

TÔI PHẢI LÀM GÌ?

Đạo Hồi trải rộng nhanh chóng trên thế giới một phần do tính đơn giản của nó. Tín điều của nó được nói rõ ràng trong sáu niềm tin, như chúng ta đã thấy. Bổn phận tôn giáo của các tín đồ được nói rõ ràng trong năm đòi hỏi được coi là "năm trụ cột" của Đạo Hồi.

Tuyên Bố Về Niềm Tin. Trước tiên, người Hồi Giáo phải tuyên bố niềm tin của mình và lời nguyện trung thành. "Tôi xác nhận không có Thượng Đế mà chỉ có Allah, và Mohammed là tiên tri của Allah." Nói trước nhân chứng, lời tuyên bố này được chấp nhận một tín đồ mới vào Tình anh em của Đạo Hồi.

Cầu nguyện. Kỷ luật tôn giáo chính của người Hồi Giáo là cầu nguyện. Mohammed chỉ định năm lần một ngày cho cầu nguyện thường lệ, và khuyến khích cầu nguyện riêng để cảm thấy Allah luôn luôn hiện diện. Vào lúc mặt trời mọc, giữa trưa, giữa buổi chiều, vào lúc mặt trời lặn và buổi tối, những người Hồi Giáo được kêu gọi để cầu nguyện. Từ tháp giáo đường, "những cột tru" của cầu nguyện, lời kêu gọi được truyền đến hàng triệu người Hồi Giáo mộ đạo:

Đức Allah vĩ đại, Đức Allah vĩ đại.
Không có Thượng Đế mà chỉ có Allah.
Mohammed là thánh tông đồ của Allah.
Trước lời cầu nguyện của các ngươi!
Trước sự mộ đạo của các ngươi!
Đức Allah vĩ đại, không có Thượng Đế, chỉ có Allah!

Trước tiên, có nghi thức tẩy uế và đặt thảm cầu nguyện. Rồi người Hồi Giáo quỳ xuống cúi đầu về hướng Mecca. Lời cầu nguyện thường có dạng làm lại sự phục tùng ý của Allah. Thường thường bầy tỏ của sự tôn thờ. Đối với một số người, điều đó là sự xác nhận sự có mặt thường xuyên của Thượng Đế là có thật.

Điều này cuối cùng gần như đáp ứng lòng mong ước của Mohammed hy vọng tất cả những tín đồ có thể coi Allah là kinh nghiệm sống thực sự.

Người Hồi Giáo cố gắng đến giáo đường để cầu nguyện vào bất cứ lúc nào có thể được. Những tòa nhà đơn giản này được thiết kế để người đi lễ quay mặt về Mecca. Tất cả sự trang hoàng đều là những trang trí hình học, theo lời khẳng định của Mohammed là không có hình ảnh. Thứ sáu là ngày đặc biệt để cầu nguyện chung tại giáo đường. Đàn ông đến giáo đường thi hành nghi thức tẩy uế, rồi tụ họp thành từng nhóm nghe đọc kinh Koran rồi tham dự lễ cầu nguyện. Trong mỗi giáo đường, người lãnh đạo hướng dẫn buổi lễ chung và thuyết giảng hàng tuần về niềm tin Hồi Giáo.

Thường thường giáo đoàn gồm toàn nam giới, hầu hết người Hồi Giáo tin rằng người phụ nữ nên cúng lễ tại nhà. Chính Mohammed đã tuyên bố sự hành lễ tại nhà riêng tốt hơn đối với phụ nữ. Nếu họ dự các lễ, thường thường họ ngồi ở hậu trường.

Ăn Chay. Ăn chay là một hành động tôn giáo thường xuyên của người Hồi Giáo mộ đạo. Ăn chay là cần thiết cho tất cả các tín đồ, ngoại trừ vì điều kiện thể xác hay những hoạt động đặc biệt. Người Hồi Giáo ăn chay vào tháng Ramadan, tháng thứ chín của Lịch Hồi Giáo. Trong mùa ăn chay Ramadan, không được ăn thức ăn và đồ uống giữa lúc mặt trời mọc và mặt trời lặn. Người Hồi Giáo tin rằng ăn chay là sự nhắc nhở tốt để đưa những điều tinh thần lên hàng đầu. Họ cố đọc và nghe toàn bộ Kinh Koran trong tháng này và thường ở giáo đường.

