Tối Thiểu của Lòng Tri Ân

24/08/202517:35(Xem: 2827)
Tối Thiểu của Lòng Tri Ân

hoa sen-qd

TỐI THIỂU
CỦA LÒNG TRI ÂN

Bút ký văn hóa của Hương Trí




Giới thiệu:
Có những ân tình không thể trả bằng tiền bạc, mà chỉ có thể đáp lại bằng sự chân thành, thân thiện và tự nhiên. Câu chuyện nhỏ dưới đây kể về một kỷ niệm với một nhà nghiên cứu trẻ, để lại cho người viết bài học sâu sắc: tri ân không nhất thiết phải là món quà lớn lao, mà có khi chỉ là một cử chỉ giản dị
, như nhặt lấy “vỏ và hạt hoa quả”, nhưng chứa đựng cả tấm lòng tri âm.

Cuộc đời có những món nợ không thể trả bằng tiền tài vật chất, vì nó không thuộc về “cân đo, đong, đếm”. Đó là món nợ ân tình.

Cậu ấy nhớ mãi lần mang bản thảo khá dày đến gặp Đại đức Thích Hải Hạnh- một học giả Hán Nôm, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm và Hán cổ. Trong căn phòng làm việc nhỏ, Thầy tiếp cậu bằng sự niềm nở, chân tình-điều hiếm thấy nơi một học giả trẻ. Từ hôm ấy, Thầy miệt mài gọt giũa từng câu từng chữ, sắp xếp lại và đặt tên cho từng chương tiết, biến bản thảo vụng về thành một tập sách chuẩn chỉnh, hài hòa-như khối đá thô được gọt giũa trở nên bóng láng-cả về nội dung lẫn hình thức.

Một thời gian ngắn sau, cậu nghĩ đến việc phải đền đáp công đức phí, một khoản xứng đáng cho công sức và trí tuệ ấy. Nhưng Thầy chỉ lắc đầu, mỉm cười: “Chính tôi cũng học được nhiều điều từ bản thảo này, thế là đủ rồi.”

Cậu kiên trì nhiều lần, từ phong bì trang trọng đến lời đề nghị cùng gánh chi phí in ấn sách Thầy, thậm chí còn khẩn khoản xin Thầy nhận để chuyển cho các quỹ từ thiện. Nhưng tất cả đều bị từ chối. Cuối cùng, chỉ có một gói quà nhỏ- ít rong biển đã chế biến sẵn-là Thầy hoan hỷ nhận lấy, như để không phụ tấm lòng thành. Điều khiến cậu kính nể là Thầy không từ chối phong bì bằng sự cứng rắn, lạnh lùng, hay bằng ngôn ngữ cơ thể quyết liệt; mà bằng một nụ cười hiền hòa, vài lời nói điềm đạm, chân tình. Chính sự nhẹ nhàng ấy khiến cậu lặng lẽ gập tay, không còn lời nài nỉ.

Hôm cuối cùng, khi chuẩn bị ra về, ánh mắt cậu chợt dừng lại ở một mảnh vỏ trái cây nằm khiêm tốn trên góc bàn vi tính-dấu vết của bữa ăn tinh gọn, tạm bợ trong giờ làm việc. Trong khoảnh khắc ấy, cậu chợt hiểu ra: có những điều giá trị hơn cả tiền bạc. Cậu bước đến, khẽ nói: “Để con dọn thay Thầy.”

Thầy thoáng tròn mắt, định ngăn tay cậu lại. Một cử chỉ nhỏ bé mà có lẽ suốt đời Thầy chưa từng trải qua từ người khác. “Không cần đâu…” -Thầy lên tiếng, nhưng cậu đã nhanh nhảu vơ lấy mảnh vỏ ấy trong tay. Lần đầu tiên, cậu thấy nụ cười của Thầy rạng rỡ và hiền từ đến thế.

