Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Những ngày bên Má

26/09/201109:29(Xem: 1390)
Những ngày bên Má
Hay tin Mẹ tôi lâm trọng bệnh, tôi liền vội vả book vé máy bay về ngay. Lúc mới nhận được tin cháu tôi cho hay, rằng Mẹ tôi đang trong tình trạng hấp hối, thú thật, lòng tôi lúc đó cũng có chút thoáng buồn, nhưng sau đó, tôi lấy lại bình tĩnh ngay không có gì phải ưu tư lo lắng. Vì tôi nghĩ rằng, đời người ai rồi cũng phải bước qua cái ngưỡng cửa tử thần. Hơn thế nữa, tuổi thọ của Mẹ tôi năm nay cũng đã khá cao, chỉ còn qua một cái Tết nữa là Bà đã tròn đúng một trăm tuổi thọ. 

Như thế, kể ra bà cũng đã vượt qua cái tuổi “ nhơn sanh thất thập cổ lai hy” quá nhiều rồi. Thật đó cũng là một phước duyên của bà rất lớn.  Đời người ta sống được một trăm tuổi, đi tròn một thế kỹ thật là hiếm có! Thế là, Bà cũng đã đến cái tuổi cần phải an nghỉ cho khỏe. Người xưa nói: “ Đa thọ đa nhục”. Sống lâu chừng nào khổ nhiều chừng nấy. Khổ mình đã đành mà còn làm khổ cho những người thân ruột thịt của mình nữa. Họ vì mình mà phải lo lắng, chăm sóc ngày đêm đủ thứ. Do nghĩ thế, lòng tôi vẫn bình tĩnh thản nhiên, cứ làm theo bổn phận của mình mà lo xúc tiến công việc…

Ngồi trên máy bay, suốt 8 tiếng đồng hồ, tôi chỉ biết nhiếp tâm niệm Phật. Tuyệt nhiên, không phóng tâm nghĩ ngợi  đến chuyện bệnh trạng của Mẹ tôi. Có phải tôi vô tình lắm không? Không. Đối với thế nhân thường tình, thì người ta cho đó là vô tình, bạc nghĩa. Tại sao Mẹ mình bệnh nặng sắp chết, mà mình lại an nhiên dững dưng cho được? Có phải mình thiếu bổn phận trách nhiệm chăng? Tôi rất cảm thông cho điều họ nghĩ và trách móc đó. Tuy nhiên, cùng một sự việc, tùy theo trình độ nhận thức của mỗi người mà nó có sai khác. 

Đối với tôi, là người có chút ít hiểu biết qua những lời Phật Tổ chỉ dạy về cái lý vô thường, sanh diệt, nên tôi không có gì phải bận tâm bồn chồn lo âu bấn loạn. Bởi vì, cái đáng lo nhứt của tôi hiện giờ là chỉ một bề hướng lòng về Mẹ tôi để tiếp sức cùng Bà niệm Phật. Dù cho Bà đang trong cơn mê sảng hay tỉnh táo, tôi cũng dốc hết lòng thành chú tâm niệm Phật để hầu trợ giúp cho Bà phần nào. Tôi nhìn vào bàn tay của tôi để thầm cầu nguyện cho Bà. Tôi biết, Mẹ tôi tuy đang bệnh nặng nằm ở trên giường, nhưng đối với tôi lúc nầy Bà vẫn ở bên tôi. Đó là điều mà tôi thiết nghĩ, vừa hữu ích cho tôi trong lúc nầy và cũng vừa hữu ích cho Mẹ tôi. 