Bố Thí. Niềm tin vào tình anh em của tất cả người Hồi Giáo đã giúp duy trì tập tục xa xưa trong việc chia sẻ tiền của cho người túng thiếu. Có lúc, sự chia sẻ được hợp thức hóa dưới hình thức "thuế" hàng năm. Bây giờ, việc này thường được trả dưới hình thức cam kết tự nguyện để giúp đỡ người túng thiếu và để ủng hộ những trường học và giáo đường Hồi Giáo. Tuy có người có thể không chọn cách trả đó, nhưng rất ít người không trả. Bạn của họ đều mong muốn, và họ tin rằng tính hào phóng đối với người khác khiến Allah sẽ hào phóng với họ.

Hành Hương. Trên hết trong tư tưởng của mình trong cuộc đời này, mỗi một người Hồi Giáo đềù sống với một mộng ước và niềm mong chờ. Đó là hành hương đến Mecca, một thành phố quá thiêng liêng đến nỗi người ngoại đạo không được vào. Hàng năm vào tháng mười hai Lịch Hồi Giáo, con đường đi tới Mecca đông nghẹt những người hành hương. Họ hối hả tham dự những buổi lễ tập trung tại ngôi đền Ka’aba cổ và Giáo Đường Mecca. Mohammed thúc giục các tín đồ hành hương mỗi năm. Bây giờ, do sự mở rộng của Hội Đoàn Hồi Giáo, mỗi người được yêu cầu phải đi một lần trong đời người. Trong khi nhiều người không bao giờ có thể thực hiện được chuyến đi, việc này vẫn là mục tiêu cuộc đời của hầu hết người Hồi Giáo.

Một khi đến nơi, người hành hương vào khuôn viên thiêng liêng của Mecca, mỗi người đều mặc quần áo được thiết kế sẵn làm cho tất cả người Hồi Giáo, giàu hay nghèo, đều giống nhau. Địa vị xã hội, và chủng tộc, của cải bị lãng quên, người hành hương tham dự nghi lễ thiêng liêng của cuộc hành hương. Họ nhịn ăn và nhịn uống suốt ngày; họ soạn thành kịch những huyền thoại truyền thống; họ vinh danh Viên Đá Đen tại Đền Ka’aba. Vì đã tham dự cuộc hành hương, những người Hồi Giáo này bao giờ cũng được kính trọng bởi người đồng hương.

Hành hương là một tác nhân thống nhất quan trọng cho Đạo Hồi. Chắc chắn Mohammed đã nhấn mạnh việc này vì Ngài mong mỏi điều đó phụng sự cho sự nghiệp đoàn kết các bộ lạc Ả Rập. Nó còn giúp vào việc củng cố sự ràng buộc thân hữu giữa những người Hồi Giáo.

NGƯỜI HỒI GIÁO THIẾU NỢ GÌ NGƯỜI KHÁC

Để hướng dẫn lối sống hàng ngày, người Hồi Giáo không phải tìm đâu xa hơn ngoài Kinh Koran. Phần lớn chất đốt cho lửa cảm hứng của Mohammed là cái vô luân và thiếu mục tiêu đáng làm trong đời sống của những người đồng hương. Kinh Koran tràn đầy những thông điệp phản ảnh mối quan ngại này. Những tôn giáo khác có thể phát triển con người sống cách biệt người khác, đặt những ham muốn và nhu cầu cá nhân xuống hàng thứ yếu trước việc tìm cầu tinh thần. Đạo Hồi không cố gắng thử làm như vậy. Đạo Hồi cố gắng làm cho con người xứng đáng sống với nhau.

Từ lâu Mohammed cấm tín đồ cờ bạc và đồ uống có chất say. Có lẽ lúc Ngài làm vậy vì Ngài nghĩ lại những cảnh hỗn loạn và chè chén ồn ào tại những hội chợ hàng năm gần Mecca. Nếu những luật lệ chống cờ bạc và tình trạng say xưa gây ra sự thay đổi trong đời sống của tín đồ, thì những lời tuyên bố của Ngài về phụ nữ còn gây nhiều thay đổi hơn. Đàn ông có thể ly dị và lấy nhiều vợ tùy theo ý muốn được yêu cầu coi phụ nữ là người của cùng một Đấng Tạo Hóa, có quyền riêng. Người chồng phải tôn trọng quyền của người vợ đối với của hồi môn và phải tuân theo một số luật lệ về ly dị và tái giá. Mohammed thúc đẩy mọi nỗ lực để ngăn trở sự ly dị vì không gì khác là làm phật lòng Allah.

