Tản mạn về Sống, Chết (Sau khi đọc tác phẩm “ Ngón Tay Chỉ Trăng” – HT Thích Từ Thông/Như Huyễn Thiền Sư)

02/11/202520:30(Xem: 2687)
Tản mạn về Sống, Chết (Sau khi đọc tác phẩm “ Ngón Tay Chỉ Trăng” – HT Thích Từ Thông/Như Huyễn Thiền Sư)

HT Thich Tu Thong-10

Tản mạn về Sống, Chết

 Sau khi đọc tác phẩm “ Ngón Tay Chỉ Trăng” – HT Thích Từ Thông (Như Huyễn Thiền Sư)


Kính bạch Thầy, dường như từ năm 2015, HT Từ Thông luôn suy nghĩ về tuổi thọ của mình,
quá sống lâu nên có những vần thơ liên quan đến chứng Đạo Ca của Ngài Huyền Giác “ Kỷ hồi tử, kỷ hồi sinh…” Nên con đã ghi lại trong bài viết này

***




Gần đây thường thấy nhiều bài viết thường nhắc đến .. “Cái chết của một người giác ngộ và một người không giác ngộ có gì khác nhau?. “
Rồi sau đó vài người bình luận :

A- Cái chết vẫn là một sự tắt ngấm tuyệt đối. Cái chết dù của ai nó cũng có ý nghĩa như nhau, nghĩa là không có ý nghĩa. Người ta nói rằng các bậc chân tu ra đi trong thanh thản, những người mê muội trong đau đớn và thảng thốt. Cái chết là nốt cuối của bản nhạc: nó làm cho bản nhạc toàn vẹn hay là dang dở bất thành. Sự thanh thản đó, nó từ đâu? Từ niềm tin rằng vị chân tu không chết. Chỉ bỏ cái xác trần để đi tiếp

B- Tôi tin rằng sẽ khác nhau và có  khác nhau nhiều lắm chứ. Cái chết của bậc Giác Ngộ sẽ để lại cái gọi là 1 từ trường Thanh thản An Lạc, còn cái chết của chúng sinh những người Vô mình không giác ngộ để lại 1 từ trường đầy những Tham Sân Si. Từ trường này lại được tái sinh tương ưng và vòng Khổ lại được lặp lại.

C- Theo quan niệm Phật giáo, một người giác ngộ không còn chịu luân hồi sinh tử, nhưng điều đó không có nghĩa là họ không chết về mặt thể chất. Khi một người đạt đến giác ngộ, họ được cho là đã kết thúc vòng luân hồi và không còn tái sinh nữa, đây được gọi là “cái chết cuối cùng” hoặc sự chấm dứt của khổ đau. Sau khi đạt giác ngộ, cơ thể vật lý của họ vẫn sẽ trải qua quá trình chết tự nhiên. 

