Các Cõi Phước Báu

16/10/202516:16(Xem: 1408)
Các Cõi Phước Báu
The Gioi Cuc Lac



CÁC CÕI PHƯỚC BÁU


Trên hết là các cõi thiên, những tầng trời có hạnh phúc lớn. Dù cõi còn nặng lòng trược và dục tham; có cõi tâm thể nhẹ nhàng, đã buông hết những sự dục phiêu lưu. Cao nhất chính là cõi vô sắc; chư thiên vùng này đã không còn lụy sắc, vướng tình như các cõi kia.

Xét về chi li trong mọi tầng cảnh cao thấp thì tùy vào nghiệp báo của chúng sinh. Thực tế trong tự thân mỗi người đều có chủng tánh của các tầng trời vi diệu, khi con người tịnh hóa được ba nghiệp của mình; từ ý nghĩ, lời nói đến hành động đều chứa đựng thiện pháp. Sau khi chết con người sẽ sinh về các tầng trời hưởng thụ phước báu. Tuy nhiên, phước báu trời người chưa phải là mục tiêu tối thượng của sự chứng đắc. Dưới đây là sự phân loại các hạng trời từ thấp đến cao:

Phước danh tối thượng là quyền uy tột đỉnh, là sự vẹn toàn của vinh hoa thế cuộc. Một vị vua cao trên, một đế chế hùng mạnh; nay thì tổng thống một quốc thổ, nhìn chung đều là phước danh cao cả. Loại phước này không do hành trí, hạnh xã mà có, mà đến từ phước duyên hữu lậu (còn sinh tử) sinh ra. Hạng này thích bố thí, cúng dường và làm các thiện sự đối với thế gian. Cả đời trọn sống trong an vui, thiểu dục; không gây tổn hại cuộc đời. Họ đến như những bông hoa thơm ngát, ban hương sắc rồi đi. Dù vậy, con đường thánh trí của họ vẫn chưa trọn vẹn. Vì là hữu lậu tất sẽ diệt vong, quả chín sẽ rụng, hoa thơm cũng tàn. Ngược lại, có hạng khi được thiên hạ ca tụng thì tỏ ra kiêu ngạo, nghênh ngang, nhất định sẽ dẫn đến bại vong. Đây là thế gian thiên, những vị trời có mặt tại nhân gian.

Một hạng khác thù diệu hơn, đó là thiên cảnh. Người sau khi chết mang theo phước báu đã gieo tạo mà sinh về đây. Nơi này có 26 tầng trời, bao gồm 6 tầng cõi dục, 18 tầng cõi sắc và 4 tầng của vô sắc. Dù tầng trời nào đi nữa, hễ con người được sinh về đây thì tuổi thọ muôn trùng, sống đời nhàn lạc, nhan sắc trắng sạch, di chuyển qua lại bằng các sức mạnh thần thông. Trời thọ dục thì còn nặng dục tính; trời sắc cảnh thì dục lụy không còn nhưng sắc cảnh còn vương; trời vô sắc thì hình dung, dục tánh đều biến mất, nhưng ngã chấp vẫn còn. Nhìn chung, kẻ được sinh vào các cõi trời mà không tiếp tục tu hành để vượt sinh tử thì dù có trăm ngàn triệu tuổi, hưởng thụ vinh hoa thượng thừa, rồi cũng có ngày phước cạn, đức nông mà rơi xuống các triền sâu địa ngục. Đây chính là sinh thiên, tức các cõi trời thực thụ.

Một số vị rõ biết cảnh trời không đáng sống, bởi phúc vị và danh hương còn dầy hệ trược, sinh ưu lự sầu lo, nên cần được phủi bỏ. Vì chúng là chướng duyên, quái ngại, gây cản trở bồ đề tâm và làm lu mờ chí nguyện giải thoát, rồi chư vị cùng hiện xuống trần để yết kiến, đảnh lễ Thế tôn, lắng nghe lời dạy. Các vị thật vui mừng vì Thế tôn đã trình bày con đường, chỉ rõ bản chất mong manh của kiếp sống thiên giới. Từ đó, họ phát nguyện nương theo từng bước hành trì thật miên mật, lòng không phóng dật, giữ vững chánh niệm, tỉnh giác hiện tiền và tuần tự đạt chứng các tầng thiền sắc giới. Không dừng lại ở đó, họ còn vượt xa hơn vào các quả vị thanh văn, từ Tu đà hoàn đến đạo quả thâm diệu A la hán, chấm dứt hoàn toàn tử sinh. Đây chính là “tịnh thiên”.

