Nước Mắt Đàn Ông

05/09/202217:47(Xem: 5417)
Nước Mắt Đàn Ông


nuoc mat dan ong 2


Nước Mắt Đàn Ông





Theo truyền thuyết, tạo hóa sinh ra đàn bà từ một dẻ sườn của người đàn ông và ban tặng họ cả gia tài khổng lồ đó là những giọt nước mắt của suối nguồn yêu thương, đau khổ. Đàn bà khóc là chuyện bình thường. Còn đàn ông, liệu họ có bao giờ rơi nước mắt? Nhân gian quan niệm đàn ông thường gắn liền với bản lĩnh cứng cỏi, sự lạnh lùng vô cảm. Không! Đàn ông cũng biết khóc, cười bởi họ cũng là con người có trái tim. Chỉ có điều nước mắt đàn bà trào qua bờ mi thì nước mắt đàn ông lại chảy ngược vào tim.

Tôi đã hơn một lần chứng kiến nước mắt đàn ông rơi.

Cha tôi khóc, ngày mẹ buông tay cha con tôi đi theo một người đàn ông khác, mẹ mải mê kiếm tìm ảo ảnh hạnh phúc ở chân trời xa lắc mà quên đi tổ ấm bình yên. Ngày ấy, cha câm lặng như một pho tượng bằng đá, bàn tay thô ráp của cha cầm cái rựa chém mạnh vào cây chuối sau vườn nhà, thân chuối đứt đôi như duyên nợ của cha mẹ tôi gãy làm đôi mảnh. Lưỡi dao sắc ngọt chém toạc bóng đêm, chém rách ngọn gió đông gầy, chém toạc lời thề đá vàng tào khang. Tôi sợ hãi ôm lấy cha, hét lên: “ Cha ơi, cây chuối mẹ trồng đó! Nó ra hoa rồi kìa!”. Nghe câu nói ngây thơ của tôi, cha cười đắng ngắt: “cảnh còn, người mất, tiếc chi con!”. Đêm ấy, nằm bên cha, tôi thao thức, nghe hai hàm răng cha nghiến mạnh để không bật ra tiếng khóc nhưng tôi vẫn cảm nhận được những giọt nước mắt mặn mòi của cha chảy ngược vào tim, tim cha buốt nhói, cha trằn trọc, tiếng thở dài kẽo kẹt nhịp chõng tre. Nhiều ngày sau đó, cha lầm lũi làm việc, đêm khuya, cha mượn cút rượu cuốc lủi có cái nút lá chuối khô tìm quên. Những lúc ấy, mắt cha đỏ ngầu, cổ họng cha phát ra những tiếng khô khốc tựa lời nguyền cay độc. Khi ấy, tôi chẳng hiểu cha cười hay khóc nữa, nếu có cười thì cũng ra nước mắt mà thôi. Rồi cha nhìn trăng, ngâm ngợi đôi vần thơ chua chát:

“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”

Tôi cảm nhận được vết thương trong lòng cha sâu hoắm như một cái hố. Và tôi biết cha còn thương mẹ rất nhiều. Thương và hận đã vò xé con tim rớm máu của cha. Những tháng ngày ấy, cha tôi nước mắt chan cơm vơi đầy.

Gà trống nuôi con, cha quyết chí nuôi tôi ăn học. Kỳ thi đại học đến, cha con tôi khăn gói quả mướp lếch thếch đưa nhau lên thủ đô. Lần đầu tiên cha tôi xỏ đôi dép, đôi dép tổ ong mới đổi của bà lông ngan, lông vịt không che hết những ngón chân thô kệch lam lũ thò ra. Nhìn bộ dạng quê mùa, lớ ngớ của cha con tôi, bọn xe dù, bến cóc thi nhau chào mời. Cha con tôi bị bán khách đến vài ba lần, vẫn phải đi bộ hàng cây số mới hỏi thăm đến trường thi. Mỗi lần trả tiền xe, cha ngậm ngùi cởi bọc tiền được gói cẩn thận trong cái áo bộ đội đã sờn, còn tôi ấm ức, bức xúc với thái độ chém chặt, lừa gạt khách. Tôi lầm bầm: “ Cuộc sống thành phố thật phức tạp.”. Sợ tôi nản chí, ảnh hưởng việc thi cử, cha gượng cười: “ Lần đầu cha con mình lên đây, như vậy cũng rút ra bài học, đi một ngày đàng học một sàng khôn đó con.”. Sau khi thuê phòng trọ thi cho tôi tại kí túc xá, cha đưa tôi vào căng tin ăn cơm, nhưng cha chỉ mua một suất. Tôi ngạc nhiên hỏi, cha nói rằng hẹn gặp một người quen ăn cơm cùng họ. Tôi hồn nhiên tin ngay mà đâu hay cha lặng lẽ ăn cơm nắm, muối vừng dưới gốc cây. Đêm xuống, cha nói với tôi vào ngủ nhờ nhà người quen. Nào ngờ, sáng ra, lạ nhà, không ngủ được, tôi lang thang ra hành lang, giật mình phát hiện cha đang nằm ngủ ở ghế đá trong khuôn viên. Đến bên cha, tôi nghẹn ngào khóc nấc: “ Mình về thôi cha, con không thi nữa!”. Cha choàng tỉnh, an ủi tôi: “ Bố cô! Tôi ngủ đây mát như đàn, sao nào. Cực bao nhiêu cha cũng lo cho con học, phải học mới mở mặt ra được con ạ! Như cha đây, thất học, bất tài nên mẹ con bỏ cha...”, mắt cha nhìn xa xăm, còn tôi lại hun đúc quyết tâm khoa bảng. Sau mỗi buổi thi, cổng trường đông nghịt phụ huynh chờ con với tâm trạng hồi hộp. Giữa những chiếc xe hơi sang trọng nối đuôi nhau cùng dòng người mặt hoa da phấn, tôi nhận ra cha với chiếc áo bạc màu, cái quần quăn tít như lò xo cùng bộ dạng hớt hải, cha cầm cái mũ cối vẫy tay ra hiệu cho tôi khiến tôi không cầm được nước mắt. Tôi hoàn thành bài thi rất tốt, cha vui lắm, nhìn thiên hạ đưa rước con bằng xe hơi, cha ngậm ngùi: “ Cha bất tài nên con thiệt thòi!”. Tôi ôm lấy cha thầm thì: “Cha là người đàn ông vĩ đại nhất trong mắt con!”, cha cười mà mắt đỏ hoe: “ Bố cô! Lẻo mép!”.

