Diện Kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma

19/10/202508:11(Xem: 3804)
Diện Kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma

tam nhien-1


Hôm nay, 14. 10. 2025 là đúng một năm, sau ngày gặp đức Đạt Lai Lạt Ma (14. 10. 2024) tại Dharamsala, trên tuyệt đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, Ấn Độ.
Bữa đó, có Trúc Giang, Quang Vũ, Vũ Minh, Miên Di cùng đi.
Một chuyến đi quá tuyệt. Xin đăng lại kỷ niệm đáng nhớ này.

DIỆN KIẾN ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Buổi sáng hôm nay (14. 10. 2024) cũng giống như buổi sáng của hàng ngàn năm trước, nhưng hoàn toàn tân kỳ, mới lạ. Bởi vì, được diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma. Một lần diện kiến Đạt Lai Lạt Ma là một lần chấn động, giống như trong chiêm bao kỳ ngộ Đức Phật hay hạnh ngộ Krishnamurti vậy.
Bồi hồi, xúc động, du sỹ kính tặng Ngài thi phẩm Diệu Tâm Ca và đọc vang lên bài kệ:

“Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điển
Ưng tác như thị quán”
Và đọc một bài thơ như để cúng dường:
Sớm tinh mơ dậy ngày tuyệt bích
Trên đỉnh ngàn cao Hy Mã Lạp Sơn
Đến thăm một con người vĩ đại
Mà cảm điều chi ngợp cả hồn
Đạt Lai Lạt Ma cười thánh thiện
Truyền âm nhập mật Đại từ tâm
Khơi mở suối nguồn thương vô lượng
Chảy qua lòng thẳm thấm mạch ngầm
Lòng thương yêu ấy đầy tuệ trí
Khi nắm bàn tay thật ấm nồng
Bỗng cao hứng đọc bài thơ tặng
Cho Ngài giữa vạn pháp Tánh Không
Ngài mỉm cười hoan hỷ, cầm tay thật chặt. Sự việc ấy diễn ra chỉ vài phút giây thôi nhưng giây phút ấy là vĩnh cửu, thiên thu...
Toàn bộ tác phẩm của Đạt Lai Lạt Ma đều khơi mở suối nguồn Đai bi tâm và khai phóng thông lộ mênh mông Không Tánh. Ngài nói, Tánh Không là cốt tủy, tinh túy nhất của Phật giáo Đại thừa:
“Một trong những tuệ giác sâu sắc nhất của Phật giáo là Tánh Không. Cốt tủy của Tánh Không là sự nhận biết có một sự chênh lệch rất lớn giữa những gì tri giác của ta cảm nhận được về thế giới (trong đó có sự hiện hữu của chính ta) và bản chất thực sự của sự vật.
Trong cuộc sống hằng ngày, ta thường xem bản thân và thế giới này có một thực tính cách biệt, xác định riêng rẽ và lâu bền. Chẳng hạn, thử thẩm định tri kiến của ta về cái tôi, ta sẽ thấy rằng, ta có khuynh hướng tin tưởng thực có một “cái tôi” trong ta, một “cái tôi” cá nhân có lý lịch riêng biệt, tồn tại biệt lập với những yếu tố vật chất và tinh thần làm nên sự hiện hữu của ta.
Thế nhưng, triết học Tánh Không cho ta biết rằng, cái nhìn này không những là một sai lầm căn bản mà còn là nguồn gốc của những luyến ái, bám chấp và dẫn đến vô số những thiên kiến, định kiến của ta.
Theo thuyết Tánh Không, bất kỳ một sự tin tưởng nào vào một sự hiện hữu có tính cách nội tại và biệt lập đều không bền vững. Tất cả sự vật và sự kiện – hữu hình (sắc) hay vô hình (vô sắc) ngay cả những khái niệm trừu tượng như thời gian – đều không thể tồn tại một cách khách quan, biệt lập...
“Tánh Không, không có nghĩa là mọi thứ không tồn tại mà là không có một “cái tôi” hay “bản chất” cố định, độc lập và vĩnh cửu trong bất cứ sự vật, hiện tượng nào. Mọi thứ đều nương tựa vào các điều kiện và nguyên nhân khác để hình thành và tồn tại.
