Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chữ Hiếu trong truyện Kiều

03/08/201310:10(Xem: 10073)
Chữ Hiếu trong truyện Kiều
hoa_hong (8)
Chữ Hiếu trong truyện Kiều
(Thúy Kiều bán mình chuộc cha)


*Thi hào Nguyễn Du nổi tiếng với truyện Kiều, rất phổ biến trong nhân gian, mọi tầng lớp bình dân cho đến những nhà bác học đều yêu mến, một số thuộc nằm lòng cả tác phẩm này (3254 câu thơ lục bát), chương trình giáo dục của học sinh trung học cũng có tuyện Kiều. Cụ Nguyễn Du đã áp dụng triết lý của tam giáo (Phật-Lão-Khổng giáo) để diễn tả những diễn biến của cuộc đời, rất nhiều hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống đều xảy ra trong truyện Kiều, vậy cho nên hàng năm người có tục lệ bói Kiều, để xem năm mới đời mình sẽ như thế nào ứng theo sự việc xảy ra với những nhân vật trong truyện, nhất là tùy theo hoàn cảnh của nàng Kiều là nhân vật chính của cốt truyện.

- Hai chị em Thúy Vân & Thúy Kiều:

** Mở đầu truyện Kim Vân Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du dùng thuyết Tài Mệnh tương đố, cho rằng số mệnh con người đèu do trời sắp đặt, người nào càng có nhiều tài sắc thì số phận càng gặp nhiều rủi ro, ít được may mắn hạnh phúc, đó là luật cân bằng, trời chẳng thiên vị ai…

..Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

TÀi sắc hai chị em Kiều:

Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một, hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tư trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân.

Kiều bán mình chuộc cha

Cuộc đời thật là vô thường, gia đình Thúy Kiều, gồm có cha mẹ hai em trai là Vương Quan và em gái là Thúy Vân đang sống êm đềm hạnh phúc, vậy mà bỗng nhiên tai họa đến bất ngờ, bọn tham quan ô lại nghe lời vu cáo dối trá, cho quân lính đến cướp bóc, tra khảo, đánh đập tàn nhẫn ông Vương Ngoại cha Thúy Kiều và Vương Quan là em trai :

Hàn huyên chưa kịp giãi dề,
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.
Người nách thước, kẻ tay đao;
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Già giang một lão một trai,
580.. Một dây vô lại buộc hai thâm tình.
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,
Rụng rời khung dệt, tan tành gói may.
Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.
Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền...

- Trước cảnh đau thương tang tóc như vậy, Muốn cứu cha và em khỏi cảnhngục tù đau khổ, nàng Kiều đành phải hy sinh mối tình đầu vừa mới hẹn ước thủy chung với chàng thư sinh Kim Trọng, Kiều quyết định bán mình chuộc cha

Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn ?
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
605.. Quyết tình nàng mới hạ tình:
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha !

. Thương tình con trẻ thơ ngây,
Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ!
Đau lòng tử biệt sinh ly,
Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên !
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.

-Thà rằng liều một thân con,
Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.
Phận sao đành vậy cũng vầy,
Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh.

- Sau khi đã bị Tú Bà lừa vào chốn lầu xanh, Thúy Kiều vẫn luôn tưởng nhớ đến công ơn cha mẹ, lo lắng cha mẹ về già không ai chăm sóc ssớm hôm.
* Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà .
. Dặm ngàn, nước thẳm, non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!
Sân hòe đôi chút thơ ngây
Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình?

* Tưởng rằng được Thúc Sinh cưú ra khỏi chốn lầu xanh, Kiều cam phận làm vợ lẻ, nhưng lại bị Hoạn Thư vợ Thúc Sinh hành hạ, bắt làm con hầu một thời gian, sau đó theo ý nguyện của Kiều muốn xuất gia tu hành nên được cho vào ở Quan Âm Các trong vườn của Hoạn Thư:
**. Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Không.
Thôi thì thôi cũng chiều lòng,
Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra.
Sẵn Quan âm các vườn ta,
Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa.
Có cổ thụ, có sơn hồ,
Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh.
Tàng tàng trời mới bình minh,
Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường.
Đưa nàng đến trước Phật đường,
Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia.
Áo xanh đổi lấy cà sa,
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.
Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,
Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà.
. Nàng từ lánh gót vườn hoa,
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.
Nhân duyên đâu lại còn mong,
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi.
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
. Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
Cho hay giọt nước cành dương,
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.

