Nhớ Về Cha

04/07/202505:25(Xem: 1972)
Nhớ Về Cha

tran thi nhat hung-cha
Nhớ về cha
Bài viết Trần Thị Nhật Hưng



Có những người vì gia cảnh nghèo, chật vật cơm áo hay lý do thời cuộc không được đến trường nên không biết chữ hay ít chữ nhưng như thế không có nghĩa là họ kém thông minh, đôi khi còn thông minh một cách đặc biệt. Người đó chính là ba tôi.

 Ba xuất thân tại một thôn làng nghèo miền Bắc trong một làng quê quanh năm chỉ thấy ruộng vườn, cá kèo và vài con gà trong sân. Nạn đói năm Ất Dậu hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương do Pháp và Nhật chiếm đóng Việt Nam càng làm quê nghèo thê thảm hơn. Số người chết đói như rạ, cầm cự được phải kể là có số đặc biệt.

 Trước viễn ảnh tương lai mịt mờ, ba đành dứt áo ra đi, rời bỏ quê cha đất tổ, mồ mả ông bà tổ tiên, nơi bao đời chôn nhau cắt rốn và để lại người vợ trẻ với đứa con thơ, tìm đường vào Nam lập nghiệp.

Với hai bàn tay trắng chỉ vỏn vẹn một đồng dính túi, ba mon men vất vả dọc đường tìm kế sinh nhai, bất cứ việc gì ba cũng làm, ngủ bờ ngủ bụi cho qua ngày qua đêm để tìm đến nơi muốn đến.

Trong Nam, ba đi làm thuê, lăn lộn mãi rồi cũng tìm học được nghề làm bánh mì, bánh ngọt, các loại kẹo, dành dụm được một số vốn rồi chọn miền Trung làm chỗ định cư, thuê nhà mở tiệm, đón vợ con vào sum họp.




banh oan
Bánh oản



Tôi không thể tưởng tượng được, làm thế nào mà ba đương nổi, ban đêm chuyên làm bánh mì, ban ngày hết làm bánh khảo nhân đậu đen, nhân đậu xanh (bánh này các đám hỏi, đám cưới hay đặt làm sính lễ)  đến bánh oản gói giấy bóng gương xanh, đỏ, tím, vàng (dân quê hay mua cúng rằm, mồng một), kẹo mè, kẹo đậu phụng (miền Bắc còn gọi là kẹo xìu), kẹo dừa (loại kẹo này nhỏ bằng đốt ngón tay út vấn từng viên trong giấy dầu, không chỉ con nít rất ưa chuộng mà ngay người lớn cũng rất thích), chưa kể thỉnh thoảng ba làm kẹo kéo dồi đậu phụng rang giả nhỏ bên trong rồi kéo từng que, khẩy cái cạch cho đứt khúc ra ăn. Vào mùa Trung Thu, ba còn làm bánh nướng, bánh dẻo và làm cả lồng đèn nữa. Nói chung, ba rất khéo tay và thông minh. Ngoài công việc làm ăn, sắp xếp điều hành với chừng đó công việc phân chia cho nhân công, mẹ lo bán hàng và lũ con nít chúng tôi có nhiệm vụ vấn kẹo dừa, để giải trí, ba đặc biệt làm sáo diều rất tuyệt vời không biết học từ đâu hay từ sáng kiến. Những vành tre và ống tre, ba vuốt và nắn thành hai cánh diều to bằng cả hai cánh tay giang ngang dán giấy dầu vàng người ta hay dùng gói quà, phía đuôi diều còn những cái đuôi giấy lướt thướt, khi diều cất lên cao giữa bầu trời mênh mông trông đã đẹp còn cất tiếng vi vu rất hay, một hình tượng diễn tả cảnh thanh bình tuyệt vời. Ngay cả việc nấu nướng, cũng không rõ học từ đâu, ba chế biến nhiều món rất lạ, ngon thêm tính hậu hỉ hiếu khách nên hay mời bạn bè về ăn. Thậm chí khi nhà có tiệc tùng, đám hỏi, đám cưới chính ba điều khiển đưa món ăn và đôi khi đứng bếp.