Trên đường về, cậu lặng lẽ nghĩ: tri ân không phải là sự tính toán cân xứng, mà là biểu hiện của tấm lòng chân thành trong những điều giản dị nhất. Mảnh vỏ trái cây ấy, với người khác chỉ là rác bỏ đi, dính bẩn tay; nhưng với cậu, nó lại trở thành nhịp cầu tri âm.

Người xưa nói: “Hữu ân tất báo.” Nhưng báo đáp bằng cách nào, trong tình huống nào, mới là điều quan trọng. Có khi một nghĩa cử nhỏ lại quý hơn muôn vàng. Có khi sự cung kính đúng mực còn nặng hơn muôn lời cảm tạ khuôn sáo.

Tri ân, đôi khi, không cần phô trương hay những món quà vật chất to tát. Chỉ cần một hành động giản dị, thân thiện, chân thành, đúng lúc và hợp cảnh, cũng đủ để trở thành ngọn gió hiu hiu cuối ngày, đến từ tốn mà thấm sâu vào lòng người. Việc nhặt nhạnh vài mẩu rác nhỏ tưởng như vô nghĩa, lại đủ sức gợi lên đạo lý nhân sinh: tri ân là biết trân trọng và thể hiện từng chút nghĩa tình, cho dù nhỏ nhất. Và chính những điều giản đơn ấy mới làm nên vẻ đẹp lặng lẽ mà bền lâu của cuộc đời. Theo cậu, có thể nói, điều đó ít nhất cũng là thể hiện sự “ tối thiểu của lòng tri ân”.

Qua ân tình và nghĩa cử ứng cơ tiếp vật của Đại đức Thích Hải Hạnh, cậu càng thấm thía sâu sắc lời cổ nhân:“Tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tợ thiên kim.”

