36. Hai đứa bé sinh đôi

09/03/201108:46(Xem: 8808)
36. Hai đứa bé sinh đôi

TRUYỆN TÍCH VU LAN PHẬT GIÁO
Minh Châu sưu tầm, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

Hai đứa bé sinh đôi

Ngoài thành Xá-vệ có một ngôi làng với khoảng chừng sáu, bảy mươi gia đình cùng chung sống. Trong số đó có một cặp vợ chồng rất nghèo khổ, quanh năm chỉ biết làm thuê kiếm sống.

Ngày kia, người vợ có thai và sinh ra cùng lúc hai bé trai, tướng mạo rất đoan chính xinh đẹp. Hai vợ chồng thương yêu vô cùng, đặt tên cho một bé là Song Đức và bé kia là Song Phước.

Một hôm, người chồng đi làm chưa về, còn người vợ thì lên núi nhặt củi khô, để hai đứa bé nằm trên giường. Khi ấy, hai đứa bé mới cùng nhau than vắn thở dài. Một đứa nói:

– Phải chi lúc còn tu hành chúng ta đừng phát khởi những ý tưởng ngu si cho rằng đời sống có thể kéo dài, thì giờ đây đâu phải rơi vào con đường sinh tử luân hồi! Này anh xem, sinh vào một gia đình nghèo khó như thế này, ngủ thì ngủ trong rơm rạ, ăn thì ăn rau cải thô thiển, chỉ có thể miễn cưỡng giữ thân mạng, không biết sau này làm sao mà sống qua ngày đây?

Đứa bé kia nói:

– Ngày trước chỉ vì mê lầm không chịu tinh tấn tu hành, hôm nay mới gặp khổ nạn. Đó là tự mình làm, tự mình chịu lấy. Bây giờ chỉ còn biết cam chịu chứ còn nói năng gì nữa?

Hai đứa bé đang cùng nhau tâm sự, nói ra những phiền não trong lòng thì bất ngờ cha mẹ chúng về tới và nghe được hết. Hai đứa bé mới sinh chưa đầy tháng mà đã biết nói chuyện, điều này làm cho họ vô cùng sửng sốt, cho rằng đây là quỷ quái sinh vào nhà họ, trong lòng kinh sợ lo lắng không yên.

Người mẹ tuy cũng rất sợ hãi, nhưng cố tìm mọi cách để khuyên can an ủi người cha, cho rằng đây hẳn chỉ là chuyện nhất thời mà thôi. Nhưng ngày hôm sau, khi hai vợ chồng cùng đi ra ngoài thì Song Đức và Song Phước lại thở than với nhau như hôm trước. Lúc này thì cả hai vợ chồng đều hoảng sợ, lo lắng không biết phải làm sao với hai đứa con kỳ quái này.

Đức Phật dùng thiên nhãn thấy biết được sự việc này, bèn hiện thân đến ngôi làng của họ, phóng hào quang chiếu cả ngàn dặm. Núi, sông, cây rừng, tất cả đều phủ lên ánh sáng hoàng kim.

Đức Phật hiện đến trước nhà hai đứa bé sinh đôi. Vừa thấy hào quang của ngài, hai đứa bé liền quơ tay múa chân tỏ vẻ hết sức mừng rỡ.

Cha mẹ chúng thấy thế rất đỗi kinh ngạc, mỗi người ôm một đứa bé đến trước đức Phật thưa rằng:

– Bạch đức Thế Tôn! Hai đứa bé này sinh ra chưa đầy tháng mà đã biết nói chuyện, thật là không sao hiểu nổi! Bạch Thế Tôn! Chúng con phải làm sao với chúng nó đây? Xin ngài từ bi chỉ dạy cho chúng con!

Đức Phật thấy hai đứa bé tỏ lộ sự hân hoan không cùng của mình khi thấy được kim dung của Ngài thì mỉm cười, miệng chiếu ra ánh sáng năm màu và nói:

– Hai đứa bé này không phải là yêu quái đầu thai, mà là hai đứa bé rất có phước đức.

Rồi đức Phật kể cho họ nghe nhân duyên quá khứ như sau:

– Lúc đức Phật Ca Diếp còn tại thế thì hai đứa bé này đã là sa-môn. Từ nhỏ chúng đã chơi thân với nhau, tâm đầu ý hợp nên cùng nhau xuất gia học đạo.

Cả hai đều tu hành rất chuyên cần tinh tiến, nhưng ngay khi vừa sắp chứng đạo thì tà kiến sinh khởi, vì thế mà bị đọa lạc không thể giải thoát được. Họ trầm luân trong bể khổ sanh tử thật lâu, và đời nào kiếp nào cũng sinh ra làm anh em sinh đôi. Sinh ra lần này, do bởi đã từng cúng dường Như Lai và tội nghiệp cũng đã hết, nên sẽ được hóa độ. Hôm nay ta đến đây là để hóa độ hai người này.