Còn một hạng cuối cùng thù thắng và cao đẹp hơn, đó là nhóm chúng vi diệu của Bồ tát đạo. Hạng này đã vượt lên sinh tử, chấm dứt khổ đau. Lòng xem chúng sinh như con đỏ. Sáu cõi mênh mang, ba đường hạn hẹp, đó không còn là nơi chốn đắm say của chư Bồ tát. Với các ngài, việc đi đến an nhiên, vãng lai tự tại, tuyệt không vướng lụy trần duyên. Từ nội cảnh, ngoại trần đến xa gần cuộc thế, các ngài đã hoàn toàn chiến thắng các thế lực của ác ma. Bồ tát bằng lòng bi mẫn mà tái sinh, vì nguyện lớn mà thị hiện, nơi nào cần đến thì đến, xong việc thì đi. Dù là cõi trời hay ác đạo chìm sâu thì trái tim chư vị vẫn rạng ngời lòng Bi Mẩn. Đấy gọi là “nghĩa thiên” vậy.

Thiên Lợi

🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️

NẮM VỮNG NHỊP SỐNG

Dừng lại một nhịp sẽ tạo ra bao lắng đọng đất trời. Chạy nhanh quá, chân sẽ mỏi, lòng sẽ mệt hơn. Nhịp mà bạn nắm được, nó là cốt lõi của hành trình. Am hiểu được nhịp khúc thì mỗi hơi thở sống, sự trải đời của bạn sẽ vững cố hơn.

Nhịp cũng tựa như mắc lưới. Nếu mỗi mắc được tạo ra tỹ mỹ, cẩn thận thì một mạng lưới được kết nhau thật hoàn hảo. Chú tâm vào từng nhịp sống là nghệ thuật của một kẻ lữ hành đi trên quang lộ. Dù sống như một bông hoa hay một áng mây tan vội thì cũng phải trọn lòng với từng nhịp sống của mình.

Thế giới có mênh mông, lòng đời dù vô hạn, thì tiếng vang đất trời cũng chỉ là một nhịp. Ầm lên một tiếng có thể khiến bầu trời tan rã; và tiếng vang đó làm rơi rụng cõi mê. Ngày xưa có vị tổ sư cũng “ầm” lên một tiếng mà đã giúp cả một dòng thiền nở hoa, khiến cái mê của người học trò bừng ngộ. Đó là một nhịp.

Thật vậy, nếu bạn ngộ ra lẽ sống thì cái NGỘ không đến từ quá khứ hay tương lai, mà chính cái “ngộ” đến từ một nhịp khoảnh khắc. Phật dạy, hạt lành chưa có thì gieo; hạt ác không có thì dừng. Khoảnh khắc then chốt ấy chính do bạn nắm vững nhịp sống. Ồ, ta đã hiểu hay ta đã sai thì cũng là một nhịp quyết định.

Tổ gọi đó là “niệm”. Niệm hay nhịp đều nằm trong then chốt, mắc xích. Cái mắc xích vụng vỡ, rong rêu sẽ làm đoạn đứt tất cả hành trình. Bà cụ tay lần chuỗi, vô tình phóng tâm, một hạt đứt rời, làm cho cả xâu tan vụn.

Vậy ta hãy đứng lên mạnh mẽ một lần và hãy bước một bước thật quyết định, bàn chân đạp đất, hãy nắm vững một nhịp thiêng liêng để cả phương trời rộng mở hiện ra.

Thiện Lợi

🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️

Thuyền đời chở nặng....

Thuyền đã quá tải và lướt trên mặt sóng thật chậm chạp. Người lái thuyền cố điều chỉnh không cho chao đảo giữa sóng ngầm. Ông cố gắng hết sức bằng đôi tay khéo léo của mình, lách qua những dòng xoáy, đá ghềnh một cách bản lĩnh. Thế là thuyền đã bình yên.

