Rực Rỡ Sắc Màu Thu

22/09/202417:39(Xem: 2974)
Rực Rỡ Sắc Màu Thu



Mua Thu 5

RỰC RỠ SẮC MÀU THU

 

Thu sang rồi em ơi! Hôm qua còn nắng nóng lắm vậy mà sáng nay khí trời se se lành lạnh, cái lạnh dìu dịu mơn man trên da thịt, thấm nhẹ vào từng tế bào khiến mình khoan khoái vô cùng. Bước chân ra vườn như thể ướp mình trong không khí địa đàng. Trời đất vừa chớm thu!

Em ơi, anh không biết đề hồ là gì, sự khoan khoái của đề hồ như thế nào nhưng anh nghĩ cái sự khoan khoái của thân tâm trong cái phút giây hiện tại này như chính uống đề hồ vậy.

Thiên hạ bảo Thu sang, Thu về, Thu đến, Thu tới… bao nhiêu hí luận ngôn từ nhưng Thu vẫn cứ là Thu. Thu có đến đi bao giờ! Bọn học giả bảo: “Không có cái gì tự sanh ra hay mất đi, chỉ có sự chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác”. Nhà thiền nói: “Tất cả các pháp hữu vi, có hình tướng đều biến hoại, đã vì duyên sanh ra thì cũng sẽ vì duyên mà diệt”. Sanh diệt là nhị nguyên, là tục đế; chơn đế chẳng có sanh diệt; vô thường là lẽ thường tình. Thu cũng thế thôi! Chẳng có sanh diệt bao giờ, Thu cũng không sanh ra hay mất đi, chỉ là sự dịch chuyển, biến đổi từ dạng này sang dạng khác của tự nhiên. Ngay cả cái tên gọi Thu cũng là giả tên, tự nhiên làm gì có cái gọi là Thu hay Hạ, Đông, Xuân. Tên gọi Thu là ngôn ngữ võ đoán của loài người. Tâm người thiên sai vạn biệt nên hình tướng cũng muôn hình vạn trạng là vậy.

Bảo rằng Thu đẹp lắm, ừ thì Thu đẹp em ơi! Đẹp mê lịm tâm hồn, cái đẹp thấy bằng mắt, nhìn bằng tâm ý, đẹp vì có cả kho ký ức lưu trong tạng thức. Đất trời vào Thu, thiên hạ rộn ràng cho mùa lễ hội. Ở vùng Bắc Mỹ này có vô số lễ hội mùa Thu, nào là: Yellow Daisy Festival, Big Red Apple Festival, Pumpkin Festival, Cotton Festival...Lễ hội là dịp để nghệ nhân trình bày sản phẩm của mình, nhà nông giới thiệu thành quả của mình… Con người ta không chỉ ăn uống, làm tình mà còn có nhu cầu tinh thần. Lễ hội để bày ra những sản phẩm nghệ thuật chính là “món ăn” tinh thần vậy!

Đất trời vào Thu, thành Ất Lăng vừa chớm Thu thôi nhưng những chiếc lá vàng sớm là dấu hiệu báo mùa sang. Những loài cây “ngộ” Thu sớm như: Đào, Cherry… chúng cứ như những kẻ nhạy cảm trong loài người. Cả ngàn xanh còn xanh ngát, xanh đắng mắt mà chúng đã vội thay màu lá, thả những chiếc lá sớm vào không gian, vì vậy mà chúng trơ trụi nhanh nhất. Còn những kẻ nhạy cảm trong loài người là những kẻ bị giời đày đấy em ơi! Bọn họ như sợi dây đàn, chỉ cần khẽ chạm là bung bật âm thanh. Bọn ấy như bột Vanilla, chỉ cần hơi gió thoảng qua là mùi thơm lan tỏa quanh vùng. Thường bọn nghệ sĩ là những kẻ nhạy cảm, có nhạy cảm mới nắm bắt được những khoảnh khắc vi diệu để mà sáng tác những tác phẩm hay, đẹp. Nếu bọn nghệ sĩ mà không nhạy cảm thì trơ ra có khác gì những bị thịt biết đi. Mặc khác cũng vì nhạy cảm mà bọn nghệ sĩ thường mong manh và “khổ” hơn đám đông thiên hạ.

