Nước Mắt Mẹ Hiền (thơ)

06/08/201614:38(Xem: 19929)
Nước Mắt Mẹ Hiền (thơ)

NƯỚC MẮT

MẸ HIỀN


nuoc-mac-me-hien

Thuở xưa có một nhà buôn

Nghe lời biển gọi, căng buồm ra khơi

Nổi trôi buôn bán khắp nơi

Ghé bờ xa lạ, sống đời lênh đênh.

Hơn mười năm thoáng trôi nhanh

Nhà buôn giàu có, trở thành phú ông

Cửa nhà to đẹp vô cùng

Cạnh ngay bãi biển chập chùng sóng vang.

Vợ nhà buôn rất đảm đang

Nhưng trên nét mặt luôn mang vẻ buồn

Âu lo theo những chuyến buôn

Theo cơn bão tố dập dồn hiểm nguy

Chồng đi có mệnh hệ chi

Con thơ, vợ dại dễ gì sống yên,

Con trai lên sáu, lành hiền

Mẹ nhìn khuây khỏa nỗi niềm lo âu.

Một đêm thao thức canh thâu

Trời đông lạnh lẽo, mưa sầu tuôn rơi

Chồng đi buôn đã lâu rồi

Phương xa nhắn tiếng ngày mai trở về.

Vợ đang lo sợ tái tê

Chợt nghe biển động, bốn bề cuồng quay

Gió gầm vang, sóng dâng đầy

Thâu đêm, suốt sáng. Qua ngày hôm sau

Đoàn thuyền buôn chẳng thấy đâu

Mọi người ra bãi lo âu ngóng chờ

Mãi khi gần tối mịt mờ

Một thuyền sống sót ghé bờ mà thôi

Các tàu, thuyền khác đắm rồi

Vợ nhà buôn chợt rụng rời đớn đau

Chồng mình vùi xác biển sâu

Than ôi đất thảm, trời sầu là đây!

Tang thương ngất lịm thân gầy,

Còn bao hy vọng trút đầy vào con.

*

Thời gian như sóng dập dồn

Con nay khỏe mạnh, lớn khôn nên người

Chàng luôn nhìn biển xa vời

Như thầm mơ ước cuộc đời phiêu lưu.

Một hôm chàng hỏi mẹ yêu:

"Cha con thời trước đã theo nghề gì?"

Mẹ chàng lo sợ, giấu che:

"Chỉ buôn trong nước, không hề đi xa!"

Chàng bèn theo gót giống cha

Đi buôn quanh quẩn gần nhà mà thôi,

Tiền vàng được bốn đồng lời

Mang về biếu mẹ giúp người khó khăn.

Một hôm thiên hạ nói rằng:

"Cha chàng từng có cửa hàng dầu thơm!"

Chàng bèn suy tính thiệt hơn

Đổi nghề, mở tiệm dầu thơm trong vùng

Lần này lời những tám đồng

Chàng đưa nhờ mẹ cúng trong các chùa.

Có người lại nói: "Ngày xưa

Cha chàng chuyên bán ngọc ngà, nữ trang!"

Chuyển qua nghề mới dễ dàng

Chàng lời mười sáu đồng vàng ngay thôi!

Chẳng cần buôn bán xa xôi

Chuyến sau lời được ba mươi hai đồng,

Mẹ mang giúp kẻ khốn cùng,

Và làm công đức khắp trong chùa chiền.

*

Cuối cùng có kẻ nói thêm:

"Bán buôn đường biển cũng nên theo nghề

Noi gương cha thuở xưa kia!"

Lời gây kích thích! Chàng nghe bồi hồi!

Vẳng như tiếng gọi biển khơi

Trùng dương thách đố chí người thanh niên.

Bán vàng, gom vốn, mua thuyền

Chuyến này lòng quyết buôn miền xa xôi,

Chàng về tìm mẹ trình lời

Mẹ nghe sửng sốt, lệ rơi hãi hùng!

