Một Khoảng Bình Yên

30/03/202620:38(Xem: 253)
Một Khoảng Bình Yên


phong canh dep
MỘT KHOẢNH BÌNH YÊN

 

Nàng Persephone lại trở về, vườn xuân xanh biếc cây lá, muôn hoa khoe sắc hương, cỏ xanh một màu mướt mát. Cái vòng quay sanh – diệt vừa trọn một vòng. Nàng Persephone trở về đem lại sự hồi sinh sau mùa đông ảm đạm. Vô số nụ hoa nhỏ trên thảm cỏ, những nụ hoa pansee cho đến những loài hoa dại khác mà ta không biết tên, trên cành vô số hoa đào, hoa anh đào…Cánh hoa lả tả bay trong gió khiến ta ngỡ cảnh thiên thai.

Chiều làm về, trút bỏ giày đi chân trần trên thảm cỏ, ta cảm nhận cả một sự  bình yên chi lạ. Bàn chân trần bó rọ trong những đôi giày, dù giày lao động hay giày thời trang hàng hiệu cũng không sao hạnh phúc bằng chân trần trên cỏ xanh. Bàn chân trần tiếp xúc với đất mẹ mà nghe nhẹ nhõm thư thái trong tâm hồn.

Vườn ta muôn hoa khoe hương sắc, mùa xuân rực rỡ với thủy tiên, tulip, hoa đào, mẫu đơn…ấy là những loại hoa mà loài người yêu thích và xem trọng. Riêng vườn ta thì chẳng có quý tiện hay trọng khinh, hoa trồng hay hoa dại cũng như nhau. Cánh hoa đào hòa mình cùng hoa cỏ dại trên mặt đất. Hoa cỏ bồ công anh cũng không khác gì tulip. Ta không cố làm thế, đơn giản tự nhiên là thế, vì ta yêu hoa cỏ vô cùng.

Những pho tượng Phật nho nhỏ an nhiên dưới cội cây, giữa hồ cá koi, bên mé  vườn…Những pho tượng ngồi lặng lẽ trong nắng sớm chiều sương. Ta vẫn ngày hai buổi đi về, nhìn mấy pho tượng Phật mà lòng xúc cảm không sao nói nên lời. Những pho tượng Phật ấy không chỉ là gỗ, đá, sành sứ… mà ẩn chứa bao nhiêu điều. Những pho tượng Phật là biểu tượng của tình thương, tỉnh thức, hòa bình, bao dung, giải thoát…Tuần rồi, ta quay clip đưa lên mạng. Dân mạng xem và có nhiều lời khen, tuy nhiên cũng vài lời khác biệt. Một em Mỹ bảo ta hãy thay tượng Phật bằng tượng Jesus. Ta cười thôi, biết sao được bây giờ? Con người ta vốn thiên sai vạn biệt, tâm ý bất đồng. Con người ta tự giam hãm mình trong những tín điều, những thói quen tập quán; tự dán lên trán mình cái nhãn hiệu nào đó và cứ thế mà hành xử.  Con người ta tự cầm tù mình trong chính cái “hiểu biết” sai lệch của mình, nhà Phật gọi là sở tri chướng! Mình đã tự giam hãm mình thì chỉ có mình tự giải thoát cho mình mà thôi! Yêu thương sâu đậm như cha mẹ với con cái, yêu thương tha thiết như tình nhân…cũng không giải thoát cho nhau được. Thầy trò trân quý bao nhiêu cũng không giải thoát cho nhau được. Ngay cả thiên thần, thượng đế cũng không giải thoát cho ai được, làm sao giải thoát cho người khác khi mà mình vẫn giam hãm mình trong vòng vô minh, trong sinh tử luân hồi?. Đức Phật cũng không thể giải thoát cho ai được dù tình thương của ngài vô điều kiện, dù năng lực của ngài vốn “vô tri vô sở bất tri, vô năng vô sở bất năng”. Đức Phật chỉ bày phương cách giải thoát, vạch ra con đường giải thoát. Mỗi người tự thân đi, tự mình giải thoát cho mình.

Những pho tượng Phật trong vườn không chỉ là để trang trí. Những pho tượng Phật ấy nhắc nhở ta, tiếp sức ta, truyền cho ta thêm niềm tin và hy vọng để mà sống, để mà đi cho hết cuộc chơi này.