Người Mỹ giật mình về sự thực hành chính sách đa thê của Hồi Giáo. Người Hồi Giáo, theo Kinh Koran, có thể lấy bốn vợ (Mohammed một lần được phép đặc biệt của Allah, lấy mười vợ). Tuy vậy Mohammed yêu cầu đàn ông xem xét hoàn cảnh và tính khí của mình thật cẩn thận trước khi làm như thế. Nếu họ không thể xử đối bình đẳng trong việc săn sóc và tình cảm, họ chỉ nên lấy một vợ.

Càng ngày càng nhiều người Hồi Giáo lấy một vợ, hoặc vì đó là những gì mà họ tin tưởng hoặc những gì mà họ có thể cung cấp được. Nhiều người Hồi Giáo bây giờ cố hiểu tinh thần hay chủ định của luật trong kinh Koran. Những người tín đồ tự do hơn khẳng định rằng chế độ một vợ một chồng nằm trong tinh thần của Kinh Koran. Họ nhận thức rằng thời gian đã thay đổi từ khi Mohammed làm luật lấy vợ. Lúc ấy tỷ lệ người phụ nữ so với đàn ông cao hơn ngày nay. Hơn thế nữa, theo như tập tục bộ lạc cổ, cách duy nhất mà người đàn ông có thể giúp đỡ phụ nữ nghèo khổ hay góa bụạ là lấy người đó.

Mặc dầu đời sống và công việc của Mohammed bảo đảm cho người phụ nữ Hồi Giáo nhiều đặc ân, mà không được hưởng trước đây nhưng họ vẫn còn phải kín đáo và khiêm nhường. Những hoạt động tôn giáo của họ nên được thi hành riêng thì tốt hơn. Họ nên sống tách biệt ở nhà hơn là đi đây đi đó. Họ không phải ẩn trốn trước tất cả những con mắt, nhưng khiêm nhường và trầm lặng là những đức tính phù hợp nhất cho họ.

Thuở đầu, người Hồi Giáo có trách nhiệm tranh đấu với những người anh em của họ nếu cần thiết. Mohammed nói chiến tranh để tự vệ thì có thể chấp nhận, nhưng ta chỉ tấn công khi chiến đấu vì Allah. Những cuộc thánh chiến như vậy đã trải rộng Đạo Hồi trên một phần rộng lớn địa cầu trong một thời gian rất ngắn. Mohammed dạy người Hồi Giáo phải độ lượng với người bị chinh phục, không nên mang thái độ thù địch.

Thực ra, tất cả những luật lệ về lối sống có đạo đức của một người Hồi Giáo bắt nguồn từ một trong những điều cuối cùng mà Mohammed nói với tín đồ. Trong bài giảng cuối cùng tại Mecca, Ngài có lời tuyên bố nổi tiếng về tình anh em của tất cả tín đồ. Tất cả tín đồ đều quan trọng và tất cả mọi người đều bình đẳng dưới mắt Allah. Chỉ với lý do đó không thôi, thì lòng tốt và kính trọng cũng đã là bổn phận đối với cha mẹ, con cái, người nô lệ và tất cả người khác.

Người Hồi Giáo phải trung thành trong lời hứa đối với nhau. Họ kính trọng đời sống và tài sản của nhau. Đánh giá lòng tốt của một con người dựa vào cách người ấy hành động đối với anh em. Tất cả những gì mà con người tin tưởng có thể được nói lên từ điều người ấy làm, như trong ngụ ngôn Hồi Giáo:" Không có ai trong số các ngươi là tín đồ cho đến khi biết yêu thương người anh em, những gì mà người anh em thương yêu cho chính anh ta".

Lâu nay, khi người ta đã quen sống trong các quốc gia, ai cũng biết trách nhiệm xã hội. Nhưng những người Ả Rập ở thời Mohammed đã tiêu hao ngày tháng trong tranh cãi nhỏ nhen và đánh nhau liên miên giữa các bộ lạc. Mohammed nói không được giới hạn trách nhiệm đối với những người sống ở thành thị của Ngài hay thuộc về bộ lạc của Ngài. Ngài chịu trách nhiệm về việc chia sẻ phúc lợi của tất cả những ai có giá trị, quyền lợi, và mục tiêu chung với Ngài.