Mẹ ngăn: "Nguy hiểm vô cùng

Cha con đi biển đã từng vùi thây

Khổ đau lòng mẹ còn đầy

Nỡ nào bỏ mẹ lất lây một mình!

Con đi trời biển lênh đênh

Mẹ buồn khô héo chắc đành chết thôi!"

Thanh niên chẳng chịu nghe lời

Quyết tâm! Cãi Mẹ!Ra khơi! Căng buồm!

Rủ thêm thuyền bạn đi buôn

Cùng nhau gom lại một đoàn thật đông.

Mẹ nhìn cảnh tượng não lòng:

"Trước cha đã vậy! Giờ con khác nào!"

Mẹ lăn xuống đất thảm sao

Ôm chân con lại, khóc gào cản ngăn,

Thanh niên thoáng chút băn khoăn

Thế rồi cương quyết rút chân ra liền

Bước qua đầu của mẹ hiền

Không quay nhìn lại. Xuống thuyền ra đi.

Mẹ ngồi dậy, dẹp sầu bi

Sợ con quả báo nên chi nguyện cầu:

"Cầu con may mắn dài lâu

Tai qua, nạn khỏi, trước sau an bình,

Mong con vẫn hái quả lành

Dù ngang đầu mẹ nỡ đành bước qua!"

Đoàn thuyền vượt sóng ra xa

Bình an vô sự trong ba ngày đầu,

Vài ngày sau giữa biển sâu

Gặp cơn bão lớn thuyền, tàu nát tan,

Thanh niên may mắn vô vàn

Đeo trên tấm ván trôi ngang xác người

Dạt vào bến lạ xa vời

Một mình lê bước tìm nơi an lành.

*

Mấy ngày vất vả trôi nhanh

Tới thành phố nọ. Vây quanh đón chào

Bốn nàng tiên đẹp xiết bao

Mời chàng ở lại vườn đào chung vui

Hưởng nhiều lạc thú trên đời

Mỗi tiên trang điểm đeo nơi ngực nàng

Một đồng tiền lấp lánh vàng

Giống tiền chàng biếu mẹ chàng trước đây.

Ít ngày hưởng lộc vui vầy

Chàng rời tiên nữ nơi này. Rong chơi!

Ghé vào thành phố thứ hai.

Tám tiên chào đón lả lơi, dịu dàng.

Điểm trang trên ngực tám nàng

Tám đồng tiền giống tiền vàng ngày xưa.

Hưởng vui, hưởng lộc say sưa

Rồi chàng lê gót giang hồ đi xa.

Ghé vào thành phố thứ ba

Bao tiên đẹp đẽ ùa ra đón mời

Mười sáu nàng. Đẹp tuyệt vời.

Thân người quyến rũ, ngực người điểm trang

Đủ mười sáu đồng tiền vàng

Hết lòng cung phụng cho chàng sớm trưa.

Lãng du quen thói đẩy đưa

Chàng vào thành phố thứ tư đông người

Một bầy tiên nữ xinh tươi

Xiêm y lộng lẫy, ba mươi hai nàng

Ba mươi hai đồng tiền vàng

Tiên đeo trước ngực, nhịp nhàng múa ca

Đón chàng trong cánh tay ngà

Linh đình yến tiệc, nguy nga cung đình

Đồng vàng phô sắc lung linh

Khiến chàng nhớ lại chuyện mình xưa kia

Tiền lời đưa mẹ cúng đi

Giờ đây phước đức hưởng về đẹp thay!

Chỉ gần tiên được ít ngày

Rồi chàng lại muốn chia tay các nàng

Dù tiên hết sức khuyên can

Vẳng như có tiếng gọi chàng thiết tha!

*

Chuyến này đi thật là xa

Tới thành phố nọ mở ra đón chào

Bước qua cửa sắt chàng vào

Cửa liền đóng lại, vách cao bốn bề,

Dấn thêm một quãng đường đi

Chợt nhìn cảnh tượng gớm ghê rùng mình,

Một người đang chịu cực hình

Trên đầu phải đội một vành sắt nung

Sắt đang cháy đỏ phừng phừng

Khiến bao máu mủ không ngừng tuôn rơi.