Tôi tin chắc rằng, sự nhiếp tâm niệm Phật của tôi, chắc chắn là Bà sẽ có nhận được, vì đó là thần giao cách cảm hay cảm ứng đạo giao bất khả tư nghì. Tôi cho rằng, việc làm nầy của tôi là đúng theo lời Phật Tổ chỉ dạy. Còn hơn, để tâm nghĩ tưởng mông lung, vẽ vời tưởng tượng bao nhiêu thứ chuyện không đâu, thiếu thực tế, như vậy, thử hỏi cả hai có được lợi ích gì không? Thật là vô ích. Hơn nữa, đừng quên rằng, hiện mình đang ngồi trên máy bay. Ngay cả bản thân mình lúc nầy, cũng còn chưa biết ra sao? Không biết còn hay mất, khi máy bay chưa hạ cánh đáp xuống đất an toàn. Thế thì lo nghĩ vẫn vơ mông lung chỉ thêm mệt sức và càng hao tổn tinh thần mà thôi. 

Tốt hơn hết là cứ bình tâm niệm Phật. Đó là tâm trạng của tôi khi ngồi trên máy bay. Nói lên điều nầy, tuyệt đối, tôi không dám có ý khoe khoan hay phô trương cái bản ngã đáng ghét của mình cho mọi người nể phục tán dương. Tuyệt đối trăm lần không vạn lần không. Sở dĩ tôi nói như thế, là vì thật tình, tôi muốn chia sẻ cái tâm cảnh của tôi với những ai không may có cùng hoàn cảnh tâm trạng giống như tôi lúc nầy. Tôi thiết nghĩ, chúng ta chỉ nên làm như thế là tốt hơn. Đó là điều mà tôi thành thật muốn chia sẻ cùng với quý liên hữu, bạn đọc.

Sau khi ra khỏi máy bay, làm thủ tục giấy tờ nhập cảnh ở phi trường Tân Sơn Nhứt xong, tôi được một vài người thân chờ đón sẵn rồi đưa chúng tôi lên xe chạy thẳng về quê nhà.  Từ phi trường về đến quê tôi ở  ấp Mỹ Cẩm, xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang thuộc tỉnh Trà Vinh, xe chạy tốc hành phải mất khoảng 6 tiếng đồng hồ mới tới. Thế là suốt ngày hôm ấy, tôi phải ngồi máy bay và xe hơi, cộng lai là 14 tiếng đồng hồ. Kể ra, cũng khá thắm mệt. Nhứt là sức khỏe của tôi cũng không mấy tốt lắm. Tôi tới nhà vào lúc 11 giờ đêm, tối thứ ba ngày 7/8/07.

Vừa bước xuống xe, các cháu tôi có mặt đông đảo, chúng nó đều mừng rỡ chào đón rước tôi vào nhà. Vì trong đêm tối, ánh đèn điện từ trong sân nhà dọi ra, không đủ ánh sáng để tôi nhận diện rõ từng đứa cháu một. Tôi chỉ đưa mắt nhìn qua một lượt và mỉm cười nhẹ trên môi rồi tôi vội vả bước thẳng vào nhà. Tôi đến bên Mẹ tôi, rồi nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh Bà và hỏi Bà có nhận ra tôi không? Mẹ tôi rất mừng hiện rõ trên nét mặt của Bà. Mẹ tôi nói: “Có phải thầy Đại về đó không”? Bà hỏi tôi với vẻ vô cùng xúc động và giọng nói run run không được khỏe lắm. Tôi biết Bà vẫn còn đang mệt, lại thêm vì quá xúc động mừng tôi về, nên Bà nắm lấy tay tôi, rồi liền nằm xuống. Tôi phải kề sát vào tai Bà chỉ hỏi được một câu: “Má cảm thấy có mệt lắm không”? Vì Bà lãng tai hơi nặng, nên tôi phải nói lớn tiếng Bà mới nghe. Bà nói: “Má còn mệt lắm”! Thế là tôi để Bà nằm nghỉ cho khỏe. Bấy giờ, tôi quay sang  hỏi thăm các đứa cháu của tôi về bệnh trạng của Bà trong mấy ngày qua. 