Sau này, để nghỉ ngơi và kinh tế gia đình khấm khá, ba bỏ hết không nấu kẹo, làm bánh ngọt nữa, ba chỉ còn giữ công việc làm bánh mì. Mà công việc này, thời đó, chưa có công nghệ bằng máy móc như ngày nay, cũng vất vả không kém. Dù có thuê thợ thuyền, nhưng việc chính yếu, khó khăn, ba vẫn ra tay gánh vác. Như đốt lò củi, khúc củi nào cũng to như cả cái chân, đưa vào lò đốt lên hong nóng xong phải cào ra, lau lò cho sạch để nướng bánh. Lò canh sao không được nóng quá, không được nguội quá, nếu không, bánh sẽ bị “bum” nghĩa là không nở đúng cái bánh mình mong muốn. Mọi việc thuận buồm xuôi mái thì còn đỡ, những lúc củi bị sụp tắt ngúm, khói bay mịt mù, ai cũng chạy có cờ, thì ba tôi phải đương đầu khèo dựng lại củi trong lò sao cho cháy lại.

Trời miền Trung nóng như lửa đốt, thêm hơi lửa trong lò phà ra, thời đó đâu đã có máy điều hòa, từng ổ bánh mì hoàn thành là bao giọt mồ hôi ba tôi đổ ra như tắm.  Ngay cả khi nhồi bột cũng bằng tay, chúi đầu xuống cái thùng như cái quan tài để nhào lộn khối bột cho nhuyễn là cả một công trình. Những lúc nhìn ba vất vả kiếm tiền nuôi gia đình, tôi cảm thương không bút nào kể xiết, chỉ biết nhớ công ơn ba và đền đáp bằng cách sống thật ngoan, chăm chỉ học hành, không hoang phí phá tiền dù lúc đó ba không còn nghèo mà còn khá giả là đằng khác.

Ngoài trách nhiệm lo kiếm tiền nuôi vợ con, là đàn ông nhưng ba lại có những cử chỉ hành động tinh tế sâu sắc mà bao người mẹ luôn được con cái vinh danh vào những dịp “ngày của mẹ” hay “lễ Vu Lan”, thì tôi lại thấy sự hy sinh của ba tôi sâu sắc tinh tế không thua gì các người mẹ, đôi khi còn có phần hơn.


Ba hay theo dõi đời sống con cái ngay khi chúng đã lập gia đình. Biết tôi lấy chồng nghèo nhất là sau 1975 chồng còn bị đi tù, ba đặc biệt quan tâm tôi nhiều hơn. Ba lặn lội từ miền Trung, vất vả tàu xe, ngủ gà ngủ gật chỉ để vào Sài Gòn thăm tôi và dúi cho tôi một món tiền lớn, lúc nào cũng dặn dò:


-Con rán chăm sóc bố chồng con cho tử tế (cụ bố chồng là bạn thân của ba tôi), thấy ai nghèo con cứ giúp. Riêng con, không tiêu hoang là được. Khi nào hết tiền thì cho ba biết.


tran thi nhat hung va cha


Tôi thương ba thêm lòng tự trọng không bao giờ tôi tỏ ý thiếu thốn, xin xỏ để ba phải lo lắng quan tâm, nhưng ba tinh ý nhận ra, và cứ canh, đoán chừng tôi hết tiền là ba xuất hiện. Những lúc ba vào, sau chuyến đi dài, nhìn tóc ba bạc phơ, nét phờ phạc, mệt mỏi hằn trên khuôn mặt đã nhiều nếp nhăn, tôi cảm thương muốn khóc, khuyên ba đừng vô nữa, hãy để tôi về thăm ba.

