Báo hiếu và Bồ-đề tâm

11/04/201311:54(Xem: 7279)
Báo hiếu và Bồ-đề tâm

Tuyển tập bài viết về Vu Lan - 2012

Báo hiếu và Bồ-đề tâm

Tỳ-kheo Thích Đức Trí

Nguồn: Tỳ-kheo Thích Đức Trí

Hiếu là ý nghĩa của đạo đức, và cũng là phẩm chất của đời sống hạnh phúc và giác ngộ. Kinh điển Phật Giáo thường dạy rằng chư Phật và Bồ Tát trong quá khứ do lòng hiếu thảo với cha mẹ phát đại bi tâm cứu độ tất cả chúng sanh mà thành đạo nghiệp. Tức là xuất phát từ tình thương cha mẹ sâu sắc, ý thức khổ đau của người thân liên hệ đến nỗi khổ đau của đồng loại và chúng sanh. Tình thương rộng lớn phát triển thành đại bi tâm, từ đại bi tâm phát khởi thành đại nguyện. Đó là nguyện thành Phật độ chúng sinh là công hạnh của Bồ Tát. Do vậy, phát bồ đề tâm là năng lực báo hiếu vĩ đại và phù hợp với mục đích của sự tu học và hành đạo.

Bồ đề Tâm là gì? Ai cũng biết bồ đề tâm là tâm giác ngộ, sự giác ngộ sâu sắc, đáp án cuối cùng của nó thấy rõ cội nguồn của khổ đau và tìm phương pháp diệt khổ. Nếu khi bản thân chưa giác trọn vẹn thì chưa đoạn tận khổ đau trọn vẹn. Nhưng vấn đề tu học là chúng ta không đợi thành Phật mới chia sẽ những gì có được cho người khác. Phải nhận thức rằng, tại đây và bây giờ là yếu tố tự lợi và lợi tha song hành, là con đường dẫn chúng ta sớm thành tựu giác ngộ. Nói rõ hơn là khi chúng ta giúp người bớt khổ thì chúng ta cũng đã tự giúp mình trước rồi. Tức là giúp bản thân mình có phát khởi tình thương trước, sau đó mới có biểu hiện hành động tốt lành đối với người khác. Tình thương và lòng tôn trọng sự sống xuất hiện trong tâm, chính là hạt giống tốt để phát triển thành tinh thần của bồ tát hạnh.

Muốn có tình thương rộng lớn thì phải có khả năng quán chiếu và nhận thức về lý tưởng giải thoát khổ đau. Bạn không thể xa rời thực tế gian khổ ở đời mà tìm sự giác ngộ. Vì rằng nếu xa rời nó bạn sẽ không có hoàn cảnh để làm nhiều việc tốt. Như con cá thiếu nước thì sẽ không sống được, nếu chạy trốn thực tại thì hạt giống bồ đề giác ngộ không thể phát triển được. Có nghĩa là phải đối diện với cuộc đời để phát khởi sự đồng tình và đại bi tâm.

Một bình thường cũng có tình thương, sự đồng tình, đồng cảm đó, nhưng còn yếu đuối và mờ nhạt, như chỉ thương nồng nhiệt bản thân và người thân yêu của mình mà quên đi những người khác. Có nhiều trường hợp xảy ra, vì lợi lộc cá nhân và gia đình mình mà làm người khác khổ đau. Đôi lúc vì lợi lộc quốc gia xã hội mình mà gây chiến tranh khổ đau trong nhân loại. Thái độ sống thiển cận như thế thì không có khả năng chuyển hóa phiền não và đem đến lợi ích thiết thực chung. Đó là ý niệm về tự ngã xuất hiện và ngự trị nhiều phương diện trong cuộc sống này. Bức tường bản ngã đó được xây dựng lên bằng vật liệu vô minh và bảo thủ và muốn xô ngã nó xuống không gì hơn là dùng trí tuệ và sự xả ly sản phẩm của tự kỉ. Chúng ta thấy cụ thể, thái tử Tất Đạt Đa có đi dạo bốn cửa thành mới quán sát cảnh sanh, già, bệnh, chết và tự nhận thức rằng ta và mọi người đều sẽ như thế! Đó là sự đồng tình, đồng cảm đến cao độ, đi đến khả năng xả bỏ tất cả và vượt thành xuất gia, mở ra một con đường giải thoát tuyệt vời cho chúng sinh.