Mohammed đã mở rộng mối quan tâm về người dân cửa Ngài, nhìn chằm chằm vào phần còn lại của thế giới và giúp họ tự thích nghi với một vai trò trên thế giới. Tất cả những điều đó được làm trong khoảng thời gian hai mươi năm ngắn ngủi. Người Hồi Giáo trung bình biết rõ bài học của mình. Người Hồi Giáo theo giáo lý của vị tiên tri về tình anh em là một công dân tốt trên thế giới.

21. TÌNH ANH EM TRONG ĐẠO HỒI

Trong cuộc đời Mohammed, những sự bất đồng ý kiến trong tín đồ bị ngăn chặn chủ yếu là vì hiệu quả của sự đoàn kết mà Ngài đạt được nơi họ. Nhưng khi Ngài chết, dân tộc của Ngài -- giống như tất cả các dân tộc ở khắp nơi -- vỡ lẽ ra rằng có một sự bất hòa trong việc thi hành phần còn lại trong những mục tiêu Đạo Hồi. Đã có bàn cãi trong lúc bắt đầu về việc ai là người sẽ thay thế Mohammed trong việc lãnh đạo người ngoan đạo. Việc này được giải quyết không mấy khó khăn với sự lựa chọn người tin cẩn Abu Bekr làm vua Đạo Hồi. Không may, kế tục những chỗ trống trong lãnh thổ Hồi Giáo không được bổ sung dễ dàng. Vì đế quốc Hồi Giáo lớn mạnh, những bất đồng ý kiến cũng phát triển.

Có một vài nhóm có những khái niệm dứt khoát về phương pháp tốt nhất để chọn lựa Vua Hồi. Những người đồng hành đã là những người cộng tác gần gũi nhất với Mohammed nghĩ rằng vua Hồi phải là một trong số người này. Một số người nghĩ rằng sự lãnh đạo phải ở trong tay gia đình Mohammed. Những người Koreish nghĩ rằng chính họ, bộ lạc của Mohammed, phải kiểm soát triều đại Hồi Giáo.

SỰ LAN RỘNG CỦA ĐẠO HỒI

Dưới quyền của Abu Bekr, người Hồi Giáo tấn công Syria trong thánh chiến đầu tiên chống lại một ngoại quốc. Những cuộc xâm lăng Hồi Giáo bắt đầu. Dưới quyền vị vua thứ hai, Omar, quân đôi Hồi Giáo tiến vào những cuộc chiến khác, cuối cùng mang Đạo Hồi vao những phần đất của Phi Châu, Ấn Độ, tất cả Mông Cổ và Tây Ban Nha.

Những chương gây ấn tượng nhất trong lịch sử Đạo Hồi được viết về những chiến binh hung dữ từ Ả Rập xông ra để thôn tính thế giới. Những người mộ đạo Hồi Giáo cho rằng họ làm như vậy trong một cố gắng thành thực cứu thế giới khỏi Phán Quyết Cuối Cùng. Mohammed đã làm cho họ cảm thấy đó là nhiệm vụ của họ, và nếu cần thiết họ sẽ buộc thế giới vào sự cứu rỗi này. Sức mạnh bao giờ cũng cần thiết. Người ta thường đưa ra ba điều lựa chọn cho những người không phải là Hồi Giáo -- chấp nhận kinh Koran, đóng một loại thuế đặc biệt vì đặc quyền của những người không phải là Hồi Giáo còn lại, hay cuối cùng là lưỡi gươm. Trang bị và tiếp tế cửa họ có thể nói là thô sơ, người Hồi Giáo tiếp tục thắng trận, thôi thúc bởi niềm tin về một sứ mạng và bởi một số lý do khác ít tôn giáo hơn. Theo luật Hồi Giáo, binh lính có thể giữ bốn phần năm chiến lợi phẩm trong thánh chiến. Nếu sống sót, một người lính có thể trở nên rất giàu có. Nếu chết, người lính sẽ đi thẳng vào thiên đường.

Những người khác giải thích rằng một phần quyền lợi của người Hồi Giáo trong việc xâm chiếm lan rộng nằm trong việc cuộc sống của họ cho đến bây giờ bị giới hạn vào biên giới đất đai sa mạc cằn cỗi của họ. Trước mặt họ bây giờ là sự giàu có về đất đai và văn hóa của những nền văn minh phồn thịnh và mầu mỡ của Địa Trung Hải. Không chỉ sản phẩm của đất đai lôi cuốn họ, mà những kho tàng về khoa học, mỹ thuật và triết học cũng lôi cuốn họ.