Hai vợ chồng nghe chuyện hai đứa bé xong, mừng rỡ vô hạn, nguyện sẽ hết lòng nuôi dạy chúng cho đến lớn khôn.

Đức Phật đến cứu hai đứa bé này là vì chúng đã từng gieo trồng nhân lành trong quá khứ. Vì thế, người tu hành cho dù không chứng quả ngay trong một đời, nhưng phước đức không hề bị mất, ngày sau thế nào cũng có cơ duyên tiếp tục được tu tập cho đến khi giác ngộ.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 5432)
Giác ngộ tuy đồng Phật Đa sanh tập khí thâm Phong đình ba thượng dũng Lý hiện niệm tương xung (Tô Đông Pha)
10/04/2013(Xem: 6516)
Vu Lan về trên vùng đất lạnh Sương tuyết rơi phủ trắng cả chân đồi Gió chiều nhẹ nâng hồn người lữ thứ Mây lang thang phiêu bạt giữa trời Không.
10/04/2013(Xem: 7004)
Barossa Em ở Đâu? Trở về đây giữa một chiều nắng chói Trời Adelaide trong mây dõi bước chân êm Xa xa, Barossa[1], phủ đầy cát bụi Nắng rớt nhẹ theo những tán thông xanh Đêm buông xuống Barossa u tịch Tìm gặp em, Barossa! Barossa! Ta mãi gọi em giữa đêm thâu lặng lẻ Như vọng về từ địa đàng xa tít Ta thấy em rồi! Vẫn trên môi một nụ cười hoang dại
10/04/2013(Xem: 6388)
Con biết gọi tiếng Ba Từ hồi chưa biết nói Con biết kêu tiếng Mạ Từ thủa mới thôi nôi. Nay con đã lớn rồi Đến phương trời xứ lạ Hai tiếng Ba và Mạ Vẫn ngọt ngào êm ã! Như trưa hè nắng lóa Ngâm mình bên suối sâu, Như mùa đông lạnh giá Đắp chăn phủ kín đầu.
10/04/2013(Xem: 5691)
Truyền thống hiếu đạo lâu đời của đạo Phật và của dân tộc Việt hòa quyện vào nhau thành một thực thể không thể phai mờ trong tâm khảm của người con Phật, dù sống ở bất cứ quốc độ nào trong cõi Ta bà gọi là kham nhẫn này. Theo như Tăng Chi Bộ Kinh, chương ba Pháp có nêu kẻ Hiền trí và bậc Chân nhân hàm dung đủ bố thí, xuất gia và hầu hạ cha mẹ theo như lời đức Phật dạy.
10/04/2013(Xem: 6144)
ưới đây là một bài Pháp ngắn do Ngài Ajahn Chah thuyết giảng cho một cụ bà người Anh vừa trải qua thời gian hai tháng, vào cuối năm 1978 và đầu năm 1979, tu học dưới sự hướng dẫn của Ngài, trước khi cụ bà lên đường về xứ
10/04/2013(Xem: 6166)
Làm Thơ thanh thản mà làm, Nếu như cố sức là ham ngôn từ; Bỏ bớt loạn động tâm tư, Học Phật là chính cầu Sư giải bày.
10/04/2013(Xem: 11192)
Ngày 15-2-1965, tôi và thầy Chơn Thanh cũng như các học Tăng khác từ các nơi tập trung về Phật học viện Huệ Nghiêm dự thi tuyển vào khóa II của Phật học viện. Thầy thì từ Phật học đường Phổ Quang Gia Định đến, tôi thì từ Phật học đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh lên, tất cả cùng một chí hướng, một mục đích và một ước nguyện là thi đậu vào Phật học viện. Kết quả, thầy thi đậu lớp Sơ trung 2, tôi thi đậu vào lớp Sơ trung 1
10/04/2013(Xem: 6824)
Năm lên mười mấy tuổi Tôi đã vội xa nhà Bên hàng cau nhớ mẹ Chiều chiều bỗng xót xa
10/04/2013(Xem: 5917)
Cơn trốt tàn nhẫn quét ngang cánh đồng trống, ngang qua những căn nhà gỗ mong manh, xoáy mạnh và bốc lên cao những người, thú, đất đá và cây cối…, rồi vô tình thả xuống lại trên những đồng cỏ và mặt đất xác xơ. Trốt qua rồi, không gì còn nguyên vẹn. Trên những dặm vuông dài là hoang tàn, đổ nát.