Thông Bạch Vu Lan Phật Lịch 2555

11/04/201311:24(Xem: 5240)
Thông Bạch Vu Lan Phật Lịch 2555

Vu_Lan
Tuyển tập bài viết về Vu Lan - 2011

Thông Bạch Vu Lan P.L. 2555

Sa Môn Thích Thắng Hoan

Nguồn: Sa Môn Thích Thắng Hoan

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại Đức Tăng Ni,
Kính thưa quý thiện nam tín nữ gần xa,
Nói đến lễ Vu Lan là nói đến Hiếu hạnh; nói đến Hiếu hạnh, chúng ta nghĩ ngay đến ân nghĩa Cha Mẹ. Không người con nào trên đời mà không được sinh ra bởi cha mẹ. Bởi vậy, từ ngàn xưa đến nay, từ đông sang tây, bất luận ở nền văn hóa nào, quốc gia nào, dân tộc nào, con người đều thương yêu, tôn quí và báo ân cha mẹ. Thương yêu cha mẹ là tình cảm tự nhiên, còn sự tôn quí và báo ân thì cũng tùy theo hoàn cảnh và nền văn hóa mỗi nơi mà có sự ứng dụng đậm hay nhạt; có khi phải có sự kêu gọi, nhắc nhở. Nhưng tựu trung, con cái lúc nào cũng cần ý thức về nguồn cội của mình.
Cha mẹ chính là nguồn cội của con, của từng cá thể con người, và là nền tảng của gia đình. Gia đình là thành tố căn bản của xã hội. Những xã hội nhỏ là thành tố căn bản của quốc gia, và rộng hơn, là căn bản của nhân loại, của thế giới.
Như vậy, nhìn sâu vào căn bản này mà nói, Hiếu hạnh trên phương diện tình cảm là lòng thương yêu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, và trên bình diện xã hội thì chính là ý thức về nhân quả và tôn ty trật tự.
Người con Phật thực hành hiếu hạnh thì ngoài lòng thương yêu cha mẹ như là tình cảm tự nhiên, còn phải có ý thức về nhân quả và tôn ty trật tự. Có nghĩa là phải biết nguồn gốc từ đâu mình được sinh dưỡng và trưởng thành. Những câu ca dao mộc mạc của dân tộc đã nhắc nhở về ý thức nhân quả này: “Uống nước nhớ nguồn,” hoặc “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,” v.v... Chữ “nhớ” trong các câu ấy bao hàm việc tri ân và báo đền ân đức, công lao của cha mẹ. Nói rộng ra, khi người con báo hiếu cha mẹ thì cũng đồng thời nhớ rằng nguồn cội của cha mẹ là ông bà, tổ tiên; và khi xã hội đón nhận một công dân tốt, một thành tố tốt góp phần hữu hiệu cho việc xây dựng và phát triển cộng đồng, thì xã hội cũng phải nhớ đến nguồn cội từ đâu mà công dân này được sinh dưỡng. Đây là tương quan nhân quả giữa cá nhân, gia đình và xã hội.
Tương quan này cho thấy, quốc gia loạn lạc, thế giới bất an một phần là do con người vong ân, không nhớ về nguồn cội, làm đảo lộn tôn ty, và không áp dụng nhân quả đúng mức.
Nhân mùa Vu Lan về, trong niềm hiếu cảm và nhớ ân cha mẹ, chúng tôi xin nguyện cầu tất cả những người con trên thế giới đều siêng năng thực hành hiếu hạnh trong cuộc sống hàng ngày, không những để chuyển hóa tự thân và gia đình, mà còn là đóng góp cho việc ổn định xã hội, điều chỉnh những rối loạn bất toàn của quốc gia và nhân loại.
Chúng tôi cũng không quên hướng về quê hương Việt Nam, nguyện cầu những người cầm quyền ý thức về nhân quả, thực thi tự do dân chủ để nhân dân được an vui no ấm, đoàn kết một lòng cùng nhau bảo vệ sự vẹn toàn của đất tổ do công lao dựng nước, giữ nước của tiền nhân để lại.
Một đất nước an vui, một thế giới hòa bình, đó là ước nguyện chung của tất cả chúng ta cúng dường Mùa Vu Lan năm nay.
Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát tác đại chứng minh.
California, Phật Lịch 2555, ngày 10 tháng 8 năm 2011
T.M. Hội Đồng Giáo Phẩm
Chánh Văn Phòng,
(ấn ký)
Sa Môn Thích Thắng Hoan