- Nhưng ở Quan Âm các cũng không yên, bị Hoạn Thư bắt gặp Thúc Sinh đến thăm cùng nhau than thở đau buồn, lo sợ Hoạn Thư sẽ trả thù vì ghen tương và làm hại, nên Kiều phải bỏ trốn, đến nương nhờ Chiêu Ẩn Am :
**Canh khuya thân gái dặm trường,
Phần e đường xá, phần thương dãi dầu!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà!
Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành Chiêu Ẩn am ba chữ bài.
Xăm xăm gõ mái cửa ngoài,
Trụ trì nghe tiếng, rước mời vào trong.
Thấy màu ăn mặc nâu sồng,
Giác duyên sư trưởng lành lòng liền thương.

Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.
Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.
Sớm khuya lá bối phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.

*** Hai lần vào ở trong chùa, nhưng cũng chưa hết nợ, Kiều lại mắc vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh đưa vào lầu xanh, nơi đây Kiều gặp Từ Hải là đấng anh hùng, cứu ra khỏi lầu xanh trở thành mệnh phụ giàu sang quyền quý. Kiều có dịp trả thù những kẻ ác độc xưa kia. Nhưng vì nhẹ dạ tin lời Hồ tôn Hiến một viên quan của triều đình, Kiều khuyên Từ Hải đầu hang, để mình có cơ hội về lại quê hương, gặp lại cha mẹ, chị em, và cũng để chấm dứt cuộc chiến tranh chết choc nhiều sinh mạng…

Ban đầu Từ HẢi không chịu đầu hang, nhưng bởi nghe lời Kiều nhỏ to khuyên nhủ mãi nên đành chìu theo và bị mắc mưu Hồ tôn Hiến gian xảo đánh lừa Từ HẢi chết ngay giữa chiến truờng

- Chọc trời khuấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Nàng thời thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì!
Công tư vẹn cả hai bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu hai là đắc trung.

- Đương khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh liều giữa trận tiền,
Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng!
Trơ như đá vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời.
... Trong hào ngoài lũy tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: Trí dũng có thừa,
Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày với nhau!
Dòng thu như dội cơn sầu,
Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên.
Lạ thay oan khí tương triền!
Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra.

- THúy Kiều ăn năn hối hận nhưng chuyện đã rồi! Lại bị Hiến ép hầu rượu, đánh đàn… Cuối cùng lại ép gả Kiều cho tên thổ quan địa phương. Quá đau khổ ngay đêm ấy Kiều đã liều mình nhảy xuống song Tiền Đường tự vẫn…

Thân sao thân đến thế này ?
Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi !
Đã không biết sống là vui,
Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương !
Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi !
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong .
Triều đâu nổi tiếng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền đường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây !
**Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông !
Trông vời con nước mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang...

Cuộc đời Thúy Kiều, một kiếp hồng nhan bạc mệnh,

suốt mười lăm năm trời chịu đựng trăm cay ngàn đắng, nghiệp báo kéo lôi, dù có muốn xuất gia vào chùa tu hành cho bớt khổ cũng không xong, cho đến lúc tuyệt vọng đau khổ tận cùng không còn lối thoát phải nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử mới trả hết nợ trần gian.

Thương thay cũng một kiếp người,
. Hại thay mang lấy sắc tài làm chi !
Những là oan khổ lưu ly,
Chờ cho hết kiếp còn gì là thân !
Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi !
***Sư rằng: Phúc họa đạo trời,
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta,
Tu là cõi phúc tình là dây oan.
Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,
2660. Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong,
ở không yên ổn ngồi không vững vàng.
Ma đưa lối quỷ đem đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.

***
& Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,
Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm,
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!
Hại một người cứu muôn người,
Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng?
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi!
Khi nên trời cũng chiều người,
Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.
--Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
Ngư ông kéo lưới vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!
Trên mui lướt mướt áo là,
Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương.
**Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu cứu người là nhân.
Một niềm vì nước vì dân,
Âm công cất một đồng cân đã già!