Chỉ vừa chớm Thu thôi em ơi! Chỉ vài chiếc lá vàng và khí trời se se lạnh nhưng chẳng mấy chốc thì Thu sẽ bừng lên gấm hoa muôn sắc. Những chiếc lá xanh sẽ biến hoại chuyển sang: Vàng, đỏ, cam, nâu, tía, đậm, nhạt...và những sắc màu pha trộn lẫn nhau. Cả đất trời sáng rực rỡ với sắc màu đẹp không sao tả xiết! Nghệ sĩ thiên nhiên trong phút giây hứng khởi cao độ tung cả khay màu xuống ngàn xanh. Những lúc này đi giữa đất trời mà tâm hồn bay bổng, mình không còn là mình nữa, mình không biết là chiếc lá hóa ra hay biến thân ra chiếc lá. Mình không phải là Trang Châu nhưng mình có cái cảm giác tựa Trang Châu. Con bướm của ảo diệu biến hóa khôn lường. Làm sao Trang Châu biết được đâu là bướm đâu là Châu. Nếu bảo Trang Châu là bướm thì cũng đúng mà nói bướm là Trang Châu cũng chẳng sai, đều phải lẽ cả! Còn hỏi tại sao phải lẽ thì cứ hỏi Trang Châu hay hỏi bướm chứ mình đâu đủ tư cách trả lời!

Dưới tán lá rực rỡ sắc màu, mình là một chiếc lá không hơn không kém, một chiếc lá mình cũng đã trải qua giai đoạn chồi non, mần xanh và giờ đã đến lúc chuyển màu, rồi mai đây sẽ rụng về cội để hóa mùn và sẽ tiếp tục chuyển hóa để lại là chiếc lá mùa sau.

Đất trời mùa Thu đẹp lắm em ơi! Đẹp hơn những gì mình biết, chất diệp lục trong lá kết hợp với nắng trời nước đất và gió thiên nhiên mà chuyển thành màu sắc. Cái đẹp thiên nhiên vốn đã vi diệu rồi, con người còn tô điểm thêm bằng những cái đẹp chủ quan theo tập tính của mình. Đấy đó chưng bày la liệt bí ngô, những trái bí từ tí tẹo cho đến khổng lồ như bánh xe bò vừa dễ thương vừa ngộ nghĩnh làm sao! Những chùm bắp khô treo lủng lẳng, những thân ngô bó lại thành cụm chưng bày khắp nơi. Những hình nộm bù nhìn (scarecrow) cười toe toét khắp đồng quê cho đến thành đô. Lá phong đẹp như thế mà con người còn chế ra lá phong nhựa để giăng mắc trang hoàng thêm. Cả hai loại cùng sặc sỡ sắc màu tưởng giống nhau nhưng lại khác nhau. Hình tướng là vậy nhưng thể dụng khác nhau. Nếu lá phong thật sau khi dâng hiến hết sắc màu, hoàn thành trách vụ hô hấp và quang hợp thì hóa mùn để nuôi dưỡng sắc màu cho mùa sau. Còn lá phong nhựa chỉ xem cho đẹp mắt thế thôi nhưng chẳng mấy chốc lại là rác, chẳng những không giúp ích gì cho việc tái tựu mùa sau mà còn gây hại cho mùa sau, gây hại cho môi trường và muôn loài. Bởi vậy có những thứ nhìn thì thấy đẹp, thấy giống nhưng hoàn toàn chẳng giống nhau. Nhà thiền cũng cảnh tỉnh, mắt cá long lanh như hạt châu nhưng nào phải hạt châu. Sống ở đời chớ có lầm lẫn em ơi! Đừng vì cái tướng mà quên cái thể dụng để rồi mê muội nhé em!

Cái thấy của con mắt mình coi vậy chứ không thật đâu em. Em bé lên năm thấy Thu như thế, anh thanh niên cũng thấy Thu như thế, gã trung niên cũng thấy Thu như thế … thấy sắc màu Thu rực rõ đẹp nhưng cảm giác trong tâm hoàn toàn chẳng giống nhau. Mình nhìn sắc màu Thu không chỉ bằng nhãn căn mà còn nhìn bằng cả ý thức chủ quan, nhìn bằng cả những hình ảnh lưu trong tâm khảm.

Mùa Thu đẹp lắm em ơi, bước trên xác lá xào xạc, trên đầu từng bựng lá đủ sắc màu vàng lên trong không gian. Mình không là chiếc lá thì còn là gì nữa? Trong cái khoảnh khắc này mà nằm trên lá ra đi thì kể cũng như đẹp nhất thiên hạ rồi! Một chiếc lá hòa vào muôn chiếc lá cùng ngân lên khúc Thu ca.