Ngày tôi về miền Trung thăm gia đình, túi đã sạch trơn, chỉ còn vài chục để dành cho tàu xe, tôi chỉ luẩn quẩn trong nhà, ăn cơm của cha mẹ, từ chối tất cả mọi lời mời của bạn bè rủ đi ăn sau nhiều năm gặp lại. Thế mà ba tôi cũng nhận ra, để một ngày, khi tôi đang thơ thẩn đứng bên khung cửa nhìn ra cây si trồng trước sân nhà, bâng khuâng ngắm đàn chim sẻ ríu rít chuyền từ cành này sang cành kia rồi bay vút trong bầu trời quang đãng, ba tôi lại mon men đến gần, ba không nói gì, chỉ nắm lấy tay tôi, vạch năm ngón tay tôi xòe ra rồi đặt vào đó một cọc tiền. Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Tiền gì vậy ba?

-Ba cho con để đi chơi với chúng bạn!

Tôi ngẩn người ra đưa mắt nhìn ba, chưa kịp nói hai chữ “cám ơn” ngắn ngủi, ba đã bỏ đi để tôi nhìn theo với vô vàn xúc động.

Tôi cúi xuống nhìn cọc tiền quấn tròn trong một sợi dây thun, bất giác mủi lòng không muốn khóc mà nước mắt cứ từng giọt trào ra. Những giọt nước mắt ân tình trong như pha lê nhẹ nhàng rơi xuống cọc tiền nhưng thấm sâu vào hồn tôi, len vào từng ngõ ngách. Tôi nghẹn ngào cảm động, vừa thương ba vừa thương mình. Nói sao cho vừa, tôi chỉ biết in thật sâu vào tâm khảm hình ảnh cử chỉ ân cần, gói ghém đầy tình thương yêu của ba dành cho tôi và tôi nguyện một ngày nào đó có cơ hội tôi sẽ đáp đền tình ba.

 Không thể tiếp tục phiền ba, và cũng không thể sống được với chính sách khắc nghiệt của chế độ mới đối với thành phần “ngụy quân, ngụy quyền” như tôi, tôi tìm cách một mình bỏ nước ra đi hy vọng ở chân trời mới tôi có thể đổi đời, được sống đời tôi muốn sống.

Ba tôi vậy đó. Rất hiền lành, nhân từ, sâu sắc. Ba rất ít nói, tình cảm trong ba không thể hiện bằng lời mà chỉ qua cử chỉ hành động. Từng cơ cực gian khổ lúc thiếu thời, khi khấm khá, ba hay quan tâm đến người nghèo. Ba hay nói với con cái trong nhà. Bắt được tên trộm thì nên tha họ, đôi khi còn giúp họ. Chẳng qua vì đói mới phải làm thế, còn biết sợ sệt xấu hổ nên mới lén lút đêm hôm. Ăn cướp mới đáng sợ. Thế mà khi ba bị mất ba căn nhà do nhà nước tịch thu sau 1975, một lần tôi đề nghị ba lấy lại khi có tin nhà nước hoàn trả lại cho dân. Ba lại nói:

-Thôi, con ạ. Người ta dọn vô nhà mình đã sinh con đẻ cái. Nay đuổi họ ra, gia đình họ cầu bơ cầu bất mình có vui không. Mình mất ba căn nhà, Trời Phật đã cho lại ba căn khác rộng lớn khang trang hơn cho ba đứa vượt biên ở hải ngoại. Như thế còn đòi gì nữa.

Ba luôn an phận theo châm ngôn “có phúc có phần” rồi bình thản sống như một thiền sư:

Sống không giận không hờn không oán trách.

Sống mỉm cười với thử thách chông gai.

Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai.

Sống chan hòa với những người chung sống.

Sống là động nhưng lòng không xao động.

Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương.

Sống hiên ngang danh lợi mãi coi thường.

Tâm bất biến giữ dòng đời vạn biến.