Hiểu và quán chiếu Tánh Không giúp ta nhận ra rằng các sự vật không có bản chất riêng, không có tự ngã chi cả. Từ đó giúp ta buông bỏ sự chấp trước, bám víu, ham muốn, vô minh, sân hận, dẫn đến sự giải thoát.
Sự hiểu biết về Tánh Không giúp ta nhận ra sự phụ thuộc lẫn nhau của vạn vật, đất trời. Từ đó, phát triển lòng từ bi và tình thương đối với tất cả chúng sinh...”
Tình thương yêu vô điều kiện, thiết tha đầy tấm lòng bao dung, rộng lượng, đức Đạt Lai Lạt Ma đã mang đến tặng cho nhân loại một bài thơ Tánh Không Đại Bi Tâm rồi đó.
Chỉ cần chúng ta biết ứng dụng vào đời sống thường nhật là trổ ngát nụ cười thanh thản, an nhiên giữa dọng đời miên man, bất tuyệt...
Tenzin Gyatso, hay thường gọi là Đạt Lai Lạt Ma, thứ 14, sinh ngày 6. 7. 1936 trong một gia đình nông dân ở Tây Tạng. Mới vừa 2 tuổi, được công nhận là hóa thân của Thubten Gyatsso - Đạt Lai Lạt Ma, thứ 13.
Đức Đạt Lai Lạt Ma, thứ 14 là bậc lãnh đạo tinh thần của dân Tây Tạng. Họ cho Ngài là hiện thân của Bồ tát Quán Thế Âm, vị Bồ tát có lòng Đại bi vĩ đại, rộng lớn.
Năm 1959 (23 tuổi) Ngài được trao bằng Tiến sỹ Triết học Phật giáo. Sau đó, cuối năm 1959, Trung Quốc xâm lược, tràn qua tấn công, đánh chiếm Tây Tạng quá dã man, tàn bạo. Tình thế nguy hiểm, bắt buộc Ngài phải qua tị nạn ở Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, từ đó cho đến bây giờ.
Năm 1987 tại Quốc hộ Hoa Kỳ, đức Đạt Lai Lạt Ma đã đề xuất một kế hoach Hòa Bình cho Tây Tạng. Năm 1988 trong một bài phát biểu tại Nghị viện Châu Âu ở Strasboung, Ngài đề nghị các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Tây Tạng, nhằm đưa đến một giải pháp dân chủ tự trị cho cả ba tỉnh của Tây Tạng...
Năm 1989 Ngài được trao giải Nobel Hòa Bình về cuộc đấu tranh bất bạo động cho sự nghiệp giải phóng Tây Tạng. Ngài trở thành người đạt giải Nobel đầu tiên được công nhận, vì sự quan tâm của Ngài đối với các vấn đề môi trường toàn cầu.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đi đến hơn 70 quốc gia trên thế giới, tham gia vào những cuộc đối thoại với các nhà khoa học hiện đại, bàn về các lãnh vực tâm lý thần kinh học, vật lý lượng tử và vũ trụ học. Ngài đã xuất bản hơn 100 tác phẩm giá trị, được dịch ta nhiều thứ tiếng trên toàn cầu.
Thấu triệt nguyên nhân dẫn đến khổ đau, những lời dạy của Ngài rất hữu hiệu, thiết thực, giúp mọi người chuyển hóa hết mọi phiền não, khổ đau. Mỗi ngày khi thức dậy, hãy nghĩ rằng mình thật may mắn, vì vẫn còn sống. Mình dùng toàn bộ năng lượng để phát triển bản thân, yêu thương mọi người. Luôn luôn nghĩ tốt về người khác và không nổi giận, sân si với họ...
Sự im lặng, đôi khi là câu trả lời tuyệt vời nhất. Tình yêu và lòng trắc ẩn là những thứ tất yếu chư không phải xa xỉ. Không có những điều này, nhân loại không thể tồn tại.
Mục đích của tôn giáo là trở về nhận diện con người đích thực, bản lai diện mục của mình. Từ đó, khơi mở đại bi tâm, lan tỏa tình yêu, lòng trắc ẩn, tính kiên nhẫn, sự khiêm tốn, vị tha và lòng bao dung, yêu thương vô điều kiện: “Mục đích chính yếu của đời sống này là để giúp đỡ người khác. Nếu bạn không thể giúp đỡ gì cho họ thì ít nhất cũng đừng làm hại họ...”