- Như lời nhận xét của Tam Hợp đạo cô về cuộc đời của Thúy Kiều, theo quan niệm phong tục ngày xưa, Kiều mắc tội đam mê tình ái, vừa mới gặp chàng Kim Trọng ban chiều trong lễ hội Thanh Minh, mà hai bên đã cảm mến đem lòng yêu thương, dám vượt tường qua nhà Kim Trọng tâm tình, hứa hẹn với nhau, kết tóc xe tơ, thề nguyền đủ thứ, trong lúc cha mẹ chưa biết gì về chuyện tình ái của đôi bên, như vậy là hạt giống yêu đương tình ái của Kiều quá nặng nề , vượt qua quyền cha mẹ không hỏi ý kiến về chuyện hôn nhân, mà người xưa xem rất quan trọng. Cho nên sau này có nhiều người phê phán chê trách Kiều về vấn đề này.

- Tuy nhiên xét về lòng hiếu thảo của Kiều, khi gặp gia biến, cha bị tù đày, nàng đã hy sinh mối tình đầu, coi trọng chữ hiếu hơn Tình, nên đã chịu bán mình để chuộc cha. Đây là một điểm tốt đáng trân quý trong đời Kiều.

- Và lại khi khuyên Từ Hải đầu hàng, Kiều cũng cho đất nước hòa bình, tránh tai họa chết choc tang thương cho dân chúng và Kiều hy vọng có ngày đoàn tụ gia đình gặp lại cha mẹ anh em và Kim Trọng.

Cũng nhờ tấm long nhân đạo và Hiếu thảo mà sau cùng Kiều cũng được sư cô Giác Duyên cứu khỏi chết đuối và đem về chùa tu hành, đến đây mới hết nợ đoạn trường.


**. Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.

Đã đem mình bỏ am mây,
Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừạ
Mùi thiền đã bén muối dưa,
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.

Sau mười lăm năm lưu lạc giang hồ, Kiều đã thật sự thức tỉnh thấy rõ đời là biển khổ, tình là giây oan trái ràng buộc đem nhau vào chốn đoạn trường, cho nên khi tái ngộ với gia đình và Kim Trọng, Kiều quyết chí tu hành suốt đời, cho nên nàng đổi tình yêu sang tình bạn mà thôi.
. Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!
Dở dang nào có hay gì,
Đã tu tu trót quá thì thì thôi!

- Từ rày khép cửa phòng thu,
Chẳng tu thì cũng như tu mới là !
Chàng dù nghĩ đến tình xa,
Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ.

- Đọc qua và suy ngẫm về truyện Kiều, chúng ta nhận thấy ảnh hưởng của đạo Phật, nói về nghiệp báo và nhân quả.

Dù có thong minh tài ba bao nhiêu cũng không qua được luật nhân quả, những nghiệp báo đã tạo từ kiếp trước thế nào thì kiếp này phải trả đủ, muốn an vui hạnh phúc thì phải có thiện tâm, có lòng hiếu thảo, biết yêu thương đồng loại, tôn trọng nếp sống đạo đức nhân từ bác ái.

- Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Seattle, Vu LAn 2557. NK.

- " Trần gian là quán trọ
Du khách ghé qua chơi,
Buồn vui cũng tạm thời
Chung cuộc phải đi thôi.
Mong manh thay một kiếp người
Chỉ trong hơi thở vui chơi nổi gì
Thời gian thắm thoắt qua đi
Sống say chết ngủ biết về nơi đâu...
Tham chi bỗng lộc công hầu
Ra đi mang nặng u sầu mà thôi.
AI người tỉnh giấc mộng đời
Tu nhân tích đức lên ngồi tòa sen...
Seattle, 30-07-2013. NK.

TẶNG QUY & DENVER

Hương hoa dâng cúng Phật Đà

Thành tâm cầu nguyện mẹ cha an lành,

Đồng niệm Di Đà hồng danh

Chính đạo tu hành phát nguyện vãng sanh.

Hương Thành tâm nguyện tu hành

Đồng Chính tín niệm hồng danh Di Đà,

Hạnh Minh hiền hậu thật thà

Huệ Thảo sư phụ Thật là giỏi giang.

Cổ Lâm sum họp một đàn

Sớm hôm đèn sách sửa sang trong ngoài,

Tụng kinh lễ Phật hàng ngày

Bếp núc chợ búa trong ngoài lo toan.

