4. Di sản tinh thần

03/08/201114:55(Xem: 5587)
4. Di sản tinh thần

VU LAN VÀ TUỔI TRẺ
Thông Huệ
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo 2008

DI SẢN TINH THẦN

Có hai di sản trên đời: Di sản vật chất và di sản tinh thần. Di sản vật chất nuôi dưỡng thân tướng tứ đại, bảo dưỡng sống còn trong một thời gian; di sản tinh thần là món ăn nuôi dưỡng phần tâm linh ngày thêm lành mạnh, trong sáng.

Một chúng sanh hữu tình phải hội đủ hai phần: Phần vật chất gồm tứ đại giả hợp thành thân; phần tinh thần gồm các hoạt động tâm lý giả hợp thành tâm. Vì giả hợp nên thân chỉ là vọng thân, tâm chỉ là vọng tâm. Cái bệnh thâm căn của chúng sanh là đem cái vọng tâm, đam mê cái vọng thân, làm nô lệ cho vọng cảnh, khởi sinh đủ thứ phiền não, tạo tác đủ thứ nghiệp, thọ khổ đến không cùng.

Người đệ tử Phật sống trong tỉnh thức, xem món ăn tinh thần là tối cần thiết cho sự sinh tồn, bèn soi ánh sáng trở lại quán sát thân, tâm và ngoại cảnh, chuyển hướng đến một đời sống cao thượng, biết tôn thờ những giá trị thiêng liêng, tạo nên phẩm cách cao quý của một con người.

Di sản tinh thần là kết tinh kinh nghiệm tâm linh, trải qua nhiều thế hệ của tổ tiên trao lại. Những giá trị tinh thần là gia tài chung của mỗi người cần giữ gìn và đem trao tặng lại những thế hệ mai sau.

Đời sống hướng thượng được nhiều người ưa chuộng, bởi vì họ ý thức rằng sự hiện hữu của cái “TA” chỉ là sự tồn tại tạm thời trong kiếp luân hồi vô tận. Ai ai trong cuộc đời cũng cất bước phiêu lưu đi tìm hạnh phúc, nhưng mấy ai là người đạt được chân hạnh phúc. Chân hạnh phúc không thể tìm kiếm nơi ngoại vật phù phiếm, mà chỉ có thể tìm kiếm từ bên trong. Tinh thần cũng là chủ của thể xác, đừng để thể xác chi phối đời sống tinh thần cao thượng bên trong.

Thái độ của người Phật tử Việt Nam biết quý chuộng đạo đức, xem nhẹ lợi danh qua hai câu ca dao:

Dầu ai chác lợi mua danh
Miễn ta học được đạo lành thì thôi”.

Người cha người mẹ biết ăn ở hiền lương đạo đức là đã biết tích chứa vốn liếng tinh thần truyền lại cho con cháu mình. Có người suốt đời chỉ lo trau dồi học thức, dành cho bằng được một địa vị, nhưng học thức cho lắm, địa vị cho cao mà không có đạo đức cũng chỉ là người ác.

Đức Khổng Tử thì dạy hàng môn đệ xem trọng đạo lý mà coi thường cái chết:

Sáng nghe hiểu được đạo lý, chiều chết cũng cam lòng”.
(Triêu văn đạo, tịch tử khả hỷ).

Đức Phật nói lên giá trị của nhân sinh là nhận hiểu sâu xa cái lý pháp thường hằng chi phối muôn ngàn hiện tượng sai biệt:

Ai sống một trăm năm
Không thấy Pháp sanh diệt

Không bằng sống một ngày

Thấy được pháp sanh diệt”.