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9545)
Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân thế vừa bất hủ vừa rung động thức tỉnh. Thế mới biết, giấy mực trần gian chẳng viết lên nỗi hai chữ “Mẹ ơi” cho trọn vẹn.
10/04/2013(Xem: 7732)
Giáo pháp của đạo Phật sâu thẳm được ví như đại dương mênh mông. Cửa vào đạo có muôn ngàn lối, hành giả khi bước vào nếu không trang bị đức tin vững vàng chắc sẽ choáng ngợp bởi sự uyên áo, sâu kín và pháp mầu vi diệu. Nếu thế thì con đường vào đạo của chúng ta thì sao, những người đầy nghiệp lực và hệ lụy của tham ái?
10/04/2013(Xem: 7660)
Với cái nhìn tuệ giác, Đức Phật quán chiếu trong vòng nghiệp duyên của chúng sanh, Ngài đã thấy được không có một chúng sanh nào tồn tại độc lập, mà ngược lại lưu chuyển trong vòng tương duyên với nhau. Tất cả vì vô minh, mà chúng sanh không thấy được Ngài. Trong kinh Báo Phụ Mẫu Ân diễn tả, có lần Đức Phật đi trên đường và thấy bên lề đường một đống xương khô, Ngài đã lễ lạy đống xương ấy.
10/04/2013(Xem: 7428)
Là Phật tử, mỗi người chúng ta luôn mang tâm nguyện tiến tu trên con đường giải thoát và giác ngộ, việc trước nhất thể hiện ý nghĩa đó là cần phải học Phật. Có học Phật cặn kẽ, rõ ràng và căn bản, chúng ta mới có cơ hội để tiếp nhận ánh sáng của đức Phật tỏa chiếu muôn nơi mà không e sợ đi lạc đường, lầm lối, dẫn vào tà đạo, và mới có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống cho chính mình và cho tha nhân.
10/04/2013(Xem: 6675)
Truyền thống giáo dục của Phật giáo có ba hình thức căn bản, gồm: khẩu giáo, thân giáo và ý giáo. Tùy theo căn cơ của người đệ tử mà các bậc thầy có thể sử dụng nhiều phương thức hướng dẫn khác nhau, nhưng thân giáo vẫn là quan trọng hơn cả cho thầy lẫn trò. Trở về khoảng thời gian Đức Phật còn tại thế, sự thuyết giảng của Ngài chưa bao giờ có hình thức giảng dạy như hình thức viết lách như chúng ta hiện nay.
10/04/2013(Xem: 7822)
Ánh sáng giác ngộ được hiểu như là một sự dập tắt vô minh, vọng tưởng điên đảo trong tâm trí của con người, là sự biết rõ sự thật về nguyên nhân và kết quả, nhận thức và hành động, con người và môi trường xung quanh. Giác ngộ là sự hiểu biết chân chánh, thấy rõ bản chất như thật của sự vật, vạn pháp. Giác ngộ còn có nghĩa là đoạn tận khổ đau, dứt trừ những tập khí phiền não bao trùm đời sống của con người trong nhiều kiếp sống, là sự thoát ly những con đường dẫn chúng sanh lên xuống trong sáu nẻo luân hồi trong vô minh bừng cháy.
10/04/2013(Xem: 7652)
Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộng chung cho Ngũ thừa Phật giáo. Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết bàn. Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo cho năm bạn đồng tu là nhhóm Kiều Trần Như.
10/04/2013(Xem: 6662)
Chúng ta thấy rất rõ, từ cái nhìn của một người dù không phải là Phật tử , khi họ thấy chiếc y màu vàng đắp trên người của các vị Tăng Phật giáo, họ vẫn dễ dàng nhận biết được đó là tu sỹ Phật giáo, một cái nhìn quán tính, đã ăn sâu trong ký ức của mọi người. Đó là hình ảnh hiện thân của Đức Phật, và ngày này vẫn được tiếp nối trong Phật giáo. Ít nhất, hình bóng này, người bình thường cũng dễ dàng nhận biết và phân biệt được. Như Phật tử chúng ta có dịp thấy chư Tăng Nam tông ở các nước theo truyền thống Nam tông như Thái lan, Tích Lan, Miến điện, Lào và Campuchia v.v... và một bộ phận nhỏ ở Việt nam.
10/04/2013(Xem: 7379)
Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẵn là kỳ tài ở phương Tây.
10/04/2013(Xem: 10204)
Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: "Tín là gốc của Đạo, là mẹ đẻ của mọi thứ công đức, nuôi lớn hết thảy gốc của Thiện". Đối với tôn giáo nói chung, đức tin phần lớn là bước đầu tiên để con người phát sinh lòng mến yêu đạo. Trong đạo Phật, tín là một trong những điều kiện căn bản để thành tựu các công đức lành (Tín- Hạnh- nguyện). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói: Tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta.