1. Vu Lan và tuổi trẻ

03/08/201114:55(Xem: 5773)
1. Vu Lan và tuổi trẻ

VU LAN VÀ TUỔI TRẺ
Thông Huệ
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo 2008

Em thân mến!

Hôm nay, mùa Vu Lan báo hiếu lại trở về trên xứ Việt, hòa chung với niềm vui lớn này, xin được san sẻ cùng em đôi điều về đạo hiếu của con người. Có thể em chưa phải là Phật tử, chưa biết gì về Đạo Phật. Nhưng em cũng cần biết một cách khái lược về hiếu đạo, vì điều đó đâu có xa lạ gì với truyền thống đạo đức của người Việt Nam. Vả lại, em cũng cần biết rõ đâu là hiếu, đâu là bất hiếu để có một cái nhìn đúng đắn, chính xác trong cuộc sống hôm nay, một cuộc sống với nhịp độ hối hả, chóng mặt, dễ làm ta đánh mất những giá trị nhân bản muôn đời mà hiếu đạo là nền tảng trong mọi kiếp nhân sinh.

Em sẽ bảo vì sao lại nói đến chữ Hiếu, trong khi vấn đề đã được rất nhiều người nhắc đi nhắc lại, e rằng sẽ trở thành điệp khúc: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” đó thôi. Nhưng em ạ! Có những vấn đề đã trở thành truyền thống, nhắc lại đúng lúc, đúng thời cũng là một cách nói mới nhằm nhắc nhở, động viên, khuyến khích nhau trong cuộc sống rất bận rộn này. Nếu không như vậy thì mọi vấn đề dù có nóng hổi đến đâu cũng sẽ chìm vào quên lãng. Vì thế, tôi không ngại viết ra đôi điều làm phiền em phải đọc.

Em ạ! Một chữ Hiếu mà bao la rộng khắp, nói làm sao hết nghĩa hết tình, chỉ đại khái thôi để cho em có một ý niệm trong lòng. Xin mượn lời tiền nhân đã dạy:

Thờ Cha kính Mẹ hết lòng,
Ấy là chữ Hiếu dạy trong luân thường.

Chữ Để là nghĩa chữ nhường,

Nhường anh nhường chị, lại nhường người trên.

Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

Con em phải giữ lấy nền con em”.

Như vậy em thấy hiếu để là kính trên nhường dưới, một dạ khắc ghi, siêng năng làm bổn phận, đạo lý này rất bình thường nhưng mà cao cả biết bao!

Ca dao Việt Nam có câu :

Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con”.

Thật vậy, có gì quý hơn một người biết kính trọng Ông Bà, Cha Mẹ, luôn luôn hiếu thuận hết mực, từng cử chỉ, lời nói ôn hòa thì mới tạo được niềm tin với mọi người. Nếu một người cư xử tệ bạc với Cha Mẹ, với người trên mà lại cư xử tốt với người ngoài, chắc không có gì lạ, chỉ để cầu danh cầu lợi mà thôi. Một người thật lòng thật dạ biết hổ thẹn sẽ không hành xử như vậy. Điều đó khiến cho em hiểu, hiếu là quan trọng đến mực nào. Bởi thế, đức Phật có dạy :

Hiếu đứng đầu muôn hạnh” (Hiếu vi vạn hạnh chi tiên).

Trong thời đại nguyên tử mọi giá trị tinh thần đều bị đảo lộn, mọi thứ đều được hiện đại hóa, vì thế hiếu hạnh cũng có phần bấp bênh trong lòng những con người bội bạc, quên cội nguồn.

Tuổi trẻ quê tôi bây giờ đã rủ nhau đổ xô về đất thị thành ngày càng nhiều. Các em đã từ giã làng quê ra đi chen chúc trong các xí nghiệp để bảo đảm cuộc sống tiện nghi; trao dồi thêm kiến thức thời đại vì sợ rơi vào lạc hậu. Do vậy, em phải phấn đấu học hỏi, đáp ứng theo nhu cầu xã hội ngày càng cao, và cái cảnh cô đơn tủi phận của những bậc Cha Mẹ xảy ra là điều tất yếu.