Thương tâm chàng hỏi đôi lời

Nạn nhân kể lể: "Luật trời tránh đâu!

Ta từng làm mẹ khổ đau

Giờ đây quả báo trước sau đến liền

Chịu hình phạt khổ triền miên

Chờ người bất hiếu thay phiên gánh giùm!"

Chàng đang suy nghĩ mung lung

Chợt đâu vành lửa bập bùng bay qua

Chụp lên đầu, nóng cháy da

Máu tuôn, khói bốc thật là thảm thương.

Người kia trở lại bình thường

Tai qua, nạn khỏi, vết thương đã lành,

Nhắn chàng: "Bạn chịu cực hình

Đến khi có kẻ thay mình ghé đây!".

Chao ơi! Đau đớn dâng đầy

Da này lửa cháy! Thịt này sắt nung!

Tuy chàng khổ sở vô cùng

Nhưng lòng tự nghĩ: "Ta đừng trông mong

Cực hình cứ mãi xoay vòng

Phải nên chấm dứt ngay trong kiếp này,

Đừng ai chịu cảnh đọa đầy,

Đừng ai làm mẹ hao gầy khổ đau!"

Chàng bèn khe khẽ nguyện cầu:

"Tôi xin phát nguyện trước sau một lời

Đội vành này mãi trên đời

Cực hình gánh chịu cho người trần gian!".

*

Tình thương nở đẹp vô vàn

Trong lời phát nguyện chứa chan tâm thành

Khiến chàng hưởng phước thật nhanh

Tội tình giải thoát, cực hình tiêu tan,

Vành nung kia loé ánh vàng

Đột nhiên rời khỏi đầu chàng bay cao

Chàng lành lặn như thuở nào

Quay về cuộc sống với bao an lành.

Mẹ như hiện giữa mây xanh

Dịu dàng vẫy gọi con nhanh trở về.

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

 

(thi hóa phỏng theo Truyện Cổ Phật Giáo)