Tâm niệm ngưỡng mộ chánh pháp là động cơ thúc đẩy con người từ hạng phàm phu tiến lên quả vị Hiền Thánh. Vì không hướng thiện, không ngưỡng mộ chánh pháp, không biết tu hành nên rất nhiều chúng sanh bị rơi vào ác đạo. Phật dạy: “Số ít là các loại hữu tình được tái sinh giữa loài người; nhưng nhiều hơn là các loài hữu tình tái sanh ra ngoài loài người. Cũng vậy, số ít là các loài hữu tình ấy được tái sanh ở các Quốc độ trung ương; nhưng nhiều hơn là các loại hữu tình phải tái sanh ở các Quốc độ biên địa, giữa các loài man rợ không biết nhận thức”. (Tăng Chi Bộ Kinh, tập I, trang 45)

Đức Phật tuy đã nhập diệt từ lâu, nhưng Ngài đã để lại kho tàng Pháp Bảo, cứu vớt vô số chúng sanh lặn hụp trong biển khổ trầm luân. Chánh pháp của Phật là những liều thuốc hay, có công năng trị bệnh phiền não cho chúng sanh; là con thuyền đưa người qua bể khổ; là ngọn hải đăng phá tan màn đêm vô minh hắc ám. Người con Phật chân chánh, hãy thu nhận những kiến thức cao đẹp, những giá trị tinh thần lành mạnh để thực hiện sự chuyển hóa bản thân.

Dù xã hội loài người có tiến bộ đến đâu, khoa học có cung ứng đời sống tiện nghi đủ đầy, thì những giá trị tinh thần của sự sống vẫn được người ta tôn thờ. Cái văn minh đáng biểu dương lại không phải là cái văn minh vật chất. Đã đến lúc con người thời đại thấy rằng, văn minh tâm linh và những giá trị tinh thần mới đóng góp đắc lực và tích cực cho con người và xã hội. Thời đại nào cũng vậy, không ai khen những kẻ độc ác xảo trá, không ai chê những người đạo đức nhân từ. Khoa học chỉ có thể giúp ta thỏa mãn vật chất nhất thời, chứ không thể giúp ta được an vui vĩnh cửu. Một khi tự thấy có phiền não khổ đau đang thống trị nơi tâm thức, liệu vật chất có thể đẩy lui phiền não khổ đau chăng? Tiện nghi đời sống chỉ là phương tiện cần thiết ở bên ngoài, Phật pháp mới đích thực ban cho ta lý tưởng đời sống tinh thần bên trong. Tiện nghi vật chất như một ngôi nhà được trang hoàng lộng lẫy sắc màu, đời sống tinh thần như những người sinh hoạt trong ngôi nhà lộng lẫy sắc màu ấy. Thế nên, người có sức tự chủ biết sử dụng những tiện nghi của đời sống bằng thái độ của một người chủ, và dĩ nhiên, không thể có thái độ như một kẻ nô lệ.