Một trong những đứa cháu của tôi có mặt lúc đó là thầy Lệ  Sĩ. Thầy là người con trai thứ tư của anh hai tôi. Anh hai tôi có cả thảy là 6 người con , 2 gái 4 trai. Đã chết 2 người con trai, hiện chỉ còn 4 người: 2 gái và 2 trai. Thầy Lệ Sĩ hiện là trụ trì chùa Phước Thanh.  Tôi hỏi thầy về  diễn tiến bệnh trạng của Bà Nội thế nào. Thầy Sĩ  lần lượt trình bày cặn kẽ cho tôi biết. 

Thầy nói: Hôm con điện thoại báo tin cho thầy là Bà Nội đang trong cơn hấp hối. Bà nằm mê man bất tỉnh. Đôi chân của Bà Nội lạnh buốt từ dưới lên trên. Hơi thở của Bà rất yếu ớt, dường như không nghe hơi thở. Chúng con đứng chung quanh giường niệm Phật trợ niệm cho Bà. Con bảo tất cả đều phải giữ im lặng niệm Phật. Tất cả kẻ lớn người nhỏ đều nghe theo con mà hết lòng niệm Phật. Đèn cầy thắp sáng 4 gốc giường. Ai cũng nghĩ là Bà Nội sẽ không qua khỏi. Nhưng sau đó, thật là mầu nhiệm từ từ Bà tỉnh lại.

Đêm qua, Bà Nội lại mê sảng, la ó lớn tiếng, vùng vẫy cào cấu lung tung, một hiện tượng thật kỳ lạ, tụi con rất lo sợ.  Bà nói lung tung, không ai hiểu gì cả. Ngừng một lát, thầy lại kể tiếp cho tôi nghe. Đã mấy hôm qua, Bà đi tiểu rất khó khăn. Có rước bác sĩ đến xem. Bác sĩ nói: Bà bị nhiểm trùng đường tiểu, nên Bà bị lên cơn sốt khá nặng. 

Qua hôm sau, tôi thấy tình trạng sức khỏe của Bà quá yếu, vả lại Bà rên la nhiều hơn, vì đi tiểu bị đau và không tiểu được. Tôi tức tốc kêu xe đưa Bà đi nhà thương điều trị. Tôi đưa Bà thẳng lên bệnh viện tỉnh, vì sợ ở huyện không có đủ phương tiện dụng cụ trị liệu bằng. Sau khi làm thủ tục nhập viện, bác sĩ làm xông tiểu cho Bà. Chỉ vài giờ sau là Bà cảm thấy khỏe lại. Bác sĩ cho biết, Bà bị nhiễm trùng đường tiểu khá nặng. Ống dẫn nước tiểu bị sưng lên. Nếu lên trễ, thì Bà có thể tử vong, vì Bà sẽ bị bể bàng quang. Thật là may mắn! phước duyên Bà còn, nên tôi về kịp thời để đưa Bà đi bệnh viện trị liệu. Trước đó, không ai khuyên Bà đi được. 

Sau khi xuất viện, Bà về nhà, tôi bảo các cháu gái  của tôi phải chăm sóc cho Bà Nội thật kỹ lưỡng, cẩn thận chu đáo. Các cháu tôi làm theo lời dặn của tôi. Vài ngày sau, Bà ăn uống tuy không được bình thường như trước kia, nhưng cũng tạm  ăn uống chút ít được. Bà nói, ăn uống không biết ngon lành chi hết, chỉ ráng nuốt cho nó có trong bụng mà thôi. 

Một tuần sau nữa, Bà ăn hơi biết ngon. Thế là sức khỏe của Bà từ từ hồi phục lại. Nhìn thấy Bà hơi khỏe lại, tôi rất vui mừng. Vì Bà đã trải qua một cơn bạo bệnh như chết đi sống lại. Có thể nói, đây là lần đầu tiên Bà bị bệnh nặng nhứt trong suốt cuộc đời của Bà. Từ nhỏ tới già, Bà chưa bao giờ nằm nhà thương tới một ngày. Chỉ có lần nầy, Bà phải nằm ở nhà thương 3 ngày để bác sĩ theo dõi điều trị. Trong suốt thời gian nầy, tôi luôn túc trực bên Bà, để theo dõi bệnh trạng của Bà. Có nhiều Phật tử đến thăm. Con cháu cũng thường tới lui thăm viếng.