(Thích Hạnh Hải)


Có lẽ nhờ vậy mà ba tôi có phúc có phần. Cả đời không thấy đau đớn bịnh tật gì ngoài cảm ho, ngứa ngáy vớ vẩn rồi nhẹ nhàng ra đi ở tuổi 107.

Viết bài này để Nhớ Về Cha với nén hương lòng thành kính dâng ba với niềm tri ân vô bờ bến của con.

TTNH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/11/2010(Xem: 17499)
“Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai
30/10/2010(Xem: 5490)
Tiểu sử cho biết rằng, vào năm 1542 sau khi dâng sớ lên vương triều Mạc đòi chém 18 kẻ lộng thần, nhưng không được vua Mạc bấy giờ là Mạc Phúc Hải chấp thuận. Nguyễn Bỉnh Khiêm liền cáo quan về lại quê quán ở làng Trung Am. Nay là huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Dù thất bại ở triều đình không thực hiện được hoài bão như dự tính lúc ban đầu: Dân giai thức mục quan tân chính
30/10/2010(Xem: 7896)
Như tôi cũng đã thưa rồi, hiếm ai dành nhiều thời gian để nhớ về mẹ như tôi. Chuyện gì buồn vui cũng là cái cớ để tôi nhớ về mẹ bằng tất cả tim óc. Tôi đã nhớ mẹ qua bất cứ hình ảnh nào của các bậc cha mẹ trong đời mà tôi quen biết, trong giao thiệp hay chỉ nhìn thấy trên phim ảnh sách báo... Có điều là không ít hình ảnh trong số đó cứ khiến tôi đau đáu một nỗi riêng không chịu thấu: 1. Họ là những bậc cha mẹ với tuổi đời chưa bao nhiêu nhưng đã bắt đầu quên mất tuổi trẻ của mình cho đứa con đầu lòng. Một tuổi trẻ tất bật áo cơm, không có rong chơi, không có ngơi nghỉ, không có thời gian riêng tư, dẹp luôn những không gian độc lập để sống như mình vẫn ao ước thời chớm lớn. Họ Mất hết cho cái mà họ cho là Được – đó chính là đứa con! Nhìn họ tôi nhớ mẹ!
28/10/2010(Xem: 4653)
ù bây giờ đã qua hết những ngày tất tả ngược xuôi lo chạy gạo bữa đói bữa no, lăn lóc chợ trời nhục nhã ê chề tấm thân; những ngày dầm mưa dãi nắng lặn lội đi thăm nuôi nhưng những kỷ niệm buồn sâu thẳm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi mãi mãi mỗi độ tháng tư về. Sau khi hai đứa con ra đi được hai ngày, tôi được tin chuyến tàu bị bể. Tôi vừa bàng hoàng vừa cầu xin đó không phải là sự thật, nếu quả đúng như vậy liệu tôi có còn đủ sức chịu đựng hay không vì chồng tôi đang còn ở trong trại cải tạo. Nóng ruột quá, tôi bèn rủ một em học trò cũ lên nhà bà chủ tàu để dò hỏi tin tức. Khi đi thì hăng hái như vậy nhưng gần đến ngõ rẽ đi vào nhà, tôi không còn can đảm tiếp tục bước nữa. Tôi ngồi lại một mình dưới gốc cây vừa niệm Phật vừa cầu xin, mắt không rời theo dõi vào con ngõ sâu hun hút đó. Càng chờ ruột gan càng nóng như lửa đốt, không chịu nổi nữa tôi đi liều vào. Vừa đến nơi hai chân tôi đã muốn khuỵu xuống, một bầu không khí im lặng nặng nề, hai người ngồi như 2 pho tượng; sau đó em h
21/10/2010(Xem: 17902)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
17/10/2010(Xem: 7503)