Khi có tình thương, sự đồng tình, đồng cảm đó mới thấy chắc thật mình và mọi người không khác, từ rung động trước nỗi đau của người khác và cảm nhận nỗi đau như chính mình và phát huy tinh thần cao thượng. Các kinh điển Phật giáo, nhắc lại quá trình hành bồ tát đạo, chư Phật bồ tát đã từng hy sinh thân mạng, đầu mắt tủy não mà cứu chúng sinh là nghĩa ấy. Điều này nó không xa vời đối với người có tâm từ bi. Nhiều thánh tử đạo Phật giáo đã xả thân vì đạo hay những bậc hiền đức vì sự sống của người khác mà hy sinh thân mạng mình đều là biểu hiện sự tình thương cao thượng và nguyện lực giúp đời bớt khổ đau.

Như một nguyên lý đạo đức, tinh thần cứu khổ là sự hy sinh, sự ban bố, sự cho ra, mục đích phát huy tinh thần vô ngã mới đem lại hạnh phúc cho kẻ khác được. Dây kết nối tinh thần giải thoát khổ đau là các hành động đạo đức. Kinh Vu Lan chép rằng Mẹ ngài Mục Kiền Liên, bà Thanh Đề bị đọa trong địa ngục, Mục Kiền Liên dù là tu chứng lục thông cũng không có phương cách gì cứu mẹ. Đức Phật dạy Ngài Mục Kiền Liên phát tâm rộng lớn cúng dường phẩm vật lên Đức Phật và Hiền Thánh Tăng, nhờ phước đức đó mà bà Thanh Đề được sanh về cỏi an lành. Đó là do năng lực đạo đức cộng đồng chuyển hóa khổ đau thành an lạc.

Kinh Địa Tạng cũng được xem là kinh báo hiếu trong nhà Phật “Phật môn chi hiếu kinh”, nhấn mạnh phương pháp báo hiếu mà còn thuyết minh tính chất nhân quả trong hai lĩnh vực thiện ác của chúng sanh. Nhận thức đúng đắn rằng nguyên nhân mọi khổ đau là do lòng dạ tối tăm và ích kỉ tạo tác. Do đó muốn giải hóa khổ đau thì phải phát tâm rộng lớn với những hành động cao thượng. Thánh nữ Bà La Môn phát tâm cúng dường Tam Bảo, nhất tâm niệm đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại, nhờ công đức đó mà cứu mẹ thoát khỏi cảnh địa ngục khổ đau. Thánh nữ đã phát nguyện: "Tôi nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sanh mắc phải tội khổ, những kẻ đang trầm luân trong sáu đường, mà quảng thiết phương tiện, lập ra nhiều phương chước, khiến cho họ đều được giải thoát, lìa khổ được vui." (Kinh Địa Tạng, quyển thượng, phẩm thứ nhất).

Cũng tương tự như thế, Ngài Quang Mục phát tâm cúng dường chùa tháp, nhất tâm niệm Phật, nhờ công đức đó mà cứu mẹ thoát khỏi địa ngục. Từ đó Quang Mục nguyện:“Kể từ nay cho đến trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, hễ nơi nào có thế giới còn có các chúng sanh chịu tội khổ nơi địa ngục cùng Tam Ác Ðạo, con nguyện sẽ cứu vớt và làm cho tất cả đều xa lìa các nẻo ác Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh... Những kẻ mắc tội báo như thế thành Phật cả rồi, thì sau đó con mới thành Chánh Giác.” (Kinh Địa Tạng, quyển thượng, phẩm thứ tư).