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/03/2013(Xem: 9533)
Điểm đặc biệt của dân tộc ta là suốt từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, từ xưa đến nay, người Kinh đều nói một thứ tiếng và tất cả các dân tộc thiểu số, ngoài tiếng nói riêng của dân tộc mình, họ cũng nói rành tiếng Việt. Hơn thế, trên toàn quốc, người Việt Nam đều dùng một thứ chữ viết. Tuy nhiên, nước ta trải dài qua nhiều vĩ tuyến, điểm cực bắc thuộc xã Lũng Cú huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang ở 23º 23' phút Bắc vĩ tuyến, điểm cực nam (không tính hải đảo) là mũi Cà Mau ở 8º 30' Bắc vĩ tuyến
14/02/2013(Xem: 15249)
Khi tiếp cận với Kim Cang, tôi bỡ ngỡ và chưng hửng không ít. Lâu nay cứ nghe người ta đọc câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” như một câu thần chú để quên đi bao nội muộn phiền, rồi đọc Lục tổ Huệ Năng cũng thấy ngài kể chuyện một hôm đi bán củi, chỉ nghe lóm người ta đọc có câu kinh đó thôi mà đại ngộ, thế mà mình càng nghe càng mơ hồ, mù tịt.
13/02/2013(Xem: 6051)
hoa_ly_1Thầy không chỉ là thầy học của tôi, thầy còn dạy cả cậu mợ tôi học ở bậc Trung học. Thầy dạy môn Sinh vật từ năm lớp Sáu. Nhìn cung cách thầy trình bày dạy, tôi nghĩ rằng thầy chọn dạy môn này là do tấm lòng thầy yêu sinh vật quanh mình, thầy thưởng
11/02/2013(Xem: 7280)
cha Ðã đến lúc cha viết những lời sám hối chân thành gởi đến con. chắc con rất ngạc nhiên. Con dang xót xa vì cha cô đơn, ân hận vì không được gần cha đề săn sóc tuổi già, cũng có thể tưởng tượng cha đang nhẹ nhàng trách con... Vậy mà làm sao nghe có sự ngược đời. Con hãy nghe cha nói.
11/02/2013(Xem: 7052)
Làng tôi có ba ấp, mỗi ấp có một ngôi chùa. Tôi ở ấp Quảng Đức, lên năm tuổi đã biết tên chùa là Châu Lâm, đã thấy ông thầy chùa đầu tiên trong đời, thỉnh thoảng đi về trên con đường xuyên qua xóm. Ba tôi dặn : - Không được kêu là : "Ông thầy chùa" nghe chưa ? Hỗn. Nhưng lại không bày tôi một cách kêu khác. Trong câu chuyện, khi nhắc tới ông thầy... đó thì ba tôi dùng ba chữ "Thầy Châu Lâm". Giọng kính cẩn có pha chút thân tình, Những người trong xóm khi nhắc đến tên thầy đều có chung một giọng như thế.
08/02/2013(Xem: 22762)
Nhân một hôm đến tại tư thất thăm cụ Ngô Trọng Anh, Giác Lượng đọc được bài thơ của Cụ Hoàng Văn Minh, tức nhà thơ Điền Viên, đăng trên Đặc San của Hội Người Việt Cao Niên, vùng Hoa Thịnh Đốn Xuân Kỷ Sửu (2009). Với tựa đề: NƯỚC NON
04/02/2013(Xem: 25209)
Không được gọi là nhà thơ nhưng rất nhiều người VN vẫn có thể làm thơ. Thơ phổ biến khắp nơi với đủ loại người. Thơ không đọc bình thường như văn mà ngâm lên du dương trầm bổng, lại thêm các loại đàn sáo, tranh, bầu... sau thêm đàn nguyệt phụ họa nên ngâm thơ là một loại hình nghệ thuật cổ truyền, thuần túy VN. Ai cũng có thể đọc thơ một cách diễn cảm nhưng để ngâm thì phải biết cách. Bồng mạc, sa mạc, lẩy Kiều... Để nắm những cách thức ấy phải là người chuyên môn, thường xuyên luyện giọng chứ không phải tự nhiên ai cũng ngâm được.
27/01/2013(Xem: 5252)
Cảm nhận nguồn sông trăng, Cảm ơn tác giả: Nữ sĩ Tuệ Nga đã gởi tặng tập thơ “Từ Giòng Sông Trăng” do Cội Nguồn xuất bản vào giữa năm 2005, sách dày 400 trang giấy thắm, chuyên chở ý thơ như giòng suối tràn tuôn từ dòng tư tưởng ảnh hiện bóng trăng, soi qua cuộc đời trong sáng, với những giòng sông mênh mông tràn về biển cả. “Từ giòng Sông Trăng” chẳng những một đề tài đơn độc của tập thơ nầy để diễn tả sự mầu nhiệm của trăng mà chúng ta không thể dùng lời nói hết. Riêng Nữ sĩ Tuệ Nga có cái biệt tài đưa trăng vào thơ một cách tự nhiên không hề gượng ép. Mỗi chữ trăng là mỗi vần thơ. Mỗi dòng hạ bút là thơ trăng huyền.
21/01/2013(Xem: 22295)
Một lòng yêu nước với yêu quê Sang lánh trời Tây vẫn nhớ về Non nước đớn đau lòng tu sĩ Đêm về gợi nhớ bóng hương quê Nghìn năm văn hiến giờ đâu thấy Nghĩa lý luân thường mất đã lâu Khổ đau oằn quại triền miên kiếp
20/01/2013(Xem: 5464)
Cuộc đời bầm dập nổi trôi của một em học trò cũ đã thôi thúc tôi viết nên truyện này. Người ta thường bảo „sông có khúc, người có lúc“ nhưng phải nhìn nhận cả cuộc đời của em đã phản ảnh lại nhận xét trên. Bao đau thương đã dồn dập lên đôi vai yếu ớt của em, nhiều lúc tưởng chừng như không còn gượng đứng dậy được nữa, nhưng em vẫn phải sống, vẫn phải đương đầu với mọi khổ đau tràn ngập vây quanh.