Một ngày đẹp trời, cha đang cào thóc phơi bỗng có tiếng xe đạp “kính coong” của anh bưu tá đưa thư. Tôi trúng tuyển đại học. Hình như cha mừng hơn cả tôi, cầm phong thư có dấu đỏ chót của trường đại học trên tay, cha vỗ tay vào đùi đánh đét rồi quýnh quáng chạy khoe khắp xóm. Bà con ai cũng mừng cho cha con tôi.

Lần thứ hai cha khóc, ấy là ngày tiễn tôi đi học đại học. Ngồi trên chuyến xe liên tỉnh duy nhất trong ngày, tôi ngoái đầu nhìn lại, trong làn khói bụi, cha đứng đó, hanh hao gầy, mắt cha rưng rưng. Bóng cha loang lổ trong hoàng hôn nhạt nắng Tôi lên thành phố để lại trong cha cả trời thương nhớ, cả nỗi cô đơn vò võ. Cuộc sống phồn hoa chốn đô hội khiến tôi lạc lõng, thương nhớ cha nhiều hơn. Cha viết thư dặn dò tôi phải chăm chỉ học, không cần về nhà nhiều, dồn thời gian mà học, cần gì cha sẽ gửi cho. Thương cha, tôi chăm chỉ học hành, giành được học bổng cao nhất.

Nghỉ Tết, tôi háo hức mua sắm đồ trở về quê, không quên mua biếu cha một bộ quần áo mới bằng tiền học bổng của mình. Lặng lẽ về, không báo trước để tạo sự bất ngờ cho cha, bước chân vào khoảng sân vắng, tôi nghẹn lòng bắt gặp hình ảnh cha cặm cụi ngồi gói bánh chưng với đôi bàn tay vụng về, lóng ngóng. Việc này, bao năm rồi mẹ tôi vẫn làm. Cha gầy hơn, đôi mắt trũng sâu hơn. Chạy lại bên cha, tôi nghẹn ngào: “ Con nhớ cha quá!”, chiếc lá dong trên tay cha rơi xuống, cha mừng rỡ ngắm nghía tôi từ đầu đến chân, vẫn câu nói quen thuộc mà ghim tạc vào lòng tôi ngọt ngào: “ Bố cô! Lớn rồi mà như con nít! Liệu mà học, đừng có yêu đương tí tởn, cha gọt đầu bôi vôi nghe con!”. Những ngày Tết thật đầm ấm biết bao, tiếng nói cười rộn rã của tôi dệt thành những sợi nắng hồng sưởi ấm cuộc đời u buồn, ngang trái của cha dẫu những ngày ấy thật ngắn ngủi.

Tốt nghiệp đại học với tấm bằng đỏ, tôi dễ dàng kiếm được một công việc như mơ. Rồi tôi đẹp duyên với một chàng trai Hà thành gia giáo, tài ba. Cuộc đời như trải thảm cho tôi đi. Không! Đúng hơn là cha tôi đã dùng sự lam lũ, cay đắng đời mình để đệt thảm cuộc đời tôi. Cha đã nuôi tôi thành người bằng những đồng tiền lấm lem, chiu chắt một nắng hai sương. Cha đã oằn lưng cơ cực để con đường tôi đi thẳng tắp. Cha đã dùng giọt nước mắt đời mình để tô hồng nụ cười trên môi tôi. Ngày tôi lên xe hoa theo chồng, tôi đâu hay cha đã khóc thật nhiều mặc dù cha cố tỏ ra cứng rắn vì không muốn tôi buồn trong ngày hạnh phúc nhất cuộc đời. Ngoái lại, tôi bắt gặp hình bóng liêu xiêu, gầy guộc của cha thẫn thờ nhìn xác pháo tung bay rợp bờ sông đỏ nắng. Đưa tay vẫy chào tôi, cha khóc, nước mắt lăn dài trên gò má sạm màu nắng gió. Bộ quần áo mới toanh, sang trọng tôi sắm cho cha không khiến cha lột xác, nó mâu thuẩn , đối lập thê thảm với bộ dạng khắc khổ của cha.