Tôi mua vé về 6 tuần. Thời gian trôi qua thật nhanh. Mới đó đã sắp đến ngày trở về Úc. Gần ngày về, tôi đến bên Bà nắm lấy tay Bà và nói: “Còn vài ngày nữa, con trở về Úc rồi, Má ráng ăn uống ngủ nghỉ cho có sức khỏe. Má mạnh khỏe con cháu đứa nào cũng mừng hết”. Bà nắm lấy xiết chặt tay tôi và nói: “Tuổi của Má bây giờ cũng đáng mồ mả rồi, Má muốn chết mà nó không chết. Nếu chết được, thì nó khỏe biết bao nhiêu, khỏi phải hành hạ khổ cực con cháu. Bây giờ, Má chỉ còn có một mình con thôi. Miễn sao con mạnh khỏe là Má mừng rồi! Con về Úc rồi, ở đây, Má có chết, thì có thầy Sĩ lo. Con đừng về nữa tốn hao tiền bạc lắm! Tu rồi làm gì ra tiền!

Đó là những lời rất chân tình xuất phát từ tấm lòng thương yêu của một người Mẹ già đối với đứa con ở phương xa. Nghe qua, lòng tôi cảm thấy thật chua xót se thắt chạnh lòng! Hơn lúc nào hết, lúc nầy, tôi mới cảm nhận được tình Mẹ thương con thật là thiêng liêng cao cả. Bao giờ cũng sợ con mình khổ cực và tốn kém. Quả tình, tình Mẹ thương con bao la không bờ bến. Dù còn một hơi thở tàn, cũng vẫn nghĩ thương tưởng đến con và lo lắng cho con. Tôi ngồi yên lặng nắm lấy xiết chặt tay Bà. Tôi biết giờ phút nầy, Bà rất buồn khi biết tôi sắp sửa rời khỏi nơi đây. Dù Bà có thừa can đảm chịu đựng, nhưng trước giờ phút chia tay giữa tình Mẹ con trong lúc nầy, không thể nào Bà không xúc động. Tôi biết Mẹ tôi đang nén dằn lòng xúc động không muốn để lộ ra cho tôi biết. 

Dù đã gần trăm tuổi đời, nhưng tâm trí của Bà vẫn còn minh mẫn sáng suốt chưa bao giờ nói năng lẫn lộn. Đó là một diễm phúc lớn lao cho Bà cũng như cho con cháu. Một đứa cháu gái tôi có ý hỏi chọc Bà. Nè Nội, thầy đi rồi, Nội có buồn không? Một câu hỏi tuy có ý trêu chọc Bà cho vui, nhưng vô tình đó lại là một câu hỏi xoáy mạnh vào tâm khảm đau  thương buồn tủi của Bà. Bà nói với giọng rất nhẹ nhàng: “Mầy còn phải hỏi”! Chỉ vỏn vẹn có 3 chữ thôi: “còn phải hỏi”  mà nó đã gói trọn tâm tư sâu kín của một người Mẹ già khi nghĩ đến xa con. Có bà Mẹ nào không đau lòng xót dạ khi từ biệt con mình trong giờ phút chia ly? Kẻ ra đi không buồn bằng người ở lại. Vì người ra đi bao giờ cũng có cảnh mới. Còn người ở lại nhìn cảnh cũ càng thêm chua xót hoặn thắt đau lòng!.