)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/08/2011(Xem: 7152)
LTS: Thời gian trước, một số vị phật tử lớn tuổi, am hiểu cổ học, đưa ra ý kiến nói rằng, người xuất gia không hoặc khó làm đầy đủ câu hiếu để đối với song đường (bố mẹ). Vậy điều đó đúng không? Nếu đúng, thì hàng đệ tử xuất gia của đức Phật có đủ tư cách làm người hướng đạo cho cư sỹ tại gia cũng như mọi giới chăng? Nếu nhận thức trên của các phật tử là chưa thấu đáo, nguyên nhân do đâu?
11/08/2011(Xem: 7451)
Vu lan, tiếng Phạn gọi là Ullambana, còn được biết đến như là ngày lễ “Xá tội vong nhân” hay là ngày “Báo hiếu”, là một trong những lễ hội Phật giáo quan trọng của tín đồ theo đạo Phật ở Á châu. Theo truyền thống Phật giáo Đại thừa, lễ Vu lan được tổ chức vào ngày rằm tháng Bảy âm lịch. Ngày lễ Vu lan bắt nguồn từ sự tích ngài Mục Kiền Liên, một trong mười vị đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca, nhờ vào phước đức cúng dường phẩm vật lên chư Tăng trong ngày Tự tứ và sức chú nguyện của Tam bảo mà mẹ của ngài thoát được kiếp khổ ngạ quỷ, sinh về thiên giới.
11/08/2011(Xem: 6479)
T rước 1975, nơi thị xã Nguyên ở, hằng năm cứ vào đầu tháng 7 âm lịch, trên các góc đường của ngã tư lại thấy xuất hiện các anh chị trong Gia Đình Phật Tử làm công tác cài hoa lên áo cho dân phố, nhân mùa Vu Lan về.
11/08/2011(Xem: 10707)
Mùa Vu lan lại trở về, gợi nhắc chúng ta nhớ đến tình thương vô bờ bến của cha mẹ đã dành cho mình. Và đối với người Việt Nam, hiếu thảo là truyền thống quý báu được đặt lên hàng đầu. Tất cả chúng ta đều nhớ như in bài học vỡ lòng đã được dạy dỗ từ tấm bé: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
10/08/2011(Xem: 12982)
Hiếu thảo với cha mẹ là một đức tính tốt đẹp được mọi người ca tụng, đức tính ấy được coi như một nền tảng cho mọi đức hạnh, là nhân tố quan trọng để xây dựng đời sống hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội. Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo là con đường giải thoát của chánh pháp, là con đường của người Phật tử. Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể gọi là một người Phật tử chân chính được. Bởi vì người Phật tử thì phải thực hành các thiện pháp mà trong kinh "Nhẫn nhục" nói rằng: "Điều thiện tối cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu". Vì vậy, báo hiếu là bản chất của người Phật tử và đã trở thành truyền thống tốt đẹp của người Phật tử Việt Nam nói riêng, Á Đông nói chung. Quan niệm về hiếu đạo của đạo Phật được thể hiện rõ nét qua hai cuốn kinh phổ biến là Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ, kinh mà không người Phật tử nào không biết, thường được đọc tụng vào dịp tháng bảy, lễ Vu Lan.
10/08/2011(Xem: 8144)
Chứng được sáu phép thần thông, nhớ mẹ Mục Liên Tôn Giả xuống A Tỳ tìm cứu mẫu thân. Phật dạy nương oai thần Tự Tứ, thiết trai cúng dường, đảo huyền thọ khổ chúng sanh được siêu thoát. Lại một lần nữa Đại Lễ Vu Lan Báo Hiếu lại trở về với người con Phật trên khắp năm châu bốn bể, tâm hiếu nguyện cầu lan tỏa bao trùm cả đại địa thời không.
09/08/2011(Xem: 8512)
Rằm tháng Bảy theo tục lệ nhân gian Việt Nam gọi là ngày xá tội vong nhân. Ngày rằm tháng Bảy có nhiều ý nghĩa: Thứ nhất, ngày Phật hoan hỷ. Ngày rằm tháng bảy gọi là ngày đức Phật hoan hỷ, bởi lẽ trong thất chúng đệ tử của Phật, chúng Tỷ-kheo là chúng đệ tử gần gũi nhất, chúng thừa đương Phật pháp để truyền bá giáo hóa cho chúng sinh, chúng mang hình dáng của Phật làm gương mẫu ở thế gian, chúng mà trong ba tháng an cư kiết hạ đã viên măn và kết thúc vào ngày rằm tháng bảy âm lịch. Thông thường, khi chư Tăng thọ giới pháp xong là tu niệm
09/08/2011(Xem: 12543)
Về phương diện đền ơn cha mẹ, Đức Phật có dạy: "Dù là tại gia hay xuất gia, dù là Thanh Văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ. Vì tâm hiếu là tâm Phật".
09/08/2011(Xem: 10837)
Tôn giả Xá Lợi Phất xuất thân từ giai cấp Bà la môn, nổi tiếng thông tuệ từ khi còn thơ ấu. Ngài là niềm tự hào, là hy vọng của gia đình, dòng tộc và nhất là mẹ ngài, bà Xá Lợi...
09/08/2011(Xem: 14313)
“Ầu ơ…….. Ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi, Khó đi Mẹ dắt con đi Con đi trường học, Mẹ đi trường đời” Đó là lời hát ru con mà tôi thường hò để dỗ con vào giấc ngủ trong những ngày tháng khi chúng còn trẻ thơ và rồi ngày mỗi ngày lời ru ấy thấm dần, thấm dần đến tận tâm can của tôi! Tôi thật sự đã ngỡ ngàng và bàng hoàng khi phát hiện ra sự khác biệt qúa chênh lệch giữa “Trường học” và “Trường đời”. Có lẽ chỉ những người có thiên chức làm mẹ mới hiểu được rạch ròi về vạn lần đắng cay của “trường đời”.