Giác ngộ được coi là việc thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, vì vậy người giác ngộ không còn tái sinh và phải trải qua khổ đau nữa. Tuy nhiên, cơ thể vật lý của họ vẫn có thể chết. Đây là cái chết cuối cùng của sự luân hồi, không phải là cái chết của cơ thể. (Ví dụ: Đức Phật, sau khi đạt giác ngộ dưới cây Bồ đề, đã sống và giảng dạy một thời gian dài trước khi nhập Niết bàn (cái chết thể xác cuối cùng). 
Đọc những dòng chữ này, người viết chợt nghĩ đến những vần thơ xuyên suốt trong tác phẩm “Ngón Tay Chỉ Trăng “ của Như Huyễn Thiền Sư ( HT Thích Từ Thông) đồng thời xem qua những trực chỉ đề cương về những vần thơ đó , người viết đã học được rất nhiều điều mà mình chưa biết.
Thật ra trên vài nghiên cứu cũng nói thêm “ Ngày nay, ít người sợ chết vì một số lý do, bao gồm việc khoa học phát triển giúp con người hiểu rõ hơn về sự sống và cái chết, cùng với việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống thay vì sợ hãi nó.
Ngoài ra, một số người có thể đã chấp nhận cái chết như một phần tất yếu của cuộc đời, đặc biệt là những người có một cuộc sống ý nghĩa, hoặc đơn giản là họ không bị ám ảnh bởi hội chứng sợ chết (thanatophobia). 
Cũng cần nói thêm có lẽ từ năm 1997, trong lời tiểu dẫn cho Chứng Đạo Ca Trực chỉ đề cương, HT Từ Thông đã xác nhân “ Bỉ nhân tôi, một hàng hậu học ,cô lậu quả văn hữu duyên khi nghiền ngẫm tác phẩm Chứng  Đạo Ca tôi cảm thấy như thân tâm mình bay bổng ra khỏi hết mọi vướng mắc ở đời …” nên khi dịch từ Hán văn ra Việt văn với tâm đắc sâu đậm những vần thơ lại càng trác tuyệt để rồi nương theo đó mà những vần thơ trong Ngón tay chỉ trăng đã chịu rất nhiều ảnh hưởng của Chứng Đạo Ca.
Để minh chứng tất cả những vần thơ về Sống chết , đều ngầm một ý hướng của thi ca 19 trong Chừng Đạo Ca —-Kính trích đoạn
Cái Thấy của người Chứng Đạo về Sinh Tử
Phiên âm :
Kỷ hồi tử , kỷ hồi sinh
Sinh tử du du vô định chỉ
Ngã sư đắc kiến Nhiên Đăng Phật
Đa kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên
Dịch nghĩa ( HT Từ Thông)
Việc sinh tử kể sao cùng số
Tử rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi (1)
Bổn Sư ta vô lượng kiếp luân hồi
Làm tiên nhẫn nhục, từ thời Nhiên Đăng Cổ Phật
Và ngài đã chỉ rõ như sau :
(1)Dòng sinh tử, tử sinh cứ trôi mãi không có bến bờ dừng trụ Nó hằng mà chuyển , chuyển mà hằng … trang 69 Chứng Đạo Ca
Bản thân người viết đã có lần ghi chép vào Cẩm nang , “Khi không còn đứng về phía sống, cũng chẳng đứng về phía chết —ấy là lúc ta thật sự đang sống.”và khi đó đã cảm tác :
Ai đến từ đâu mà gọi là sống,
Ai đi về đâu mà gọi là chết?
Sống chẳng thêm điều gì,
Chết chẳng bớt điều chi.
Một niệm như gương lặng,
Phản chiếu cả hư vi.
Nếu tâm không chọn bến,
Thì đâu có sang sông.
Hai bờ đều tan biến,
Chỉ còn nước mênh mông.
Ở đó — không sinh tử,
Không có đến hay đi.
Chỉ có hư không sáng,
Chỉ một dòng tâm,
Mở ra – khép lại – vẫn như như.
“Sinh là cùng chết đi, chết là cùng sinh ra. Cả hai đều là một lẽ.” Trang Tử
(Thơ HH )
Nào mời các bạn hãy cùng nhau tiến sâu vào tư duy của một bậc cao tăng ( Như Huyễn Thiền Sư) với cách nhìn một sự vật, một đối tượng rất khách quan để học thêm những điều từ trước giờ thường ngộ nhận .