Tây Du Ký tiêu biểu cho tiểu thuyết chương hồi bình dân Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt xã hội các dân tộc Á Châu. Không những nó đã có mặt từ lâu trong khu vực văn hóa chữ Hán (Trung, Đài, Hàn, Việt, Nhật) mà từ cuối thế kỷ 19, qua các bản tuồng các gánh hát lưu diễn và văn dịch, Tây Du Ký (TDK) đã theo ngọn gió mùa và quang thúng Hoa Kiều đến Thái, Mã Lai, In-đô-nê-xia và các nơi khác trên thế giới. Âu Mỹ cũng đánh giá cao TDK, bằng cớ là Pháp đã cho in bản dịch TDK Le Pèlerin vers l’Ouest trong tuyển tập Pléiade trên giấy quyến và học giả A. Waley đã dịch TDK ra Anh ngữ từ lâu ( Monkey, by Wu Ch’Êng-Ên, Allen & Unwin, London, 1942). Ngoài ra, việc so sánh Tây Du Ký2 và tác phẩm Tây Phương The Pilgrim’s Progress (Thiên Lộ Lịch Trình) cũng là một đề tài thú vị cho người nghiên cứu văn học đối chiếu.
08/10/2010(Xem: 20209)
Phật nói : Lấy Tâm làm Tông, lấy không cửa làm cửa Pháp. Đã không cửa làm sao đi qua ? Há chẳng nghe nói : “Từ cửa vào không phải là đồ quý trong nhà. Do duyên mà được, trước thì thành, sau thì hoại.” Nói như thế giống như không gió mà dậy sóng, khoét thịt lành làm thành vết thương. Huống hồ, chấp vào câu nói để tìm giải thích như khua gậy đánh trăng, gãi chân ngứa ngoài da giầy, có ăn nhằm gì ? Mùa hạ năm Thiệu Định, Mậu Tý, tại chùa Long Tường huyện Đông Gia, Huệ Khai là Thủ Chúng nhân chư tăng thỉnh ích bèn lấy công án của người xưa làm viên ngói gõ cửa, tùy cơ chỉ dẫn người học. Thoạt tiên không xếp đặt trước sau, cộng được 48 tắc gọi chung là “Cửa không cửa”. Nếu là kẻ dõng mãnh, không kể nguy vong, một dao vào thẳng, Na Tra tám tay giữ không được. Tây Thiên bốn bẩy (4x7=28) vị, Đông Độ hai ba (2x3=6) vị chỉ đành ngóng gió xin tha mạng. Nếu còn chần chờ thì giống như nhìn người cưỡi ngựa sau song cửa, chớp mắt đã vượt qua.
08/10/2010(Xem: 5597)
Tiểu sử chép: “Năm 19 tuổi Chân Nguyên đọc quyển Thực Lục sự tích Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang,chợt tỉnh ngộ mà nói rằng, đến như cổ nhân ngày xưa, dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, huống gì mình chỉ là một anh học trò”. Bèn phát nguyện đi tu. Thế là cũng như Thiền sư Huyền Quang, Chân Nguyên cũng leo lên núi Yên Tử để thực hiện chí nguyện xuất gia học đạo của mình. Và cũng giống như Huyền Quang, Chân Nguyên cũng đã viết Thiền tịch phú khi Chân Nguyên còn đang làm trụ trì tại chùa Long Động trên núi Yên Tử.
05/10/2010(Xem: 25763)
Trải vách quế gió vàng hiu hắt, Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng, Oán chi những khách tiêu phòng, Mà xui phận bạc nằm trong má đào.
01/10/2010(Xem: 22062)
Có, không chỉ một mà thôi, Tử, sinh đợt sóng chuyển nhồi tạo ra. Trăng nay, trăng cũng đêm qua, Hoa cười năm mới cũng hoa năm rồi. Ba sinh, đuốc trước gió mồi, Tuần hoàn chín cõi, kiến ngồi cối xay. Tới nơi cứu cánh sao đây ? Siêu nhiên tuệ giác, vẹn đầy “Sa ha” (Thích Tâm Châu dịch )