Miễn sao có lợi thì làm

Phụng dưỡng sư phụ cúng dường chư tăng.

Nguyện cầu thiền tự Cổ Lâm

Ngày càng phát đạt già lam vững bền…

Seattle, 6-06-2013. NK.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/07/2014(Xem: 9224)
"Cây có cội mới trổ cành xanh lá Nước có nguồn mới tỏa khắp rạch sông" Được làm người công đức của cha ông Nên danh phận cảm nhờ ơn xã hội Chúng ta được thân làm người, là nhờ có tổ tiên, ông bà, cha mẹ và nhiều nhân duyên hội tụ. Chúng ta được khôn lớn nên người là nhờ ở sự trưởng dưỡng, giáo dục của Cha, Mẹ, Thầy, Cô và Xã Hội. Công ơn to lớn ấy, trong kinh Phật đã dạy có Bốn Đại trọng ân: 1/ Ơn Quốc gia, thủy thổ, 2/ ơn Cha, Mẹ, 3/ Ơn Tam bảo, 4/ Ơn Đàn na tín thí (xã hội), trong đó công ơn của cha mẹ là to lớn nhất, sánh bằng non biển, không thể bút mực nào tả xiết. Chỉ có tri niệm và thực hành mới hy vọng có một chút đáp đền. Đức Phật đã dạy rằng: công ơn của cha mẹ bao la như biển cả và cao vòi vọi như trời xanh vô hạn, với sự hy sinh cao đẹp, “bên ước mẹ nằm, bên ráo phần con”, thật là “ Đi khắp thế gian, không ai tốt bằng Mẹ, gánh nặng cuộc đời, không ai khổ bằng Cha”, Thương và lo cho con nên “miễn sao có lợi thì làm, chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm…”.
29/07/2014(Xem: 25280)
Hồng đỏ cài lên đẹp tuyệt vời Phải nên trân trọng nhé người ơi! Những ai còn mẹ còn hồng đỏ Màu đỏ thắm tươi vẻ rạng ngời
24/07/2014(Xem: 4673)
Tối nay ngồi vẽ Mẹ. Một người Mẹ của đồng quê đất Việt. Da mặt Mẹ đã xạm đen vì dãi dầu. Đôi mắt Mẹ đã trĩu xuống vì suy nghĩ, vì chịu đựng, vì lo lắng cho các con. Đôi môi Mẹ đã khô khan nứt nẻ, vì tranh thủ, vì buôn bán, vì cãi cọ, vì van xin, vì cầu nguyện.
24/07/2014(Xem: 4488)
Vu Lan là lễ truyền thống lâu đời có từ thời Đức Phật còn tại thế hơn 2,500 năm trước; đồng thời cũng là lễ tiết quan trọng phổ thông của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa mà tổ tiên chúng ta đã giữ gìn qua nhiều thế hệ. Lễ tiết Vu Lan hay Vu Lan thắng hội gắn liền với lễ giải Hạ - Tự tứ của Tăng đoàn Phật Giáo. Lễ Tự tứ có nghĩa là sau những tháng ngày tịnh tu Giới - Định - Tuệ, ba nghiệp của hành giả sâu lắng thanh tịnh; hai vị Tỳ kheo đối thú nhau chân thành bày tỏ khởi đi từ đạo tình cao quý nhẹ nhàng trong sáu tiếng: thấy tội, nghe tội, nghi tội, những mong đợi vị thầy đối diện chỉ bày cho ta thành tâm sám hối trước hội chúng và Tam Bảo, nguyện cải đổi không tái phạm, nếu xét thấy mình có tội. Thật là thành khẩn, cao đẹp trong hòa hài, từ bi, nhẫn thuận, bình đẳng. Nhẹ nhàng nhưng mang chất liệu tuệ giác tự thân và san sẻ với giác tha của người đối diện kết nên vòng nhân duyên thù thắng hầu tiến đến giác hạnh viên mãn.
24/07/2014(Xem: 4509)
Mỗi mùa Vu Lan đến Biết bao dòng lệ rơi Cho tình vô bờ bến Bày tỏ không nên lời Nghẹn ngào trong nước mắt Tưởng nhớ đến mẹ cha Ân tình cao chất ngất Suốt đời đã bôn ba
19/07/2014(Xem: 5115)