Thánh Nữ Bà La Môn và Quang Mục Bồ tát đều là tiền thân của Ngài Địa Tạng hành Bồ tát Đạo. Địa Tạng còn có nghĩa là mảnh đất tâm chứa đủ muôn đức lành, tâm ấy có sẳn trong mọi người trên đời này. Từ nhân địa mà phát lòng báo hiếu và tình thương rộng lớn chuyển hóa thành tâm bồ đề. Theo quan điểm đạo Phật, sống không phải là bắt đầu, chết không phải là chấm dứt tất cả. Nếu chúng ta có lòng hiếu thảo, có đời sống đạo đức thì vẫn thực hiện trọn vẹn trách nhiệm của người con đối với các bậc cha mẹ còn sống. Đối với cha mẹ qua đời thì tu tạo phước đức, làm các điều lành để hồi hướng siêu độ cho cha mẹ được sanh về cảnh an lạc. Đó là phương pháp báo hiếu rất thiết thực mà Đức Phật dạy cụ thể trong các kinh điển.

Như vậy, cha mẹ và nhiều người thân yêu trên cuộc đời này là cao quí, là đối tượng của chúng ta yêu thương, là cầu nối đưa ta đến nguồn nước giác ngộ. Phẩm chất cao quý đó chan hòa vào trong biển đại bi mênh mông. Như thế, bao người đang khổ đau xung quanh ta không còn là một sự trở ngại, hay là gánh nặng lớn trong đời sống chúng ta. Nhờ họ mà chúng ta phát tâm giác ngộ và thành tựu đại bi. Bồ-tát Giới Phạm Võng có nhấn mạnh về ý nghĩa báo hiếu như sau: “Hiếu thuận đối với Cha Mẹ, Sư trưởng, chư Tăng, đối với Tam Bảo. Sự hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự, đình chỉ mọi sự tội lỗi. Cho nên đạo Phật còn gọi là Đạo hiếu.”

Đức Phật nhấn mạnh rằng người nào phát tâm niệm Phật nhất định phải tu tam phước, hiếu thuận với cha mẹ là một trong các điều trong phước lành thứ nhất giúp cho người thành tựu nguyện lực giải thoát khổ đau. Đức Phật từng dạy: “Nầy Vi Ðề Hi! Người muốn sanh nước Cực Lạc ấy nên tu ba phước: •Một là hiếu nuôi cha mẹ, kính thờ bậc Sư Trưởng, có tâm nhơn từ chẳng giết hại và tu tập mười nghiệp lành. •Hai là thọ trì Tam Quy Y, đầy đủ các cấm giới và chẳng phạm oai nghi. •Ba là phát tâm Bồ Ðề, sâu tin nhơn quả, đọc tụng Kinh điển Ðại Thừa và khuyên dạy sách tiến người tu hành.” (Kinh Quán Vô Lượng Thọ)

Hiếu như là điều kiện cần thiết của sự thành tựu công đức tu học của mọi người. Như quy luật bình đẳng của chân lý, chứ không phải là quan niệm hay một quy ước.

Như một tấm gương thiết thực trong đời sống đạo đức, các bậc giác ngộ thể hiện hiếu hạnh như là một trách nhiệm thiêng liêng. Đức Thích Ca khi thành Phật cũng tìm cách thuyết pháp độ cha mẹ, cử hành tang lễ khi vua cha qua đời. Ngài Xá Lợi Phất cũng trở về quê hương thuyết pháp độ người mẹ hiền trước khi nhập Niết Bàn. Trong thực tế xưa nay, các bậc hiền trí trong đời cũng rất xem trọng hiếu hạnh và phát huy rộng rãi qua nhiều thế hệ. Kinh điển Phật Giáo đều tán thán và dạy phương thức báo hiếu đối với cha mẹ. Hiếu và bồ đề tâm là giá trị của đạo đức giải thoát. Hiếu hạnh là nếp sống nhân bản và phù hợp với thánh đạo.Từ đó mà có ý nghĩa hiếu thảo với cha mẹ là phải hiếu thuận với Tam Bảo và pháp giới chúng sinh.