Chính trong lúc đó kho tàng ở Medina bắt đầu tiến tới điểm bùng nổ. Ai đã từng mơ ước về sự giàu có như thế đổ vào từ những cuộc xâm lăng các nước? Và vua Hồi chịu trách nhiệm về cách tiêu pha. Đối với nhiều người, nó trở thành một vấn đề quan tâm nhất để có thể chia sẻ trong quyết định chọn vua Hồi. Cuộc sống của những vua Hồi tốt là hy sinh cho khát vọng và lòng tham của một số nhóm người vô lương tâm.

Vì Đạo Hồi bành trướng rộng, gồm càng ngày càng nhiều những người không phải là Ả Rập, sự đồng thuận trở nên khó khăn và cuối cùng không thể làm được. Tuy nhiên qua nhiều thế kỷ, những người Hồi Giáo chính thống hơn khăng khăng đòi một nhà lãnh đạo tôn giáo duy nhất cho toàn thể thế giới Hồi Giáo. Nhưng thời gian và tình thế đã thay đổi và vẫn còn đang thay đổi. Cuối cùng vào năm 1924, chế độ vua Hồi chấm dứt.

Trong những năm đầu sau cái chết của Mohammed, những câu hỏi được nêu lên đưa đến kết quả phân hóa lớn trong Hồi Giáo. Sự phân hóa này kéo dài đến tận ngày nay. Cả hai nhóm đều coi đường lối suy nghĩ và hành động của họ đều sát hợp với những tiết lộ của Mohammed. Cả hai nhóm tin tưởng phong trào của họ tiêu biểu cho sự phát triển đúng của Hồi Giáo.

LUẬT SUNNA

Nhánh chính thống hay bảo thủ của Đạo Hồi được gọi là Sunna, được đặt tên như vậy vì sự nhấn mạnh của nó trong việc thu thập các truyền thống Hồi Giáo cũng được gọi bằng tên này. Những người theo luật Sunna tin rằng những gì có trong Kinh Koran và trong Luật Sunna xác định những giới hạn về niềm tin và hành động cho người Hồi Giáo. Kinh Koran nói lời của Allah. Luật Sunna nói về hành động và lời nói của Mohammed và những tập tục ban đầu của người Hồi Giáo.

Có lúc, người theo luật Sunna tin rằng kinh Koran và những truyền thống phải được giải thích đúng như đã được viết. Một giáo sĩ đáng tôn kính tên là Ashari giúp những người theo luật Sunna phát triển những niềm tin hơi khác cho phép sử dụng lý trí trong việc giải thích. Ông giải thích một số niềm tin dường như mâu thuẫn vì nói Allah là tất cả. Allah tạo mọi thứ và tất cả hành động và, cho nên Allah chịu trách nhiệm cả hai thiện và ác. Con người phải chấp nhận điều đó, mà không tranh cãi về việc này liệu có thể được không.

Một số băn khoăn làm sao kinh Koran có thể bất diệt như Mohammed dạy cho họ. Nếu như vậy, sẽ không có gì khác được thiết lập bên cạnh Thượng Đế? Và không phải là tội lỗi lớn nhất trong mọi sự thờ phượng nhiều hơn một Thượng Đế? Ashari dạy kinh ở trong dạng thức mà người Hồi Giáo có, không bất diệt. Nhưng ở dạng lần đầu tiên nó hiện hữu trong tâm trí Allah thì nó bất diệt.

Thường có một số người không chú trọng nhiều vào nghi thức hay luật lệ tôn giáo hay thần học. Đã có nhiều người Hồi Giáo có tính khí này. Một số trong họ bắt đầu bầy tỏ niềm tin của họ theo cách họ nhìn thấy ở những người tôn giáo khác. Họ cảm thấy chân lý tôn giáo không chỉ hạn chế trong tín điều và nghi lễ. Chân lý có thể đạt được từ sự đồng cảm trực tiếp với Thượng Đế. Và vì vậy, một số bắt đầu thực hành thiền định và những tập luyện thần bí tận tụy khác.