Vườn xuân rực rỡ sắc hoa, ngào ngạt hương hoa…Hương hoa cúng dường Phật, hương hoa làm đẹp cho đời. Những đóa hoa mong manh biết bao nhưng lại trường tồn. Hoa cỏ tồn tại đấy dù có con người hay không có con người. Núi non có thể sập, biển cạn non mòn nhưng hoa cỏ vẫn cứ diệt rồi lại hồi sinh khi xuân về. Mùa đông tàn tạ để rồi mùa xuân lại tăng trưởng. Khi nụ hoa tàn không có nghĩa là hết mà là để hạt dành lại mùa sau. Bảo sanh, ừ thì là sanh; nói diệt, ừ thì là diệt; thật sự vẫn bất sanh bất diệt. Hương hoa rực rỡ mùa xuân, biếc xanh cây lá mùa hạ, lá vàng gấm hoa cẩm tú mùa thu, trơ trụi cây cỏ mùa đông đều là duyên. Cái tướng hoa lá bốn mùa cho đến cái tướng con người, tướng muôn loài đều là giả tướng, là duyên. Duyên vốn không, đã là không thì sanh diệt sao có được? không sanh không diệt ấy chính là pháp thân. Pháp thân Phật, pháp thân ta, pháp thân chúng sanh muôn loại vốn đồng. Tượng Phật bằng sành sứ trong vườn là giả tướng, là duyên hợp mà thành. Một khoảnh vườn nhỏ có đủ cả pháp thân, báo thân, ứng hóa thân. Bởi vậy mà ta nói pháp thân chư Phật khắp ba đời mười phương; báo thân, ứng hóa thân tùy duyên hiện tướng.

Mỗi buổi bình minh lên, thần ánh sang Helios phóng cỗ xe ngang qua bầu trời do những con ngựa có bờm lửa kéo. Mặt đất chan hòa ánh sáng, tràn ngập màu nắng để rồi từ đó hoa nở chim ca, để ta sống với những nghiệp thiện và nghiệp ác, để con người thức dậy ra khỏi đêm dài mộng mị. Ngày mới lại lên, người ra khỏi mộng đêm nhưng vẫn không sao thoát khỏi cơn mộng đời! Thế gian này, muôn sự của  loài người chim trong cơn mộng vô minh. Vì mộng trong vô minh nên con người mới tranh đoạt, tru diệt, truy sát, tàn hại nhau, tàn hại muôn loài, tàn hại thiên nhiên suốt từ thuở hồng hoang đến giờ. Lòng tham của con người càng ngày càng tăng trưởng, càng nhiều lại càng muốn thêm. Lòng sân hận của con người càng ngày càng thâm sâu, lửa sân hận thiêu đốt tâm can không một phút ngưng nghỉ. Tham lam, sân hận, si mê nối thành vòng tròn, cái vòng quay bất tận trong cơn mê dài.

Những pho tượng Phật bằng đá, bằng sành sứ…ấy không phải là Phật. Tuy nhiên qua cái tướng ấy để ta nghĩ đến Phật, nhớ Phật, tưởng Phật. Kinh sách nhà Phật nói Phật có 32 tướng tốt 72 vẻ đẹp, đời dễ có mấy ai thấy hay hiểu được? Người ta tạo tác tượng Phật qua cái lăng kính thẩm mỹ văn hóa của riêng mình, qua sự kheo léo hay vụng về của đôi tay người tạo tác. Tâm con người vốn thiên sai vạn biệt nên việc tạo tác tượng Phật cũng rất khác nhau. Người Gandhara cổ, người Tây Tạng, người Hoa, người Hàn, người Nhật, người Việt…đều có tượng Phật riêng của dân tộc mình. Bởi vậy nếu khăng khăng chấp tướng của tượng Phật thì không phải, tuy nhiên nếu bỏ tướng lại càng sai vì mình còn quá mê muội và vô minh.