Tháng ngày mùa Thu lòng mình man mác, tâm hồn mình bay bổng, ý nghĩ mình miên man...Em còn nhớ chăng ngày xưa khi còn thơ ấu, thuở ấy đọc chuyện ngụ ngôn ngọt ngào tình bạn. Chuyện kể về hoa lá và bọn bướm trong vườn. Chúng chơi thân với nhau, hỗ tương nhau, cộng sinh với nhau. Ấy vậy  mà chỉ trong phút giây cái ”ngã” lớn lên khiến chúng bất hòa. Bọn bướm bảo hoa chỉ là những chiếc lá biến hình. Bọn hoa thì bảo bướm cũng chỉ là sâu biến hình. Thế rồi chúng lìa nhau. Bọn bướm vất vưởng nơi đồng không mông quạnh. Bọn hoa không còn ai giúp thụ phấn cho, thế là cả khu vườn và mùa màng thất bát. Mãi đến khi cái “ngã” lặng đi, bọn chúng lại tái sum họp và cuối vụ mùa năm ấy mùa màng bội thu. Vào Thu là cuối vụ mùa, là thời gian thu hoạch mùa màng. Bí ngô, bắp, ngô… lại bày ra khắp chốn. Đất trời lại rực rỡ sắc màu mùa lên. Trên cánh bướm có sắc hoa, sắc Thu. Trên cánh hoa có sắc bướm, sắc lá. Sắc màu Thu chẳng khác từ thuở ấu thơ cho đến già, vẫn rực rỡ long lanh từ ban đầu cho đến giờ. Tương lai mai kia sắc màu Thu thế nào thì mình không biết em ơi, vì mình chưa đến. Mình chỉ biết muôn sắc gấm hoa của Thu đang hiện diện tại nơi đây ngay phút giây này.

 