Hàng đệ tử Phật cũng chính là những người con tinh thần đem đạo vào đời. Và những di sản tinh thần ngày hôm nay chúng ta thừa hưởng là những tặng phẩm của các bậc tiền bối, chúng ta phải có bổn phận giữ gìn để vun bồi cho cuộc sống ngày thêm tươi đẹp, an vui, đóng góp hữu hiệu vào sự an bình và thịnh vượng của xã hội loài người hôm nay và ngày mai.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6275)
Trong tất cả lễ hội của Phật giáo, chúng ta thấy rằng Vu-Lan Báo Hiếu là một lễ hội được quần chúng biết đến, quan tâm nhiều, dù người đó là Phật tử hay không phải Phật tử. Dân gian quen gọi ngày rằm tháng bảy là ngày lễ Trung Nguyên, ngày “Xá tội vong nhân” qua khẩu truyền.
10/04/2013(Xem: 9358)
Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân thế vừa bất hủ vừa rung động thức tỉnh. Thế mới biết, giấy mực trần gian chẳng viết lên nỗi hai chữ “Mẹ ơi” cho trọn vẹn.
10/04/2013(Xem: 7424)
Giáo pháp của đạo Phật sâu thẳm được ví như đại dương mênh mông. Cửa vào đạo có muôn ngàn lối, hành giả khi bước vào nếu không trang bị đức tin vững vàng chắc sẽ choáng ngợp bởi sự uyên áo, sâu kín và pháp mầu vi diệu. Nếu thế thì con đường vào đạo của chúng ta thì sao, những người đầy nghiệp lực và hệ lụy của tham ái?
10/04/2013(Xem: 7476)
Với cái nhìn tuệ giác, Đức Phật quán chiếu trong vòng nghiệp duyên của chúng sanh, Ngài đã thấy được không có một chúng sanh nào tồn tại độc lập, mà ngược lại lưu chuyển trong vòng tương duyên với nhau. Tất cả vì vô minh, mà chúng sanh không thấy được Ngài. Trong kinh Báo Phụ Mẫu Ân diễn tả, có lần Đức Phật đi trên đường và thấy bên lề đường một đống xương khô, Ngài đã lễ lạy đống xương ấy.
10/04/2013(Xem: 7113)
Là Phật tử, mỗi người chúng ta luôn mang tâm nguyện tiến tu trên con đường giải thoát và giác ngộ, việc trước nhất thể hiện ý nghĩa đó là cần phải học Phật. Có học Phật cặn kẽ, rõ ràng và căn bản, chúng ta mới có cơ hội để tiếp nhận ánh sáng của đức Phật tỏa chiếu muôn nơi mà không e sợ đi lạc đường, lầm lối, dẫn vào tà đạo, và mới có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống cho chính mình và cho tha nhân.
10/04/2013(Xem: 6461)
Truyền thống giáo dục của Phật giáo có ba hình thức căn bản, gồm: khẩu giáo, thân giáo và ý giáo. Tùy theo căn cơ của người đệ tử mà các bậc thầy có thể sử dụng nhiều phương thức hướng dẫn khác nhau, nhưng thân giáo vẫn là quan trọng hơn cả cho thầy lẫn trò. Trở về khoảng thời gian Đức Phật còn tại thế, sự thuyết giảng của Ngài chưa bao giờ có hình thức giảng dạy như hình thức viết lách như chúng ta hiện nay.
10/04/2013(Xem: 7590)
Ánh sáng giác ngộ được hiểu như là một sự dập tắt vô minh, vọng tưởng điên đảo trong tâm trí của con người, là sự biết rõ sự thật về nguyên nhân và kết quả, nhận thức và hành động, con người và môi trường xung quanh. Giác ngộ là sự hiểu biết chân chánh, thấy rõ bản chất như thật của sự vật, vạn pháp. Giác ngộ còn có nghĩa là đoạn tận khổ đau, dứt trừ những tập khí phiền não bao trùm đời sống của con người trong nhiều kiếp sống, là sự thoát ly những con đường dẫn chúng sanh lên xuống trong sáu nẻo luân hồi trong vô minh bừng cháy.
10/04/2013(Xem: 7434)
Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộng chung cho Ngũ thừa Phật giáo. Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết bàn. Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo cho năm bạn đồng tu là nhhóm Kiều Trần Như.
10/04/2013(Xem: 6579)
Chúng ta thấy rất rõ, từ cái nhìn của một người dù không phải là Phật tử , khi họ thấy chiếc y màu vàng đắp trên người của các vị Tăng Phật giáo, họ vẫn dễ dàng nhận biết được đó là tu sỹ Phật giáo, một cái nhìn quán tính, đã ăn sâu trong ký ức của mọi người. Đó là hình ảnh hiện thân của Đức Phật, và ngày này vẫn được tiếp nối trong Phật giáo. Ít nhất, hình bóng này, người bình thường cũng dễ dàng nhận biết và phân biệt được. Như Phật tử chúng ta có dịp thấy chư Tăng Nam tông ở các nước theo truyền thống Nam tông như Thái lan, Tích Lan, Miến điện, Lào và Campuchia v.v... và một bộ phận nhỏ ở Việt nam.
10/04/2013(Xem: 7246)
Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẵn là kỳ tài ở phương Tây.