1- Có những tên đặc biệt để gọi riêng cho người cao tuổi khi bước qua 60
Đó là : Lão theo Nho gia qui ước có 5 hạng :
1- Lão Hạng trên 60
2- Lão Nhiêu trên 70
3- Lão Điệt trên 80
4- Lão Mạo trên 90
5 Lão Kỳ Hy trên 100
Ngoài ra trong giới thể thao trên 40 dã gọi là Lão tướng
Trang 48 , tập 8 Ngón tay chỉ Trăng
TUỔI NGŨ LÃO
Lão Mạo giờ đây khổ đến nơi
Lão Nhiêu Lão Điệt lướt qua rồi
Từ khi Lão Hạng lên vai lão
“ Lão Tướng “ thành danh Uẩn Giới …suy ( 9/5/2012 Liễu Liễu Đường )
Sư Ông cũng nhắn nhủ “ khỏi cần nói ai cũng biết khi đến tuổi Kỳ Hy thì khó có sự an lành , tỉnh táo, sáng suốt, mạnh khỏe và tự tại trong những hành động đi đứng nằm ngồi và nếu chỉ ngày cũng như đêm mà chỉ quẩn quanh xê dịch trên một chiếc giường …thì đâu còn thú vị “
Hòa Thượng đã chỉ dạy “ Sự vật , sinh trụ dị diệt là chân lý- Vũ trụ , thành trụ hoại không là chân lý- Con người sinh lão bệnh tử là chân lý Sự sống chết của người con Phật nên tâm nguyện theo gương Đức Phật chọn con đường khoảng tuổi Lão Mạo mà ra đi (6/6/2012 Liễu Liễu Đường - tập 8 Ngón tay chỉ Trăng)
2- Với Đạo Phật , CHẾT chỉ là sự diễn biến theo chân lý Vô Thường Vô ngã. vì thế trong bài thơ PHẢN BỔN HOÀN NGUYÊN nói lên cái ngày con người rời bỏ xác thân, cái ngày không còn thọ dụng Ngũ ấm thân, cái ngày mà thất đại trở về không , vậy thôi ..đừng sợ hãi và hãy chấp nhận cái chết dễ dàng hơn nhất là khi đã sống một cuộc đời trọn vẹn,
Trích đoạn bài thơ PHẢN BỔN HOÀN NGUYÊN
Ta sẽ hòa tan với Pháp thân,
Viễn ly ăn cảnh viễn ly trần
Ấm thân vô chủ chừ vô dụng
Duyên khởi từ không , trở lại không
(10/2/2012 Liễu Liễu Đường Tập 8 - dối tượng tham thiền 1 )
3)- Con người không ai dám tự tin tự hào mình làm chủ sánh lão bênh tử được, hãy tùy thuận pháp tánh, tùy thuận chân lý là Chân lý vũ trụ muôn đời . Hàng đệ tử Phật tại gia cũng như xuất gia nếu không tu tập thiền quán không xả ly dược ý niệm tham sống dai sống thọ là không muốn tùy thuận Chân lý vậy (11/5/2015 Thanh Sơn thiếu thất - Đói tượng tham thiền 29 Tập10- Ngón tay chỉ trăng
Trích đoạn bài thơ Phúc Tuệ
Thọ trường nào phải phúc gì đâu
“ Báo chướng “ hoành hành chịu khổ lâu
Sóng cỡ cụ rùa mà quý sống
Sống tày cổ thụ vẫn …rừng cây
Phúc Tuệ đừng cân “ Tuổi , tháng, năm”
Tâm vô vững chãi vượt suy tầm
Người này thẳng tiến Chân Như lộ
Sanh tử thường nhiên chợ hợp tan
( Thanh Sơn thiếu thất 3/1/2015)
Và sau cùng xin trích đoạn đề tài tham thiền về “Số Phận” trong tập 10 “Ngón tay chỉ Trăng” như một tư duy về sự chi phối của định luật Vô thường, nhưng vấn đề là khổ lạc của kiếp người , cái tâm ta có thể xây dựng và tạo ra tất cả , không hễ là con người, hễ là nhân sanh thì số phận bẽ bàng và thống khổ như nhau mà nên nhớ Đức Phật là Phật đã thành - Chúng sanh là Phật sẽ thành và vì vậy đừng tin vào số phận cũng đừng chờ tới giờ phút cuối để thần chết đón .
SỐ PHẬN
Kiếp sống già nua nghĩ đoạn trường !
Tay run , chân yếu trí lang bang
Nói năng lạc lõng đề không trúng
Ý tưởng quàng xiên chuyện giống điên
Con cháu những mong, ngày ít gặp
Thân bằng nhớ đến chạnh lòng thương
Đời người phải vậy hay sao nhỉ ?
Cái phận nhân sanh lắm bẽ bàng
Liễu Liễu Đường 5/7/2013
Lời kết
 