Em đi làm việc phương xa mang theo hình ảnh một người tha phương, phiêu lưu trong vòng lẩn quẩn của chén cơm manh áo. Bỗng một hôm nào đó “Giật mình mình lại thương mình xót xa !” thì đã quá muộn màng. Em càng khôn lớn thêm lên thì bậc Cha Mẹ đã sắp thành “người thiên cổ”. Muốn báo hiếu ư? Cũng không còn kịp nữa. Em có quyền sống và làm mọi việc, nhưng luôn nhớ bài học ngàn vàng: “Phàm làm việc gì phải nghĩ đến hậu quả của nó”. Nghĩa là khi em làm điều gì phải xét xem điều ấy là thiện hay ác? Có làm tổn hại ai không? Có làm cho Cha Mẹ vừa lòng hay phải lấy tai tiếng vì mình? Em nên biết, hiếu được xuất phát từ tấm lòng tri ân sâu xa đối với song thân và được biểu hiện nơi hành động thiện lành, không cô phụ công ơn sanh thành dưỡng dục của người. Em cần phải hiểu, thương yêu kính trọng thôi vẫn chưa đủ, mà còn phải trao dồi thêm trí huệ, biết đâu đúng đâu sai, việc gì nên làm không nên làm. Người có tâm hiếu thì không thể mê mờ trong hành vi lời nói. Hiếu không nằm trong một tâm hồn bệnh hoạn, đầy dẫy tham - sân - si. Chính mình đã không biết xử xự tốt đối với hoàn cảnh thì làm sao có thể giúp cho người thân được hạnh phúc. Căn bản đạo đức là hiếu đạo, trợ duyên cho đời sống đạo đức là quy y Tam Bảo, giữ gìn năm giới cấm, thực tập theo nếp sống Bát chánh đạo, nương pháp Phật làm cương lĩnh cho mọi ý nghĩ, lời nói và hành động.

Việc báo hiếu báo ân là điều phải làm, vì là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả nhất của những người con. Và chúng ta đem hiếu hạnh đó dâng lên cúng dường ngôi Tam bảo nhân mùa Vu Lan báo hiếu báo ân năm nay.

Muốn báo ơn Cha Mẹ thì cái tình thật đáng cần hơn cái tiền. Em còn nhớ câu chuyện con trai Lão Hạc của Nam Cao không? Vì muốn thay đổi hoàn cảnh hiện tại nên đã tuyên bố: “Con đi, khi nào có bạc trăm con mới về”, và anh đã ra đi, đi mãi vào lòng đất, làm phân cho gốc cao su, bỏ lại người cha già bơ vơ thật tội nghiệp. Sau đó ông lão đã chết vì cô đơn buồn bã, vì mòn mỏi đợi chờ bằng liều thuốc độc.