Đầu tiên họ hẳn là được chào đón bằng sự ngạc nhiên, vì họ đã đi vượt qua sự tu tập thường lệ của Hồi Giáo. Giống như một số người tự chối bỏ niềm tin khác, họ mặc áo choàng len không thoải mái và không lưu ý gì đến nhu cầu vật chất và xã hội. Họ bị gắn cho cái tên Sufis có nghĩa "người "mặc đồ len". Vì số người gia tăng, họ bắt đầu tập họp thành đoàn thể thân hữu, nhấn mạnh sự tận tụy hoàn toàn với Thượng Đế. Mục tiêu của họ là hợp nhất với Allah trong đời này, không phải chờ đợi đến sau khi chết.

Dần dà những người Sufis này đạt được sự tôn trọng của những người Hồi Giáo chính thống. Một người đầu tiên hiểu giá trị con đường của họ đi tới Thượng Đế là Ghazzali, một trong những giáo sĩ Hồi Giáo được gọi là "người phục hưng tôn giáo". Ghazzali qưan sát những thần bí trong sự mộ đạo của họ và chính mình trở thành Sufi. Ông nhìn thấy giá trị trong đời sống của sự mộ đạo hoàn toàn.

Ông bắt đầu dạy thần học Sunna có sửa đổi, căn cứ một phần lớn vào học thuyết của Ashari, nhưng gồm có những sự nhấn mạnh vào lòng yêu thích của người mặc khải thần linh. Ông tin rằng người ta không phải là tín đồ của một tôn giáo cho đến khi cảm thấy trực nghiệm tôn giáo. Tôn giáo phải thay đổi điều gì đó về đời sống của tín đồ. Không có sự thay đổi này, người ta chỉ ở trên bề mặt của tôn giáo mà không ở trong lòng tôn giáo ấy.

Tôn giáo thực sự đến qua ba bước. Trước nhất, người ta phải cảm thấy hối hận về những tội lỗi quá khứ. Cần thiết phải có sự thay đổi. Đó là hối lỗi. Rồi phải tập trung đời mình vào Thượng Đế, không có gì quan trọng ngoài sự mộ đạo. Rồi tín đồ phải phấn đấu sống một cuộc đời thoát khỏi tội lỗi. Những Cột Trụ của Niềm Tin giúp họ trong việc này. Và những kỷ luật của người Sufis sẽ giúp họ thêm.

Mục tiêu chính của Ghazzali trong Đạo Hồi là nhấn mạnh về lý luận như một phương pháp duy nhất để biết ý của Thượng Đế. Ông nói, ta phải luôn luôn sẵn sàng vâng lời Allah, dù hiểu hay không hiểu. Mặc dầu Ghazzali hình thành học thuyết của ông vào thế kỷ thứ mười một, nhưng học thuyết ấy vẫn là tài liệu tin cậy cuối cùng cho người Sunnis.

SHIA

Khoảng chừng một phần năm người Hồi Giáo trên thế giới thuộc về nhóm không theo quốc giáo và không chính thống giáo gọi là Shia. Phần lớn cư trú ở Persia (Ba Tư), những người Shi’ites này cũng theo niềm tin từ những lời tiên tri của Mohammed và từ kinh Koran. Tuy nhiên, điều chính chia rẽ họ với người Sunnis là niềm tin vào truyền thống là Mohammed đã để lại cho tín đồ chăm sóc anh em họ và người con rể Ngài, Ali. Họ nói, Ali là nhà lãnh đạo được thần thánh chỉ định, Imam (nhà lãnh tụ Hồi Giáo) của cộng đồng Hồi Giáo. Sự lãnh đạo Đạo Hồi lẽ ra phải tập trung vào gia đình Mohammed. Người Shi’ites tin rằng ba vị vua trước Ali đã giữ triều đình Hồi Giáo một cách bất hợp pháp và đã không đếm xỉa gì tới những lời mong ước của Mohammed. Vì lý do đó, người Shi’ites nguyền rủa những người đó trong những lời cầu nguyện hàng ngày.

Người Shi’ites đã vinh danh những người con cháu Mohammed bằng cách làm họ có tính cao quí tôn giáo -- và đôi khi có tính cao quí chính trị -- và quý tộc. Mỗi phái lấy tên của những con cháu này làm nhà lãnh đạo thiêng liêng cho mỗi thế hệ, tin rằng mỗi Imam không thể sai lầm và không tội lỗi. Những hệ phái không bao giờ đồng thuận về ai và khi nào là Imam. Họ cũng chẳng đồng ý vào lúc dòng dõi Imam được thần thánh chỉ định chấm dứt.