Thuyền có bình yên thật không? Bởi ông lão không tài nào biết được một cơn gió sắp tới hay ghềnh đá ngầm sâu. Nhưng ông vẫn tự tin với kinh nghiệm vốn có của mình, “ta dư sức đối phó dù thử thách thế nào” và rồi ông tự trách “phải chi thuyền nhẹ tênh thì hay biết mấy”. Thuyền vẫn lướt trôi, trôi đến đâu, ông lo đến đấy. Tay ông bắt đầu rung, lòng cảm thấy hốt hoảng vì một chiếc thuyền khác lớn hơn đang đi ngược lại. Lúc này, sự tự tin nơi ông dường như vụn vỡ. Cái kinh nghiệm lèo lái cũng trở thành mong manh. Ông lách thuyền sát bờ, mặt hướng trời cao thầm khấn.

Ông khấn gì? vâng, ông khấn cho sự bình yên. Nhiệm mầu thay, chiếc tàu lớn đi ngang mà thuyền ông vẫn bình an vô sự. Ông lạy trời tri tạ, lạy thủy thần ban ân. Thế là ông cho thuyền đi tiếp. Con sông dài phía trước còn có nhiều khúc quanh, chỗ sâu chỗ cạn, gò nổi ven bờ. Nếu là thế, ông phải làm sao đây khi sức ông có hạn? Một lần nữa chính ông tự trách “phải chi thuyền không chở nặng, hạnh phúc biết bao”.

Những câu ước muộn màn của ông được lặp đi nhắc lại nhiều lần. Không biết sự linh thiêng còn được mấy lần nữa? Thoạt đầu chỉ là một chiếc tàu đi ngược, tiếp theo là gì? nếu là bão lớn hay mắc cạn thì phải làm sao? Lúc này ông lão nghĩ gì? Nên phó thác cho vận trời hay còn tin vào bản lĩnh thực có? Cả hai đều trở nên vô dụng. Bởi lẽ, thực tại chiếc thuyền đã quá nặng vì ông đã chất chứa quá nhiều trên chiếc thuyền đó.

Cuộc đời ông lão và cuộc đời chúng ta có khác không? Chở nhiều quá, chứa nhiều quá thì bước đời sẽ không còn an nhẹ và thong dong.