Con người thường coi cái chết là đáng sợ và tìm đủ mọi cách để kéo dài sự sống. Thật ra cái chết rất là kỳ diệu, nó không phải là sự mất mát cuối cùng, mà là bước chuyển tiếp sang một hình thái tồn tại mới. Cái chết và sự sống là hai thành phần của một quá trình liên tục.
Cuộc sống là một phần của cái chết, và cái chết là một phần của cuộc sống.
Và khi nhìn thấy được “cái chết là một phần của cái sống, và sự sống là một phần của cái chết” nghĩa là chúng ta chấp nhận đã nhìn thấy mối liên hệ tuần hoàn giữa hai mặt tưởng chừng đối nghịch, nhưng thực ra chỉ là hai nửa của một thực tại duy nhất
Và câu nói này cũng là một trong những tư tưởng thâm sâu nhất mà nhân loại từng chiêm nghiệm — nó chạm đến tận gốc rễ của sự hiện hữu.
Và cũng xin kính mời các bạn chiêm nghiệm thêm về lời chỉ dạy này : “Khi bạn đạt được giác ngộ, đó sẽ là cái chết cuối cùng của bạn. Bởi vì giác ngộ được coi là có giá trị vô cùng to lớn, chỉ những người giác ngộ mới thực sự chết. Những người chưa giác ngộ… điều đó rất khó – họ cứ tiếp tục quay lại, họ không bao giờ chết. Chỉ người giác ngộ mới có thể đối mặt với cái chết; người chưa giác ngộ không thể chịu đựng được, họ chưa sẵn sàng. Cuộc sống là một ngôi trường, và trừ khi bạn học được bài học, bạn sẽ phải trở lại lớp học đó hết lần này đến lần khác. Khi bạn đã học được bài học, đã vượt qua kỳ thi, thì ngay cả khi bạn muốn quay lại lớp học, bạn sẽ thấy tất cả các cánh cửa đều đã đóng lại với bạn. Bạn phải tiến lên cao hơn, đến một bình diện khác của sự tồn tại.”
~Osho
Trộm nghĩ Hoà thượng Từ Thông đã tâm đắc với câu “Kỷ hồi tử, kỷ hồi sinh” – Ai đã từng sống biết bao kiếp, từng chết biết bao lần, có nghĩa là Ngài đã nhìn thấy bản chất vô thường, là thấy vòng luân hồi của kiếp nhân sinh và lúc ấy
khổ – vui chỉ là những cơn gió thoảng trong đại dương tâm thức. Và chúng ta càng suy ngẫm về cái chết, càng giúp chúng ta biết giá trị của sự sống; biết cuộc sống không dài lâu nên an nhiên sống đời lành thiện, thay vì miệt mài toan tính bất an. Sự có mặt ngắn ngủi trong thân xác mong manh, nên sử dụng cách nào đem an vui tới cho mình và cho người. . Dù ta có mặt hay không, đời sống vẫn tồn tại. Vũ trụ đã hiện diện hàng tỷ năm qua, chúng ta được tham dự một phần rất nhỏ.
Có lẽ chỉ khi tâm an trú trong “như như”, không còn thấy ranh giới sinh tử, chỉ còn thấy sự vận hành của duyên khởi.
Điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi cách sống, chứ đời sống chẳng đổi thay . Ngoài ra ý thức về cái chết là việc rất cần thiết, chúng ta sẽ không hoảng loạn trong giờ phút cuối. Lúc đó, chúng ta không thể dựa vào bất cứ gì từ bên ngoài, mà chỉ trông cậy vào chính mình, đồng thời phải thấy được giữa sự sống và cái chết chúng đã liên kết nhau tạo nên cuộc hành trình vĩnh cửu của tâm hồn.
Ra Đi Đúng Thời
Thân này như chiếc lá,
Mùa sang, lá rụng thôi.
Không gió nào cưỡng lại,
Không lá nào van nài đời.
Một hơi thở dừng lại,
Không phải là mất đi.
Chỉ là dòng nước nhỏ,
Về lại biển vô vi.
Người đi không hẹn nữa,
Mà hoa vẫn nở quanh.
Vì trong từng hơi nắng,
Vẫn có bóng ta lành.
Không tiếc, không mong chi
, Chỉ mỉm cười một chút.
Vì biết thân như mộng,
Chỉ có sóng khởi, sóng tan.
Tâm không sinh, không tử
Ra đi khi gió thuận,
Luôn đứng giữa hai bờ,
Không trái nhịp thiên nhiên.
Tâm rỗng như hư tịch,
Chính đó là bình yên.
Kính trân trọng
Sydney 2/11/2025
Phật Tử Huệ Hương
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2010(Xem: 13216)
Bao gồm nhiều ngạn ngữ dân gian phản ánh đời sống tâm lý của người dân TQ trong xã hội xưa, “ Tăng quảng hiền văn” là sự thể hiện tư tưởng của Nho Giáo, Đạo Giáo, Lão Giáo, mang tính triết lý cao. 1 Tích thì hiền văn, hối nhữ truân truân, tập vận tăng quảng, đa kiến đa văn. Lời hay thuở trước, răn dạy chúng ta, theo vần cóp nhặt, hiểu biết rộng ra. 2 Quan kim nghi giám cổ, vô cổ bất thành kim. Xem nay nên xét xa xưa, ngày xưa chẳng có thì giờ có đâu. 3 Tri kỷ tri bỉ , tương tâm tỷ tâm. Biết mình phải biết người ta, đem lòng mình để suy ra lòng người. 4 Tửu phùng tri kỷ ẩm, thi hướng hội nhân ngâm. Gặp người tri kỷ ta nâng cốc, thơ chỉ bình ngâm mới bạn hiền. 5 Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân. Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người. 6 Tương phùng hảo tự sơ tương thức, đáo lão chung vô oán hận tâm. Gặp lại vui như ngày mới biết, chẳng chút ăn năn trọn tới già.