Một số người Shi’ites tin rằng người cuối cùng trong những Imams không chết. Ngài đi vào ẩn náu và sẽ tái xuất hiện trước Phán Quyết Cuối Cùng. Cho đến lúc đó, một số người Shi’ites tin rằng "Imam ẩn náu" sẽ chỉ định người thay mặt trên trái đất, để người ta có thể có sự hướng dẫn của Ngài. Những người Shas ở Ba Tư (Iran) tự nhận là dòng dõi từ Imam thứ bẩy, được cho là những đại diện của "Imam ẩn náu".

Hệ phái Shi’ites tồn tại qua nhiều thế kỷ bất đồng ý kiến với số đông người Hồi Giáo vì họ nhất định bám níu vào niềm tin của họ. Đôi khi họ sống sót trong các cuộc thanh trừng bằng cách làm ra vẻ tin theo trong khi vẫn thực thi "ngầm" niềm tin của họ. Những người Sunnis hiện đại có khuynh hướng khoan hồng đối với những người Hồi Giáo không phải chính thống.

Bất cứ tôn giáo nào lôi cuốn được sự trung thành của một số đông người chắc chắn sẽ tích lũy các tín điều, nghi lễ, và tập tục đã được qui định. Ít lâu sau có những người thấy tổ chức như vậy đã thu hút các tín đồ, cho nên cảm hứng và mục tiêu nguyên thủy đã bị bỏ quên. Đôi khi những người tinh ý này bắt đầu gây phong trào làm trong sạch những đặc trưng bên ngoài và tôn giáo để trở về với niềm tin cơ bản.

Phong trào làm trong sạch như vậy được phát động trong Đạo Hồi vào thế kỷ thứ mười tám. Một số ảnh hưởng của nó vẫn còn kéo dài. Những người ủng hộ phong trào này trở nên thất vọng vì ngày càng có khuynh hướng sùng bái những giáo sĩ nổi tiếng và những nhà thần học và cả Mohammed. Họ cảm thấy điều đó rất gần với việc thờ phượng một vài thần. "Hãy quay trở về với Allah và Kinh Koran" là lời khuyên thiết tha cho người Hồi Giáo. Phong trào lôi cuốn sự ủng hộ tại Ả Rập Xê Út, nơi những dấu tích lich sử bị chuyển ra khỏi lăng mộ của gia đình Mohammed và những nhân vật chính yếu khác.

NHỮNG THAY ĐỔI TRONG ĐẠO HỒI

Gần như bất chấp chính nó, Đạo Hồi đã thay đổi chút ít ngay từ lúc ban sơ. Có một thời, sự thay đổi trong Hồi Giáo được coi như tội lỗi. Đây là một tôn giáo đã nhiều năm cấm phiên dịch kinh Koran từ tiếng Ả Rập vì Allah đã tuyên đọc Đạo Hồi bằng tiếng Ả Rập, và điều này không được thay đổi. Nhưng thay đổi đã xẩy ra.

Những xứ cận Đông càng ngày càng chú ý đến việc hiện đại hóa, kỹ nghệ hóa, hay Tây phương hóa -- muốn nói thế nào cũng được. Ngày nay hầu hết những người Hồi Giáo cảm thấy lòng trung thành của họ mới hết phải dành cho đất nước mà họ sống hơn là với toàn bộ tình anh em Hồi Giáo. Những sự kiện của sự "co lại" trên thế giới ở thế kỷ thứ hai mươi đã buộc Đạo Hồi trở nên khoan dung nhiều hơn đối với những niềm tin khác và ít cứng rắn hơn về tín điều của chính mình.

Tuy nhiên hai thế lực đã tác động theo hướng đối nghịch nhau. Một thế lực là tạo nước Pakistan tại Ấn Độ, kết quả tự nhiên của vị đắng Hồi-Ân Giáo. Trong hai phần -- một phần ở phía tây Ấn Độ, và một vùng nhỏ hơn ở phía đông -- Pakistan là một thí nghiệm lý thú để làm giảm bớt những xung đột tôn giáo.

Người Hồi Giáo di trú vào Pakistan làm tăng thêm ý thức dị biệt giữa Đạo Hồi và các tôn giáo khác.