Do vậy, hiếu và bồ đề tâm như một quá trình phát triển tiềm năng của tâm thức, từ tình thương cho đến sự cảm nhận chân thật nỗi khổ của tha nhân mà hình thành phẩm hạnh đại bi tâm. Hình ảnh các bậc giác ngộ và các bậc hiền nhân báo hiếu cha mẹ trong tinh thần vô ngã vị tha là bài học vô cùng quan trọng cho chúng ta suy tư và hành đạo. Đạo đức nhân sinh không xa rời tính chất của đạo giác ngộ, nó liên hệ từ ân nghĩa phụ mẫu cho đến ân nghĩa đối với tất cả chúng sanh. Hiếu hạnh là nhân tố căn bản của sự phát Bồ đề tâm, phát khởi nguyện lực Bồ tát đạo, là tinh thần cứu khổ ban vui và thành tựu giác ngộ. Phát huy giá trị cao thượng của hiếu hạnh rộng rãi, và mọi người đều báo ân cha mẹ đúng theo chánh pháp thì chắc chắn có được đời sống an lạc trong hiện tại và tương lai./.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/07/2014(Xem: 35192)
Hồng đỏ cài lên đẹp tuyệt vời Phải nên trân trọng nhé người ơi! Những ai còn mẹ còn hồng đỏ Màu đỏ thắm tươi vẻ rạng ngời
24/07/2014(Xem: 6513)
Tối nay ngồi vẽ Mẹ. Một người Mẹ của đồng quê đất Việt. Da mặt Mẹ đã xạm đen vì dãi dầu. Đôi mắt Mẹ đã trĩu xuống vì suy nghĩ, vì chịu đựng, vì lo lắng cho các con. Đôi môi Mẹ đã khô khan nứt nẻ, vì tranh thủ, vì buôn bán, vì cãi cọ, vì van xin, vì cầu nguyện.
24/07/2014(Xem: 7111)
Vu Lan là lễ truyền thống lâu đời có từ thời Đức Phật còn tại thế hơn 2,500 năm trước; đồng thời cũng là lễ tiết quan trọng phổ thông của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa mà tổ tiên chúng ta đã giữ gìn qua nhiều thế hệ. Lễ tiết Vu Lan hay Vu Lan thắng hội gắn liền với lễ giải Hạ - Tự tứ của Tăng đoàn Phật Giáo. Lễ Tự tứ có nghĩa là sau những tháng ngày tịnh tu Giới - Định - Tuệ, ba nghiệp của hành giả sâu lắng thanh tịnh; hai vị Tỳ kheo đối thú nhau chân thành bày tỏ khởi đi từ đạo tình cao quý nhẹ nhàng trong sáu tiếng: thấy tội, nghe tội, nghi tội, những mong đợi vị thầy đối diện chỉ bày cho ta thành tâm sám hối trước hội chúng và Tam Bảo, nguyện cải đổi không tái phạm, nếu xét thấy mình có tội. Thật là thành khẩn, cao đẹp trong hòa hài, từ bi, nhẫn thuận, bình đẳng. Nhẹ nhàng nhưng mang chất liệu tuệ giác tự thân và san sẻ với giác tha của người đối diện kết nên vòng nhân duyên thù thắng hầu tiến đến giác hạnh viên mãn.
24/07/2014(Xem: 7165)
Mỗi mùa Vu Lan đến Biết bao dòng lệ rơi Cho tình vô bờ bến Bày tỏ không nên lời Nghẹn ngào trong nước mắt Tưởng nhớ đến mẹ cha Ân tình cao chất ngất Suốt đời đã bôn ba
19/07/2014(Xem: 7653)
Vu Lan phiên âm từ Phạn ngữ Ullambana, Trung Hoa dịch là “Giải đảo huyền” có nghĩa là cởi mở những cực hình hay giải thoát những khổ đau trong 3 cảnh giới: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phật giáo chủ trương nhân quả theo nhau như hình với bóng, nghĩa là người gây nhân lành ắt sẽ hưởng quả tốt, ngược lại kẻ tham lam, vị kỷ, độc ác... chỉ biết lợi mình, không kể đến hậu quả làm phiền lụy khổ đau cho tha nhân, rộng ra là cả sinh linh vạn