27/09/2010(Xem: 6169)
Có người không hiểu Phật, than Phật giáo tiêu cực, nói toàn chuyện không vui. Từ đó Tăng ni chỉ được nhớ tới trong những ngày buồn như đám tang, cúng thất, cầu an cho người sắp đi. Rồi thì người ta còn đi xa hơn, xuống thấp hơn một tí, là khi nói đến Tăng ni là họ tưởng ngay đến những người mất sạch, một cọng tóc cũng không có. Thậm chí họ cho mình cái quyền châm chọc khiếm nhã khi nhìn thấy Tăng ni đâu đó. Một chuyện mà có uống mật gấu họ cũng không dám làm đối với những người thế tục cạo trọc.
06/09/2010(Xem: 24952)
Văn Tế Thiên Thái Trí Giả Tác giả Đại Sư Tuân Thức Việt dịch: Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm *** 1. Nhất tâm đảnh lễ Thiên Thai Trí Giả trong núi Đại Tô tu Tam Muội Pháp Hoa Tâm tâm tịnh thường lại qua pháp giới Như mặt nhật trên không chẳng trụ không Ba ngàn thật tướng tức khắc viên thông Tám vạn trần lao đều đồng chân tịnh. Xưa hội kiến Linh Sơn còn hoài niệm Nay toàn thân bảo tháp thấy rõ ràng Nếu chẳng cùng sư Nam Nhạc tương phùng Ai biết được tướng thâm sâu thiền định?
01/09/2010(Xem: 5417)
Vườn hoa Phật Giáo mênh mông, với nhiều sắc thái thành muôn màu rực rỡ. Mỗi đóa hoa đều có sắc có hương, để thành vẻ đẹp đặc thù của Phật Giáo. Chúng ta thấy đại dương rào rạt bao la không bờ bến, nhưng giọt nước nào cũng mang vị mặn của muối. Chánh Pháp của Đức Như Lai vô lượng vô biên, nhưng pháp nào cũng đều mang hương vị của giải thoát.Mỗi Vị Tôn Đức hoằng pháp đều có một phong cách riêng, có những tư tưởng nhận định riêng. Vị nào còn trẻ khoẻ thì thích đi hoằng pháp các nơi.
28/08/2010(Xem: 5602)
Du Hôn (truyện ngắn của Nhật Hưng)
27/08/2010(Xem: 5910)
Tuy không phải là bạn thân nhưng tôi quen biết anh ấy từ lâu, thời còn ở trung tiểu học. Anh ấy thuộc một gia đình khá giả, bố mất sớm, thông minh học giỏi. Ra trường, làm việc cho một công ty lớn, được cấp nhà ở, và ai cũng có thể thấy ngay anh là một người thành đạt, có một tương lai xán lạn và là niềm hãnh diện cho gia đình. Nhưng…những chữ nhưng thường làm dang dở cuộc đời. Có nhiều chuyện thật oái oăm và không thể lường trước được có thể xảy ra làm thay đổi một cuộc đời. Và những chuyện không ngờ đó một hôm đã xảy ra, đã đưa anh vào cảnh tù tội một cách oan ức.
17/08/2010(Xem: 18339)
Lâu nay tôi thường cùng các thi văn hữu trao đổi với nhau những bài thơ, câu đối như là một thú vui tao nhã. Về thơ thì tôi vừa mới tập hợp thành tác phẩm Mưa Hè (nhà xuất bản Hồng Đức - quý hạ 2013). Riêng về câu đối, với tính chất riêng của nó, tôi tập hợp thành tập Thiền Lâm Ứng Đối hợp tuyển này, bao gồm một số câu đối trước đây đã được in và phát hành dưới dạng “Lưu hành nội bộ”, và một số câu đối đã được làm trong thời gian sau này. Những câu đối trong tập cũ in lại có hiệu đính, phần nhiều ở câu dịch nghĩa. Đa số những câu đối có nhân duyên từ các chùa trong tỉnh, ngoại tỉnh và một số chùa ở nước ngoài nhờ làm để trang trí. có câu còn ghi chú rõ, có câu tôi không còn nhớ làm cho chùa nào, ở đâu. Kính xin chư Tôn đức cùng quí chùa hoan hỉ.
10/08/2010(Xem: 9761)
Diễn văn của luật sư Georges Graham Vest tại một phiên tòa xử vụ kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Saller của The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các bài diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 100 năm qua.
16/07/2010(Xem: 27501)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
08/07/2010(Xem: 6877)
Ngày Về Nguồn được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2007 tại chùa Pháp Vân, Canada đã khiến nhiều người bàn tán xôn xao. Họ xôn xao có lẽ một phần bỡ ngỡ trước danh từ Về Nguồn, vì một số không được cái may mắn có nguồn để về. Họ không cảm thấy rung động khi nghe câu ca dao: Cây có gốc mới xanh cành tươi ngọn Nước có nguồn mới biển cả sông sâu