Những pho tượng Phật trong vườn ta vì là giả tướng nên vẫn sanh diệt. Có tượng qua mùa đông đã bể, gãy… dù rằng pháp thân Phật vẫn bất sanh bất diệt. Xườn xuân đẹp trong sắc màu và hương hoa. Vườn hạ xanh rờn cây lá, vườn thu vàng lay trong đất trời, vườn đông trơ trụi cỏ cây hoặc trinh bạch trong tuyết trắng…Những pho tượng Phật vẫn an nhiên bất động trong khu vườn. Ta vẫn đi về, nhìn những pho tượng Phật mà thấy đời bình yên. Ta thấy đời ta đã quá đủ đầy. Những đóa hoa, những pho tượng Phật nho nhỏ trong vườn xuân là một khoảnh bình yên vô sự trong thế giới vô thường.

Lãng Thanh

Ất Lăng thành, 0326

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/02/2021(Xem: 19318)
Trong vườn hoa thì có nhiều hoa và có muôn màu muôn sắc khác nhau. Vườn hoa lúc nào cũng đượm mùi thanh nhã, thì vườn thơ cũng không khác gì vườn hoa. Tuy nhiên nói về thơ hay định nghĩa về thơ thì rất khó ; do đó, chúng ta nhìn về thơ thì cũng tựa như ta nhìn vị họa sĩ qua cây cọ hay là nghe tiếng đàn qua vị nhạc sĩ đang hòa tấu. Những thập niên trước đây, khi ra hải ngoại, mỗi lần đi hướng dẫn những khóa tu tập, sau giờ giải lao, có những vị Phật tử vui tính xin giúp vui giải lao bằng những lời ca tiếng nhạc hay âm điệu ngâm nga những câu thơ của chư Tôn đức sáng tác, hoặc tự thân họ làm ra để giúp bầu không khí tu tập thêm phần sinh động. . . .
03/02/2021(Xem: 37896)
Vừa qua nhóm ảnh Nhất Chi Mai thuộc tu viện Phước Hòa (Đồng Nai), được sự hướng dẫn của Thượng toạ Viện chủ đã đến Buôn Mê Thuột để quay những thước phim đầu tiên về nhạc sĩ Hằng Vang. Cùng với cố nhạc sĩ Lê Cao Phan, Bửu Bác... được xem như lớp tiền phong của dòng tân nhạc Phật giáo. Nhạc sĩ Hằng Vang tên thật là Nguyễn Đình Vang, sinh năm 1933 tại Huế. Trong hơn 60 năm sáng tác, ông có hàng trăm ca khúc về đề tài này, nổi bật nhất là ca khúc Ánh Đạo vàng (1958) đã thấm sâu vào lòng Phật tử suốt thời gian dài từ khi ra đời.
01/02/2021(Xem: 11538)
Đối với những dân tộc sống trong nền văn minh lúa nước tại Đông Nam Á, nhất là đất nước và con người Việt Nam, hình ảnh con trâu, thường hay được nói đến, không phải “con trâu là đầu cơ nghiệp” mà đối với người nông dân là con vật gần gũi thân thiết, nên trong ca dao trâu xuất hiện trong bức tranh lao động của gia đình “trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”, trâu cũng trở thành bạn tâm tình của người nông dân: “trâu ơi ! ta bảo trâu này…” Người nông dân đã đồng cảm với trâu, qua việc cần mẫn lao động hằng ngày, không có lúc nào hưởng được sự thảnh thơi mà phải luôn vất vả nhọc nhằn. Hình ảnh con trâu kéo cày trên ruộng đồng với lúa, mạ xanh tươi, hay đứng nằm gặm nhai cỏ trên bãi cỏ xanh, cùng giầm mình trong vũng ao hồ sình lầy là hình ảnh quen thuộc, gợi lên nhiều cảm xúc thị vị thanh bình tạo cảm hứng cho biết bao thi nhân và họa sĩ.
01/02/2021(Xem: 14048)
Chữ “chùa” thường dễ khiến người ta liên tưởng đến những… chữ khác như kinh-kệ-chuông-mõ-sư-sãi…Xa hơn, có thể gợi nhớ đến chữ… thơ (vì, tu sĩ và thi sĩ vốn là bằng hữu, trong truyền t
01/02/2021(Xem: 16998)