loại, đương nhiên sẽ gặp những phiền toái, chịu đựng những trách móc, oán hận của những nạn nhân, hay khi xả bỏ cuộc sống sẽ lãnh sự trừng phạt trong 3 ác đạo mà thế nhân hay tín ngưỡng nào cũng nghĩ bàn để khuyến miễn người đời phải lo tu thân hành thiện, làm đẹp nhân sinh. Mùa Vu Lan báo hiếu phát xuất từ đức Mục Kiền Liên kiếm tìm, thăm viếng rồi giải thoát mẹ ngài khỏi cảnh giới ngạ quỷ, có từ thời đức Phật còn tại thế; văn hóa thế nhân có từ khi loài người hướng về nẻo thiện. Gần chúng ta là văn hóa Á Đông, lấy nhân luân làm căn bản: Hiếu, đễ, tru
18/07/2014(Xem: 6542)
Nhờ năng lực của Tăng đoàn mà mẫu thân của ngài Mục Kiền Liên được thoát khỏi cảnh bi thống nơi chốn địa ngục. Tăng đoàn thanh tịnh hòa hợp là năng lực vô biên hóa giải được khổ đau từ cõi vô hình cho đến thế giới con người. Trọng tâm của Giáo hội chúng ta đặt ở sự hiệp lực này, trong ấy những Phật sự hằng năm của Giáo hội, tất cả tăng ni và thiện tín cùng nhau chung lo. Bốn phật sự thường xuyên của Giáo hội mà mỗi thành viên đều chung sức chung lòng đó là: Phật đản, An Cư, Khóa Tu Học Bắc Mỹ và Ngày Về Nguồn - Hiệp Kỵ.
15/05/2014(Xem: 10791)
Hôm nay ngày giỗ của Ba tôi, tự dưng lòng tôi thèm viết một chuyện gì đó về Ba tôi…như nhà văn Võ Hồng thường khuyên mọi người nên viết lại những kỷ niệm sinh hoạt của cha, của mẹ mình, những kỷ niệm mà mình nhớ hơn hết, đáng nhớ hơn hết…để nhân ngày k?giỗ của cha mẹ, tập trung về, cùng đọc, cùng nghe, cùng xúc động, hồi tưởng công ơn. Con cháu sẽ có dịp sống lại không khí đại gia đình, con nhớ thương cha mẹ, cháu gần gủi, quý trọng ông bà!
16/10/2013(Xem: 30234)
Có lẽ, trong thời gian qua, trong cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ dù chưa dư thừa với đa số, nên con người cần một cái gì đó về đạo đức tâm linh, muốn trở về nguồn cội, nên tưởng nhớ nhiều về tổ tiên ông bà mà gần gũi nhất là cha mẹ, anh em huyết thống. Tập sách nhỏ này, tôi viết để tưởng nhớ mẹ tôi, nhưng may mắn trong cái riêng ấy lại hòa nhập được với cái chung của những tấm lòng hiếu kính. Do đó, rất nhiều người tâm đắc muốn có, muốn đọc, có người vừa gọi điện vừa khóc, tôi cũng chạnh lòng nhớ mẹ mà khóc theo, đa số qua điện đàm yêu cầu tái bản, vâng lời, tôi cũng cố gắng tái bản 2 lần rồi.
16/10/2013(Xem: 19685)
Kính lạy vong linh cha, Khác biệt với muôn ngàn trường hợp khi cầm viết đặt lên giấy. Con ghi lại vài nét – chỉ vài nét thôi về đời sống của cha – một người cha có lắm điều độc đáo, không những chỉ trong hàng con cháu mà bất cứ ai cũng công nhận là hãn hữu và cần rút tỉa những điểm son để soi sáng vào nếp sống của mình.
10/10/2013(Xem: 7568)
Mùa Vu Lan năm nay tôi sẽ gắn trên ngực mình một bông hồng trắng vì mẹ tôi đã mất. Nhớ mẹ, tôi viết đôi dòng tâm tình cùng chư huynh đệ pháp lữ gần xa, để những ai còn mẹ mà không biết cung kính, hiếu dưỡng thì ngay bây giờ hãy nên suy ngẫm lại mà được sống với mẹ bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.