Vu Lan là ngày hội tụ những niềm vui trong tâm hồn những người con hiếu hạnh. Đức Mục Kiền Liên chưa bao giờ rời xa chúng ta, cả cuộc đời Ngài vẫn ở trong ta, vẫn chói lòa tấm gương hiếu hạnh một cách hoàn hảo. Nếu em biết sống đời hiếu hạnh thì em cũng chính là hiện thân đức Mục Kiền Liên, em đã sống thật đáng sống. Từ chỗ đứng của mình bằng tất cả tấm lòng thành, em hãy chắp tay hướng về Phật đài và vui mừng vì được báo ân Cha Mẹ, như một nghĩa vụ thiêng liêng, càng thực hiện càng thêm an lạc.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6266)
Trong tất cả lễ hội của Phật giáo, chúng ta thấy rằng Vu-Lan Báo Hiếu là một lễ hội được quần chúng biết đến, quan tâm nhiều, dù người đó là Phật tử hay không phải Phật tử. Dân gian quen gọi ngày rằm tháng bảy là ngày lễ Trung Nguyên, ngày “Xá tội vong nhân” qua khẩu truyền.
10/04/2013(Xem: 9342)
Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân thế vừa bất hủ vừa rung động thức tỉnh. Thế mới biết, giấy mực trần gian chẳng viết lên nỗi hai chữ “Mẹ ơi” cho trọn vẹn.
10/04/2013(Xem: 7420)
Giáo pháp của đạo Phật sâu thẳm được ví như đại dương mênh mông. Cửa vào đạo có muôn ngàn lối, hành giả khi bước vào nếu không trang bị đức tin vững vàng chắc sẽ choáng ngợp bởi sự uyên áo, sâu kín và pháp mầu vi diệu. Nếu thế thì con đường vào đạo của chúng ta thì sao, những người đầy nghiệp lực và hệ lụy của tham ái?
10/04/2013(Xem: 7463)
Với cái nhìn tuệ giác, Đức Phật quán chiếu trong vòng nghiệp duyên của chúng sanh, Ngài đã thấy được không có một chúng sanh nào tồn tại độc lập, mà ngược lại lưu chuyển trong vòng tương duyên với nhau. Tất cả vì vô minh, mà chúng sanh không thấy được Ngài. Trong kinh Báo Phụ Mẫu Ân diễn tả, có lần Đức Phật đi trên đường và thấy bên lề đường một đống xương khô, Ngài đã lễ lạy đống xương ấy.
10/04/2013(Xem: 6900)
Là Phật tử, mỗi người chúng ta luôn mang tâm nguyện tiến tu trên con đường giải thoát và giác ngộ, việc trước nhất thể hiện ý nghĩa đó là cần phải học Phật. Có học Phật cặn kẽ, rõ ràng và căn bản, chúng ta mới có cơ hội để tiếp nhận ánh sáng của đức Phật tỏa chiếu muôn nơi mà không e sợ đi lạc đường, lầm lối, dẫn vào tà đạo, và mới có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống cho chính mình và cho tha nhân.
10/04/2013(Xem: 6410)
Truyền thống giáo dục của Phật giáo có ba hình thức căn bản, gồm: khẩu giáo, thân giáo và ý giáo. Tùy theo căn cơ của người đệ tử mà các bậc thầy có thể sử dụng nhiều phương thức hướng dẫn khác nhau, nhưng thân giáo vẫn là quan trọng hơn cả cho thầy lẫn trò. Trở về khoảng thời gian Đức Phật còn tại thế, sự thuyết giảng của Ngài chưa bao giờ có hình thức giảng dạy như hình thức viết lách như chúng ta hiện nay.
10/04/2013(Xem: 7575)
Ánh sáng giác ngộ được hiểu như là một sự dập tắt vô minh, vọng tưởng điên đảo trong tâm trí của con người, là sự biết rõ sự thật về nguyên nhân và kết quả, nhận thức và hành động, con người và môi trường xung quanh. Giác ngộ là sự hiểu biết chân chánh, thấy rõ bản chất như thật của sự vật, vạn pháp. Giác ngộ còn có nghĩa là đoạn tận khổ đau, dứt trừ những tập khí phiền não bao trùm đời sống của con người trong nhiều kiếp sống, là sự thoát ly những con đường dẫn chúng sanh lên xuống trong sáu nẻo luân hồi trong vô minh bừng cháy.
10/04/2013(Xem: 7413)
Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộng chung cho Ngũ thừa Phật giáo. Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết bàn. Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo cho năm bạn đồng tu là nhhóm Kiều Trần Như.
10/04/2013(Xem: 6572)
Chúng ta thấy rất rõ, từ cái nhìn của một người dù không phải là Phật tử , khi họ thấy chiếc y màu vàng đắp trên người của các vị Tăng Phật giáo, họ vẫn dễ dàng nhận biết được đó là tu sỹ Phật giáo, một cái nhìn quán tính, đã ăn sâu trong ký ức của mọi người. Đó là hình ảnh hiện thân của Đức Phật, và ngày này vẫn được tiếp nối trong Phật giáo. Ít nhất, hình bóng này, người bình thường cũng dễ dàng nhận biết và phân biệt được. Như Phật tử chúng ta có dịp thấy chư Tăng Nam tông ở các nước theo truyền thống Nam tông như Thái lan, Tích Lan, Miến điện, Lào và Campuchia v.v... và một bộ phận nhỏ ở Việt nam.
10/04/2013(Xem: 7239)
Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẵn là kỳ tài ở phương Tây.