Vu Lan phiên âm từ Phạn ngữ Ullambana, Trung Hoa dịch là “Giải đảo huyền” có nghĩa là cởi mở những cực hình hay giải thoát những khổ đau trong 3 cảnh giới: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phật giáo chủ trương nhân quả theo nhau như hình với bóng, nghĩa là người gây nhân lành ắt sẽ hưởng quả tốt, ngược lại kẻ tham lam, vị kỷ, độc ác... chỉ biết lợi mình, không kể đến hậu quả làm phiền lụy khổ đau cho tha nhân, rộng ra là cả sinh linh vạn loại, đương nhiên sẽ gặp những phiền toái, chịu đựng những trách móc, oán hận của những nạn nhân, hay khi xả bỏ cuộc sống sẽ lãnh sự trừng phạt trong 3 ác đạo mà thế nhân hay tín ngưỡng nào cũng nghĩ bàn để khuyến miễn người đời phải lo tu thân hành thiện, làm đẹp nhân sinh. Mùa Vu Lan báo hiếu phát xuất từ đức Mục Kiền Liên kiếm tìm, thăm viếng rồi giải thoát mẹ ngài khỏi cảnh giới ngạ quỷ, có từ thời đức Phật còn tại thế; văn hóa thế nhân có từ khi loài người hướng về nẻo thiện. Gần chúng ta là văn hóa Á Đông, lấy nhân luân làm căn bản: Hiếu, đễ, tru
18/07/2014(Xem: 5031)
Nhờ năng lực của Tăng đoàn mà mẫu thân của ngài Mục Kiền Liên được thoát khỏi cảnh bi thống nơi chốn địa ngục. Tăng đoàn thanh tịnh hòa hợp là năng lực vô biên hóa giải được khổ đau từ cõi vô hình cho đến thế giới con người. Trọng tâm của Giáo hội chúng ta đặt ở sự hiệp lực này, trong ấy những Phật sự hằng năm của Giáo hội, tất cả tăng ni và thiện tín cùng nhau chung lo. Bốn phật sự thường xuyên của Giáo hội mà mỗi thành viên đều chung sức chung lòng đó là: Phật đản, An Cư, Khóa Tu Học Bắc Mỹ và Ngày Về Nguồn - Hiệp Kỵ.
15/05/2014(Xem: 7192)
Hôm nay ngày giỗ của Ba tôi, tự dưng lòng tôi thèm viết một chuyện gì đó về Ba tôi…như nhà văn Võ Hồng thường khuyên mọi người nên viết lại những kỷ niệm sinh hoạt của cha, của mẹ mình, những kỷ niệm mà mình nhớ hơn hết, đáng nhớ hơn hết…để nhân ngày k?giỗ của cha mẹ, tập trung về, cùng đọc, cùng nghe, cùng xúc động, hồi tưởng công ơn. Con cháu sẽ có dịp sống lại không khí đại gia đình, con nhớ thương cha mẹ, cháu gần gủi, quý trọng ông bà!
16/10/2013(Xem: 19643)
Có lẽ, trong thời gian qua, trong cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ dù chưa dư thừa với đa số, nên con người cần một cái gì đó về đạo đức tâm linh, muốn trở về nguồn cội, nên tưởng nhớ nhiều về tổ tiên ông bà mà gần gũi nhất là cha mẹ, anh em huyết thống. Tập sách nhỏ này, tôi viết để tưởng nhớ mẹ tôi, nhưng may mắn trong cái riêng ấy lại hòa nhập được với cái chung của những tấm lòng hiếu kính. Do đó, rất nhiều người tâm đắc muốn có, muốn đọc, có người vừa gọi điện vừa khóc, tôi cũng chạnh lòng nhớ mẹ mà khóc theo, đa số qua điện đàm yêu cầu tái bản, vâng lời, tôi cũng cố gắng tái bản 2 lần rồi.
16/10/2013(Xem: 15476)
Kính lạy vong linh cha, Khác biệt với muôn ngàn trường hợp khi cầm viết đặt lên giấy. Con ghi lại vài nét – chỉ vài nét thôi về đời sống của cha – một người cha có lắm điều độc đáo, không những chỉ trong hàng con cháu mà bất cứ ai cũng công nhận là hãn hữu và cần rút tỉa những điểm son để soi sáng vào nếp sống của mình.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]