Cho đi, tặng biếu, tâm tình hiến dâng với tất cả sự chân thành, tha thiết niềm Yêu thương vô lượng: “Tôn giáo của tôi rất đơn giản, đó chính là lòng Yêu thương. Tình thương và lòng nhân ái luôn luôn là điều thích hợp. Dù quý vị có tin vào luân hồi hay không thì trong đời sống này, Tình thương vẫn là điều không thể thiếu. Nếu trong tâm có Tình thương thì ta mới có hy vọng xây dựng được gia đình chân thật, tình huynh đệ chân thật, tâm bình đẳng chân thật và hòa bình chân thật...”
Rất là dễ hiểu phải không? Tình thương bao la đó, tất cả mọi con người trên mặt đất đều sẵn có, tất cả mọi tôn giáo đều xiển dương, đề cao: “Tôi cho rằng Phật giáo, Nho giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Kỳ Na giáo, Do Thái giáo, Sikh giáo, Đạo giáo, Bái Hỏa giáo... đều tôn vinh Tình thương, nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho nhân loại...”
Bài ca Tánh Không, Đại bi tâm hay Bồ đề tâm ấy, mãi mãi vang lên trên từng bước đi của Đạt Lai Lạt Ma và thường đồng vọng cùng bước đi của Krishnamurti, một cách vi diệu trên vạn nẻo đường nhân thế, hòa quyện giọt lệ, nụ cười giữa thiên thu, vĩnh cửu...
Tâm Nhiên
(Hy Mã Lạp Sơn 14. 10. 2024)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/12/2012(Xem: 5842)
Bước lên chiếc Lambretta hàng, tôi tự nhiên thấy Trâm ngồi thu hình ở một góc xe. Tôi quen Trâm một tháng trước. Nàng là y tá viên điều dưỡng vừa ra trường chưa được một năm. Đang làm việc ở Đà Nẵng thì có giấy đổi vào Nha Trang. Hôm mới vào nàng tìm đến địa chỉ tôi do lời dặn của anh Hiệp, anh rể nàng. Hiệp là bạn học của tôi hồi ở trường Khải Định. Có một cô em làm việc bị đổi đi tỉnh xa Hiệp viết thư giới thiệu cho tôi, gián tiếp thay anh để tuỳ cơ giúp đỡ cô em nhút nhát. Sau khi đọc thư của Hiệp, tôi hỏi:
17/12/2012(Xem: 6635)
Cách đây mấy năm, trên một chuyến xe đò muộn về thăm quê. Khi xe đi ngang qua cầu Ngân Sơn, thì lúc ấy đã 5 hay 6 giờ chiều. Dù đã nhiều lần đi qua đây, nhưng có lẽ buổi chiều cuối xuân năm ấy, là buổi chiều mà tôi đã nghĩ nhiều nhất về Võ Hồng. Tôi tưởng tượng rằng, hồi còn nhỏ chắc mỗi chiều ông vẫn thường ra đứng ở nơi này, để nhìn ráng đỏ nơi rặng núi phía Tây kia ? Rồi nhìn bóng chiều xuống chậm trên dòng sông này? Chắc phải vậy! Vì trong tác phẩm của Võ Hồng thì cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của đất trời, tôi cho là những cái đẹp mà Võ Hồng đã viết hay nhất. Nhưng trong cái đẹp đó, Võ Hồng luôn luôn đưa vào thiên nhiên một chút sầu, hay ngậm ngùi cho một cái gì đó đã hay đang sắp mất đi trên cuộc đời này. Tại ông bi quan chăng? Hay tại vì cái đẹp mong manh của những buổi chiều tà trên dòng sông tuổi thơ dạo nào cứ ám ảnh ông mãi.
10/12/2012(Xem: 4654)
Đúng là những ngày tháng không quên thật! Sau 30.4.75, tôi bị ở lại Việt Nam là một điều quá ngu xuẩn rồi. Tự mình làm hại mình và hại cả tương lai con cái nữa. Niềm đau này thật không làm sao phôi pha được với thời gian, vết thương trong lòng tôi cứ chua xót ngậm ngùi!