Du Tâm Lãng Tử

Ất Lăng thành, 0924



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/02/2021(Xem: 36022)
Vừa qua nhóm ảnh Nhất Chi Mai thuộc tu viện Phước Hòa (Đồng Nai), được sự hướng dẫn của Thượng toạ Viện chủ đã đến Buôn Mê Thuột để quay những thước phim đầu tiên về nhạc sĩ Hằng Vang. Cùng với cố nhạc sĩ Lê Cao Phan, Bửu Bác... được xem như lớp tiền phong của dòng tân nhạc Phật giáo. Nhạc sĩ Hằng Vang tên thật là Nguyễn Đình Vang, sinh năm 1933 tại Huế. Trong hơn 60 năm sáng tác, ông có hàng trăm ca khúc về đề tài này, nổi bật nhất là ca khúc Ánh Đạo vàng (1958) đã thấm sâu vào lòng Phật tử suốt thời gian dài từ khi ra đời.
01/02/2021(Xem: 11264)
Đối với những dân tộc sống trong nền văn minh lúa nước tại Đông Nam Á, nhất là đất nước và con người Việt Nam, hình ảnh con trâu, thường hay được nói đến, không phải “con trâu là đầu cơ nghiệp” mà đối với người nông dân là con vật gần gũi thân thiết, nên trong ca dao trâu xuất hiện trong bức tranh lao động của gia đình “trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”, trâu cũng trở thành bạn tâm tình của người nông dân: “trâu ơi ! ta bảo trâu này…” Người nông dân đã đồng cảm với trâu, qua việc cần mẫn lao động hằng ngày, không có lúc nào hưởng được sự thảnh thơi mà phải luôn vất vả nhọc nhằn. Hình ảnh con trâu kéo cày trên ruộng đồng với lúa, mạ xanh tươi, hay đứng nằm gặm nhai cỏ trên bãi cỏ xanh, cùng giầm mình trong vũng ao hồ sình lầy là hình ảnh quen thuộc, gợi lên nhiều cảm xúc thị vị thanh bình tạo cảm hứng cho biết bao thi nhân và họa sĩ.
01/02/2021(Xem: 13151)
Chữ “chùa” thường dễ khiến người ta liên tưởng đến những… chữ khác như kinh-kệ-chuông-mõ-sư-sãi…Xa hơn, có thể gợi nhớ đến chữ… thơ (vì, tu sĩ và thi sĩ vốn là bằng hữu, trong truyền t
01/02/2021(Xem: 16358)
Vào năm 1990, một nhà sư trẻ đến thị xã Lagi – Bình Thuận, dừng bước bên con suối Đó vắng vẻ, cảnh quan đơn sơ, mộc mạc, cách xa trung tâm Lagi. Con suối có cái tên hơi lạ, tên nguyên sơ là suối Đá do chảy qua nhiều tảng đá to, sau này khi người Quảng đến định cư, đọc chệch thành “suối Đó”. Vị sư trẻ dựng một thảo am bên cạnh con suối, cao hứng đặt tên thảo am là chùa Đây, tạo thành một cái tên hay hay và lạ mà du khách đến một lần không thể nào quên “suối Đó – chùa Đây”. Sau này, thảo am nhỏ được trùng tu dần thành một ngôi chùa trang nghiêm và tĩnh lặng với cái tên mang lại cho người ta cảm giác an nhiên tự tại khi nhắc đến như hôm nay – chùa Thanh Trang Lan Nhã.
01/02/2021(Xem: 17507)
Ngôi chùa nhỏ với không gian yên tĩnh nằm bên dòng suối Đó giáp ranh giữa xã Tân Phước và phường Tân An, thị xã La Gi có cái tên rất thanh vắng, tịch mịch “Thanh trang lan nhã” . Chùa do một vị Đại đức tuổi trung niên làm trụ trì, nhà sư Thích Tấn Tuệ. Sư Tấn Tuệ tên thật là Đinh Văn Thành (SN 1960), quê ở làng Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông quy y từ lúc còn nhỏ được đào tạo học hành chu đáo, đi lại nhiều nơi nên kiến thức sâu rộng.
01/02/2021(Xem: 20015)
Nói thiệt lòng, tâm trạng của tôi mấy ngày qua vô cùng... bất ổn, tinh thần có chiều xuống dốc, phần vì "thử thể bất an", phần vì chuyện đời có nhiều đột biến vào năm cùng tháng tận, đã bình thản đương đầu đối chọi bằng các phương pháp tu niệm hành trì, giữ niềm tin vững chãi, liên tục ra vào các chốn già lam để lễ Phật bái Tăng, tác nghiệp thi văn... nên chế ngự được nhiều chướng duyên nghịch cảnh, nhưng nghiệp duyên quá khứ vẫn còn đầy dãy, vẫn đến đó, vẫy tay cười chào như chế giễu, thử thách...
30/01/2021(Xem: 12250)
Thời gian gần đây có khá nhiều nhà văn quay về với đề tài lịch sử. Sự đi sâu vào nghiên cứu cùng những trang viết ấy, họ đã tái hiện lại một triều đại, hay một giai đoạn lịch sử với góc độ, cái nhìn của riêng mình. Tuy nhiên, không phải nhà văn nào cũng thành công với đề tài này. Gần đây ta có thể thấy, Hoàng Quốc Hải với hai bộ tiểu thuyết: Tám triều nhà Lý, và Bão táp triều Trần, hay Hồ Qúy Ly của Nguyễn Xuân Khánh…Và cách nay mấy năm, nhân kỷ niệm lần thứ 40, ngày thành lập Báo Viên Giác (Đức quốc) Hòa thượng Thích Như Điển đã trình làng cuốn tiểu thuyết lịch sử: Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa. Thật ra, đây là cuốn (tiểu thuyết) phân tích, lời bàn về lịch sử thì chính xác hơn.
19/01/2021(Xem: 46264)
Đức Phật Quá Khứ Tỳ Bà Thi 💐🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ Ba, 07/07/2020 (17/5/Canh Tý) Giải thích Nghi Thức Đảnh Lễ Tam Bảo do Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ (1909-1984) biên soạn và hành trì trong suốt cuộc đời của Ngài. Bài kệ số 16: ĐỨC PHẬT TỲ BA THI 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Nhẫn nhục đệ nhất đạo Phật thuyết vô vi tối Xuất gia não tha nhân Bất danh vị sa môn. Nhất tâm đảnh lễ Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật. (1 lạy) Phật dạy: Hạnh nhẫn nhục Là pháp tu thứ nhất, Pháp vô vi tột cùng. Cho nên người xuất gia Gây khổ não cho người, Thì không gọi “sa môn”. Một lòng kính lạy đức Phật Tì Bà Thi. (1 lạy) Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia)
18/01/2021(Xem: 14221)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
10/01/2021(Xem: 11553)
8 giờ tối mùa Đông Âu Châu nói chung, Thụy Sĩ nói riêng thật thê thảm. Trời tối đen, lạnh cóng, trên đường không bóng người qua lại. Đã vậy thêm dịch bệnh covid 19 kéo dài mấy tháng nay, mọi người bị giam hãm lâu ngày đã ê chề, nay thời tiết như thế càng ảm đạm thê thảm hơn. Vào mùa này, ngay cả người bản xứ còn than vãn, chán chường, huống chi người Việt tha hương buồn đến...thúi cả ruột! Gần nhà tôi có cái thung lũng tình yêu, gặp lúc thất tình, tuyệt vọng, có người còn nhảy xuống tự tử mắc công chính quyền sau này phải giăng lưới hứng họ! Nhưng chính trong không gian ảm đạm như thế càng tăng thêm sự ấm áp thân thương khi nhìn thấy, dù chỉ qua màn hình và nghe tiếng nói của vị đạo sư tôi hằng kính mến, không ai xa lạ, còn có nhân duyên quen biết từ mấy chục năm nay, đó là Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển. Thầy không ở đâu xa, hiện diện ngay trước mặt đây thôi xua đuổi hết bao cảm giác cô đơn lạnh lẽo nơi xứ người.