Ái biệt ly khổ, đó là một trong 8 nỗi thống khổ lớn của con người. Sự đời, dù biết vậy, nhưng không ai tránh khỏi. Song có điều, tôi cảm thấy không buồn lắm, vì 6 tuần qua, tôi đã có dịp gần gũi cận kề bên cạnh Mẹ tôi. Tôi có dịp nhìn Bà thật kỹ và lo cho Bà từng miếng ăn thức uống. Thỉnh thoảng, tôi nằm bên cạnh Bà. Đươc nằm bên cạnh Bà tôi cảm thấy thật là sung sướng vô cùng. Tôi có cảm giác như sống lại thời thơ ấu của tôi. Những lúc Bà khỏe, Bà kể chuyện xưa về những thân nhân kẻ còn người mất trong dòng họ bên nội bên ngoại của tôi. Tôi nằm nhắm nghiền đôi mắt lại lắng nghe Bà kể. Do đó, tôi cảm thấy, những ngày sống bên Mẹ tôi là những ngày hạnh phúc lớn nhứt trong đời tôi. Lòng tôi cảm thấy thật vô cùng ấm áp. Tôi từ biệt Bà, lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng như hưởng được một niềm vui lớn mà chính Mẹ tôi đã ban tặng cho tôi.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/08/201008:24(Xem: 1266)
Mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy Âm lịch, toàn thể Phật tử Việt Nam chúng ta và Phật tử khắp năm châu đều tổ chức long trọng lễ Vu Lan, cúng dường Phật và chúng Tăng, dựa vào uy lực và Giới đức của đức Phật và chúng Tăng, cầu nguyện cho cha mẹ đang còn sống được an lạc và cha mẹ đã quá cố được siêu thăng cõi Tịnh Độ.
06/08/201002:55(Xem: 2587)
Nghi thức Bông Hồng Cài Áo trong dịp lễ Vu Lan (rằm tháng 7 Âm lịch) là một nghi thức đặc biệt của Phật Giáo Việt Nam. Càng đặc biệt hơn, nghi thức này do giới Phật tử trẻ tuổi tại miền Nam đưa vào Phật Giáo từ hơn 40 năm về trước. Sau đó không lâu. nó đã trở thành một nghi thức có tính cách truyền thống trong lễ Vu Lan. Gần đây, tuy có một số người như TT Vân Đàm (Tu viện Pháp Vương, Fairfax, Virginia) hay Cư sĩ Bình Anson (Chủ tịch Hội Phật Giáo Tây Úc) đặt vấn đề về việc lễ Bông Hồng Cài Áo có phù hợp với nghi thức Vu Lan của Phật Giáo hay không, cho tới nay nó này vẫn là một trong những nghi thức không thể thiếu của lễ Vu Lan tại hải ngoại.
06/08/201002:37(Xem: 1633)
Ta từng nghe lời tạc như vầy: Một thuở nọ Thế-tôn an-trụ Xá-vệ thành Kỳ-thụ viên trung, Mục-liên mới đặng lục-thông, Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm-luân. Công dưỡng-dục thâm-ân dốc trả, Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền, Làm con hiếu-hạnh vi tiên,
04/08/201008:26(Xem: 2603)
Đối với đa số, cái chết thường được quan niệm như một vách ngăn giữa hai thế giới: người mất–kẻ còn, hay cõi âm và dương thế. Trong cái nhìn của đạo Phật, cái chết được xem là một phần tự nhiên của cuộc sống. Trước sự ra đi của người thân, nhiều người thường rất đau buồn, đôi khi quên đi những sự chăm sóc và giúp đở cho người đã khuất một cách thiết thực và ý nghĩa. Nhân mùa Vu Lan–Báo hiếu PL.2546-2002, NSGN giới thiệu cùng bạn đọc về lời của một người ở thế giới bên kia, nguyên giáo sư Đại Học Y Khoa Geneve (Thụy Sĩ) với các con của ông, và vài gợi ý về phương pháp chăm sóc, giúp đở người thân trong tình trạng đặc biệt: ốm đau nặng hoặc lâm chung...