Thiện Lợi



 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/02/2013(Xem: 21094)
Nhân một hôm đến tại tư thất thăm cụ Ngô Trọng Anh, Giác Lượng đọc được bài thơ của Cụ Hoàng Văn Minh, tức nhà thơ Điền Viên, đăng trên Đặc San của Hội Người Việt Cao Niên, vùng Hoa Thịnh Đốn Xuân Kỷ Sửu (2009). Với tựa đề: NƯỚC NON
04/02/2013(Xem: 23913)
Không được gọi là nhà thơ nhưng rất nhiều người VN vẫn có thể làm thơ. Thơ phổ biến khắp nơi với đủ loại người. Thơ không đọc bình thường như văn mà ngâm lên du dương trầm bổng, lại thêm các loại đàn sáo, tranh, bầu... sau thêm đàn nguyệt phụ họa nên ngâm thơ là một loại hình nghệ thuật cổ truyền, thuần túy VN. Ai cũng có thể đọc thơ một cách diễn cảm nhưng để ngâm thì phải biết cách. Bồng mạc, sa mạc, lẩy Kiều... Để nắm những cách thức ấy phải là người chuyên môn, thường xuyên luyện giọng chứ không phải tự nhiên ai cũng ngâm được.
27/01/2013(Xem: 4728)
Cảm nhận nguồn sông trăng, Cảm ơn tác giả: Nữ sĩ Tuệ Nga đã gởi tặng tập thơ “Từ Giòng Sông Trăng” do Cội Nguồn xuất bản vào giữa năm 2005, sách dày 400 trang giấy thắm, chuyên chở ý thơ như giòng suối tràn tuôn từ dòng tư tưởng ảnh hiện bóng trăng, soi qua cuộc đời trong sáng, với những giòng sông mênh mông tràn về biển cả. “Từ giòng Sông Trăng” chẳng những một đề tài đơn độc của tập thơ nầy để diễn tả sự mầu nhiệm của trăng mà chúng ta không thể dùng lời nói hết. Riêng Nữ sĩ Tuệ Nga có cái biệt tài đưa trăng vào thơ một cách tự nhiên không hề gượng ép. Mỗi chữ trăng là mỗi vần thơ. Mỗi dòng hạ bút là thơ trăng huyền.
21/01/2013(Xem: 21107)
Một lòng yêu nước với yêu quê Sang lánh trời Tây vẫn nhớ về Non nước đớn đau lòng tu sĩ Đêm về gợi nhớ bóng hương quê Nghìn năm văn hiến giờ đâu thấy Nghĩa lý luân thường mất đã lâu Khổ đau oằn quại triền miên kiếp
20/01/2013(Xem: 4933)
Cuộc đời bầm dập nổi trôi của một em học trò cũ đã thôi thúc tôi viết nên truyện này. Người ta thường bảo „sông có khúc, người có lúc“ nhưng phải nhìn nhận cả cuộc đời của em đã phản ảnh lại nhận xét trên. Bao đau thương đã dồn dập lên đôi vai yếu ớt của em, nhiều lúc tưởng chừng như không còn gượng đứng dậy được nữa, nhưng em vẫn phải sống, vẫn phải đương đầu với mọi khổ đau tràn ngập vây quanh.
15/01/2013(Xem: 10856)
Chiến tranh và hòa bình (tiếng Nga: Война и мир) là nhan đề một tiểu thuyết của Lev Nikolayevich Tolstoy, xuất bản rải rác trong giai đoạn 1865 - 1869.
30/12/2012(Xem: 5573)
Bước lên chiếc Lambretta hàng, tôi tự nhiên thấy Trâm ngồi thu hình ở một góc xe. Tôi quen Trâm một tháng trước. Nàng là y tá viên điều dưỡng vừa ra trường chưa được một năm. Đang làm việc ở Đà Nẵng thì có giấy đổi vào Nha Trang. Hôm mới vào nàng tìm đến địa chỉ tôi do lời dặn của anh Hiệp, anh rể nàng. Hiệp là bạn học của tôi hồi ở trường Khải Định. Có một cô em làm việc bị đổi đi tỉnh xa Hiệp viết thư giới thiệu cho tôi, gián tiếp thay anh để tuỳ cơ giúp đỡ cô em nhút nhát. Sau khi đọc thư của Hiệp, tôi hỏi:
17/12/2012(Xem: 6459)
Cách đây mấy năm, trên một chuyến xe đò muộn về thăm quê. Khi xe đi ngang qua cầu Ngân Sơn, thì lúc ấy đã 5 hay 6 giờ chiều. Dù đã nhiều lần đi qua đây, nhưng có lẽ buổi chiều cuối xuân năm ấy, là buổi chiều mà tôi đã nghĩ nhiều nhất về Võ Hồng. Tôi tưởng tượng rằng, hồi còn nhỏ chắc mỗi chiều ông vẫn thường ra đứng ở nơi này, để nhìn ráng đỏ nơi rặng núi phía Tây kia ? Rồi nhìn bóng chiều xuống chậm trên dòng sông này? Chắc phải vậy! Vì trong tác phẩm của Võ Hồng thì cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của đất trời, tôi cho là những cái đẹp mà Võ Hồng đã viết hay nhất. Nhưng trong cái đẹp đó, Võ Hồng luôn luôn đưa vào thiên nhiên một chút sầu, hay ngậm ngùi cho một cái gì đó đã hay đang sắp mất đi trên cuộc đời này. Tại ông bi quan chăng? Hay tại vì cái đẹp mong manh của những buổi chiều tà trên dòng sông tuổi thơ dạo nào cứ ám ảnh ông mãi.
10/12/2012(Xem: 4471)
Đúng là những ngày tháng không quên thật! Sau 30.4.75, tôi bị ở lại Việt Nam là một điều quá ngu xuẩn rồi. Tự mình làm hại mình và hại cả tương lai con cái nữa. Niềm đau này thật không làm sao phôi pha được với thời gian, vết thương trong lòng tôi cứ chua xót ngậm ngùi!
05/12/2012(Xem: 4968)
Khách là một đại hán vạm vỡ, vận chiếc trường bào màu xám tro, nước da đen sạm; ngựa là một loại thiên lý câu sắc hung sẫm, bờm cao, bụng thon, lưng dài. Cả hai hình như đã vượt qua hằng ngàn dặm đường nên khi đến địa phận Trấn ma lâm, vó gõ trên mặt dốc sỏi không còn ngon trớn nữa mà chậm dần, chậm lại dần... Đến góc núi, bỏ đường lớn, người và ngựa thong thả nước kiệu qua ngọn đồi tràm và thông mọc lưa thưa chen lẫn đá hoa cương và đá tổ ong.