Vào năm 1990, một nhà sư trẻ đến thị xã Lagi – Bình Thuận, dừng bước bên con suối Đó vắng vẻ, cảnh quan đơn sơ, mộc mạc, cách xa trung tâm Lagi. Con suối có cái tên hơi lạ, tên nguyên sơ là suối Đá do chảy qua nhiều tảng đá to, sau này khi người Quảng đến định cư, đọc chệch thành “suối Đó”. Vị sư trẻ dựng một thảo am bên cạnh con suối, cao hứng đặt tên thảo am là chùa Đây, tạo thành một cái tên hay hay và lạ mà du khách đến một lần không thể nào quên “suối Đó – chùa Đây”. Sau này, thảo am nhỏ được trùng tu dần thành một ngôi chùa trang nghiêm và tĩnh lặng với cái tên mang lại cho người ta cảm giác an nhiên tự tại khi nhắc đến như hôm nay – chùa Thanh Trang Lan Nhã.
01/02/2021(Xem: 18055)
Ngôi chùa nhỏ với không gian yên tĩnh nằm bên dòng suối Đó giáp ranh giữa xã Tân Phước và phường Tân An, thị xã La Gi có cái tên rất thanh vắng, tịch mịch “Thanh trang lan nhã” . Chùa do một vị Đại đức tuổi trung niên làm trụ trì, nhà sư Thích Tấn Tuệ. Sư Tấn Tuệ tên thật là Đinh Văn Thành (SN 1960), quê ở làng Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông quy y từ lúc còn nhỏ được đào tạo học hành chu đáo, đi lại nhiều nơi nên kiến thức sâu rộng.
01/02/2021(Xem: 20505)
Nói thiệt lòng, tâm trạng của tôi mấy ngày qua vô cùng... bất ổn, tinh thần có chiều xuống dốc, phần vì "thử thể bất an", phần vì chuyện đời có nhiều đột biến vào năm cùng tháng tận, đã bình thản đương đầu đối chọi bằng các phương pháp tu niệm hành trì, giữ niềm tin vững chãi, liên tục ra vào các chốn già lam để lễ Phật bái Tăng, tác nghiệp thi văn... nên chế ngự được nhiều chướng duyên nghịch cảnh, nhưng nghiệp duyên quá khứ vẫn còn đầy dãy, vẫn đến đó, vẫy tay cười chào như chế giễu, thử thách...
30/01/2021(Xem: 12541)
Thời gian gần đây có khá nhiều nhà văn quay về với đề tài lịch sử. Sự đi sâu vào nghiên cứu cùng những trang viết ấy, họ đã tái hiện lại một triều đại, hay một giai đoạn lịch sử với góc độ, cái nhìn của riêng mình. Tuy nhiên, không phải nhà văn nào cũng thành công với đề tài này. Gần đây ta có thể thấy, Hoàng Quốc Hải với hai bộ tiểu thuyết: Tám triều nhà Lý, và Bão táp triều Trần, hay Hồ Qúy Ly của Nguyễn Xuân Khánh…Và cách nay mấy năm, nhân kỷ niệm lần thứ 40, ngày thành lập Báo Viên Giác (Đức quốc) Hòa thượng Thích Như Điển đã trình làng cuốn tiểu thuyết lịch sử: Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa. Thật ra, đây là cuốn (tiểu thuyết) phân tích, lời bàn về lịch sử thì chính xác hơn.
19/01/2021(Xem: 47450)
Đức Phật Quá Khứ Tỳ Bà Thi 💐🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ Ba, 07/07/2020 (17/5/Canh Tý) Giải thích Nghi Thức Đảnh Lễ Tam Bảo do Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ (1909-1984) biên soạn và hành trì trong suốt cuộc đời của Ngài. Bài kệ số 16: ĐỨC PHẬT TỲ BA THI 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Nhẫn nhục đệ nhất đạo Phật thuyết vô vi tối Xuất gia não tha nhân Bất danh vị sa môn. Nhất tâm đảnh lễ Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật. (1 lạy) Phật dạy: Hạnh nhẫn nhục Là pháp tu thứ nhất, Pháp vô vi tột cùng. Cho nên người xuất gia Gây khổ não cho người, Thì không gọi “sa môn”. Một lòng kính lạy đức Phật Tì Bà Thi. (1 lạy) Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia)
18/01/2021(Xem: 14522)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