Một thế lực khác chống lại Nhà nước Israel của người Do Thái với phong trào ra đi của hàng ngàn người Ả Rập khỏi nơi đã là qưê hương của họ. Những người Hồi Giáo rất bất mãn về quyết định này. Một khi người ta có kẻ thù chung, thì họ lại nhấn mạnh vào những sự việc khác mà họ cùng chia sẻ. Bởi vậy, người Hồi Giáo đã nhấn mạnh lại niềm tin và tập tục của họ.

SỰ ĐÓNG GÓP CỦA ĐẠO HỒI

Đã từ lâu thế giới đã trở nên quen thuộc với những gì mà người Hồi Giáo Ả Rập đã làm cho thế giới. Lịch sử thế giới đã thay đổi khi những đạo quân Hồi Giáo đầu tiên tiến vào Syria. Mặt khác những kêu ca của người bị chinh phục, người Hồi Giáo dùng sức mạnh vì lợi ích. Bất kỳ chỗ nào họ đến, họ thúc đẩy mỹ thuật, khoa học và y học. Họ gìn giữ trật tự và luân lý trong xã hội.

Những ai chấp nhận Allah mà họ thờ cúng thì đến sùng bái một Thượng Đế có chân giá trị và oai nghiêm -- bao giờ cũng được gần gũi bởi những người thấp kém nhất. Thực ra dưới mắt Allah, không ai là thấp kém. Tất cả đều bình đẳng. Tình anh em của Đạo Hồi không ngừng lại ở biên giới quốc gia, nòi giống hay của cải. Vì người Hồi Giáo tin rằng mắt của Allah không thấy những khác biệt vô nghĩa đôi khi do con người tưởng tượng ra.

Tất cả điều này bắt nguồn sự thôi thúc của một người ở Mecca cảm thấy trọng trách nâng dân tộc mình lên từ thờ phượng những thần tượng tới chỉ thờ phượng một thượng đế, Allah. Vào lúc cuối cùng của đời Ngài, Ngài nhìn vào các môn đồ và cầu nguyện:" Ôi lạy Chúa! ta đã trao thông điệp của ta và đã hoàn thành công việc của ta".

Những người Hồi Giáo đã trả lời bằng giọng nói của họ, và đã trả lời bằng đời của họ từ đấy: Vâng, quả thật, Ngài đã làm.

---o0o---


Trình bày: Anna

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/04/201322:25(Xem: 7647)
Lịch sử luôn trao tận tay từng số phận thuận nghịch của duyên trần (biệt nghiệp) để từ đó hòa mình vào vận mạng chung của cộng nghiệp.
16/07/201615:21(Xem: 4947)
Nếu trang phục truyền thống của một dân tộc hay quốc gia biểu đạt bản sắc văn hóa về y phục của dân tộc hay quốc gia đó, thì pháp phục Phật giáo thể hiện bản sắc đặc thù, khác hẳn với và vượt lên trên các quốc phục và thường phục của người đời, dù ở phạm vi dân tộc hay quốc gia. Lễ phục tôn giáo nói chung và pháp phục Phật giáo nói riêng thể hiện tình trạng tôn giáo và xã hội (social and religious status), được sử dụng trong hai hình thức, mặc trong sinh hoạt thường nhật và mặc trong các nghi lễ tôn giáo, nói chung các dịp đặc biệt.
04/02/201408:27(Xem: 9743)
Nằm trong khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) 2014 tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 vừa qua, chương trình trò chuyện với các nhân vật nổi tiếng không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, có quan điểm về một cuộc sống hạnh phúc mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền bạc và quyền lực cũng đã diễn ra.
20/02/201206:43(Xem: 3729)
Nếu bạn dự định đăng tải gì đó, bạn phải luôn tự hỏi: Nó có đúng không? Nó có cần thiết không? Nó có phù hợp không?
18/08/201407:36(Xem: 27734)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).
12/03/201407:34(Xem: 12702)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phân xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách…Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên.
09/04/201314:24(Xem: 4297)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phần xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách, …Đức Lạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội tham của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên.
09/03/201411:24(Xem: 14079)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa di từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm hai mươi tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm; hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng
17/10/201307:24(Xem: 21572)
50 năm qua, cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963 chống chính quyền Đệ nhất Cọng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã đàn áp Phật giáo. Sự việc đã lui về quá khứ nhưng vết thương trong lòng dân tộc, trong tim của Phật tử Việt Nam thì vẫn còn đó và có lẽ mãi còn trong lịch sử đau thương mà cũng lắm hào hùng.
01/06/202010:25(Xem: 4144)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)