05/12/2012(Xem: 5163)
Khách là một đại hán vạm vỡ, vận chiếc trường bào màu xám tro, nước da đen sạm; ngựa là một loại thiên lý câu sắc hung sẫm, bờm cao, bụng thon, lưng dài. Cả hai hình như đã vượt qua hằng ngàn dặm đường nên khi đến địa phận Trấn ma lâm, vó gõ trên mặt dốc sỏi không còn ngon trớn nữa mà chậm dần, chậm lại dần... Đến góc núi, bỏ đường lớn, người và ngựa thong thả nước kiệu qua ngọn đồi tràm và thông mọc lưa thưa chen lẫn đá hoa cương và đá tổ ong.
28/11/2012(Xem: 7778)
Trong tác phẩm Những tư tưởng gia vĩ đại của Phương Đông (Great thinkers of the Eastern world) tác giả IAN P. Mc GREAL đã nhận định rằng: “Toàn bộ thơ Tagore là những lời tình và ông đã tự nhận là người tình của nhân loại.”[1]
10/11/2012(Xem: 6616)
Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in, hồi nhỏ sống trong căn nhà tranh nơi một làng quê nghèo khổ ở miền Trung. Vào những buổi xế chiều cuối tháng 6 hoặc đầu tháng 7 âm lịch, mẹ tôi hay vắng nhà, bà đi ra đồng nhổ cỏ ruộng hoặc hái rau. Còn lại một mình ở nhà, không biết làm gì, tôi thường leo lên nằm trên chiếc võng treo ngay nơi cửa chính ra vào. Tôi nằm yên nhìn những đám mây đen đang tụ lại nơi những rặng núi xa ở phía Tây, những đám mây đó như báo hiệu những ngày đông giá rét lê thê đang sắp đến nơi làng quê nghèo khổ này. Thỉnh thoảng tôi còn nghe những tiếng sấm từ chân trời xa vọng lại.
05/11/2012(Xem: 5518)
Họ, bắt đầu gồm 7 người, chúng tôi hay gọi đùa là “thất tiên„. Nhưng toàn là tiên…bị đọa, là đà dưới đất mấy chục năm rồi, dễ chừng đã trên 50, 60 có tiên còn trên 70 năm. Các tiên không ở…cõi trên múa lụa, chỉ nằm dưới trần múa bút (đã bảo bị đọa mà!). Vâng, đúng vậy, họ là những cây bút nữ báo Viên Giác Đức quốc chuyên cầm bút múa may quay cuồng trên báo Viên Giác. Rồi một ngày đẹp trời, họ được Hòa Thượng Phương Trượng cùng anh chủ bút Phù Vân gom lại “múa chung„ qua tác phẩm “Những Cây Bút Nữ Báo Viên Giác „ (đó là cuốn 1)
03/11/2012(Xem: 5844)
Nhưng nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đã từng làm tướng rồi sau đó mới “tuốt dép lánh xa khỏi nơi doanh liễu”. Vậy thì bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã làm tướng cho triều đại nào? Theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài, trong những tác phẩm đã tìm lại được thì chỉ có tác phẩm Xuất gia tối lạc tỉnh thể tu hành vãn là Toàn Nhật có nhắc đến triều đại nhà Nguyễn: Ấy triều đại cổ kim thật lục Nối truyền qua bản quốc Nam thiên Những vì thánh chúa tôi hiền Tượng kinh tôn trọng chùa chiền nghiêm trang.
02/11/2012(Xem: 6279)
Cách đây hơn một năm, nhân dịp vào Sài gòn, tội nhờ một người thân, dù sanh ra và lớn lên sau 1975 nhưng lại rất say mê thơ Hòai Khanh ( thầy NM) Chở tôi đi Biên Hòa để thăm Hòai Khanh. Mặc dù đã đọc thơ và quen biết từ nhữnng năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, nhưng tôi chưa có dịp nào đến Biên Hòa để thăm ông, dù những câu thơ của ông nói đến đất Biên Hòa thì tôi đã đọc từ lâu lắm rồi: Tôi về vun xới vườn hoa Cho em là gái Biên Hòa, Hàm Tân Cho tôi là kẻ cô thần Nằm đây gởi mộng dậy ngàn sương xanh
28/10/2012(Xem: 6082)
Ông Don Jacquish ở Mỹ đã tỉ mẫn trồng hàng cây số hoa hướng dương để phục vụ khách tham quan gây quỹ nghiên cứu bệnh ung thư, sau khi vợ ông qua đời.