Làm dâu xứ người, nỗi nhớ thương cha cồn cào trong tôi. Mỗi khi ngồi quây quần bên mâm cơm gia đình chồng cùng bàn ăn thịnh soạn, tôi lại thắt lòng, quay quắt nghĩ đến cha đơn chiếc bên cái mâm gỗ cùng vài quả cà muối hẩm, rau muống chấm tương. Tết đến, xuân về là lúc tôi nhớ cha nhiều hơn. Được cái mẹ chồng tôi là người hiểu biết, cảm cảnh cha tôi hiu quạnh, bà mua sắm quà Tết rồi cho vợ chồng tôi về quê ăn tết với cha. Tôi mừng rơi nước mắt. Ba Mươi Tết, vợ chồng tôi đánh xe hơi về quê. Không khí ngày xuân khiến xóm làng tưng bừng, rộn rã. Nhà nhà quây quần, đầm ấm bên mâm cơm tất niên sum vầy. Bước chân vào ngõ, lòng tôi quặn thắt nhìn ngôi nhà hiu quạnh, buồn tênh không chút sắc khí ngày xuân. Nép sau cây rơm, tôi lặng lẽ quan sát cha. Thân hình khắc khổ của cha lọt thỏm trong tấm áo bông huyền thoại, ngọn gió mãn đông tàn nhẫn rít gào từng cơn tê tái. Hình ảnh cha khoảnh khắc ấy đóng đinh trong lòng tôi nhức buốt. Ba Mươi tết, cha đơn chiếc, vò võ một mình. Ba Mươi Tết, cha cặm cụi, thui thủi bên chái bếp làm cơm cúng tổ tiên. Bàn tay gầy guộc của cha lóng ngóng đơm xôi, cái bánh chưng bóc vụng miếng to, miếng nhỏ, đỗ, thịt thò cả ra ngoài. Tiếng nói cười rôm rả bên nhà hàng xóm vọng lại khiến cha ngước mắt, rồi cha nhìn xa xăm như kiếm tìm điều gì đó và...một giọt nước mắt mặn mòi từ từ lăn xuống khuôn mặt khắc khổ, in hằn bao cay đắng. Không thể kìm lòng được nữa, tôi chạy đến ôm chầm cha nức nở như con nít bị đòn oan: “ Cha ơi, con về với cha rồi đây!”. Cha tôi sững sờ: “Các con về sao không báo cha? Cúng tất niên xong, mau về trên đấy ăn Tết với ông bà.”. Tôi vẫn nghẹn ngào: “Không, vợ chồng con sẽ ăn tết với cha.”. Cha lặng người, ái ngại: “Thế sao được, con gái lấy chồng phải chu toàn việc nhà chồng. Cả năm có ba ngày tết, các con phải về sum họp kẻo lỗi đạo dâu con.”. Chồng tôi cay cay khóe mắt, ôm choàng cha: “Là mẹ con bảo chúng con về đó cha.”. Đúng lúc ấy có chuông điện thoại của mẹ chồng tôi gọi chúc tết cha tôi, bà nói rằng trên đó còn có các anh, chị nên vợ chồng tôi cứ yên tâm ăn tết ở quê cùng cha. Cha mừng ra mặt, vụng về nói lời cảm ơn và chúc tết bố mẹ chồng tôi.

Một ngày, dì ruột tôi báo tin mẹ tôi bệnh nặng, đơn chiếc một mình không ai chăm sóc. Người đàn ông dụ dỗ mẹ tôi đã bỏ bà ra đi khi “Con ong đã tỏ đường đi, lối về”, khi hoa tàn, nhụy rữa xuân thì nhạt phai. Nghe tin ấy, lòng tôi lạnh lùng, dửng dưng lạ! Tôi thầm nghĩ phải chăng đó là quả báo mà bà đã tự gieo, gặt. Nhưng dì tôi nói đúng, dẫu oán giận bao nhiêu thì tôi vẫn là giọt máu mà mẹ đã mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày, thâm tình đâu dễ dàng rũ bỏ. Tôi quyết định thông báo với cha tin này. Mặt ông tím bầm lại giận dữ hệt như cái ngày mẹ bỏ đi, ông hét lớn: “Đừng nhắc tới người đàn bà tệ bạc ấy trước mặt cha. Coi như bà ấy đã chết rồi.”

Vậy nhưng nước mắt cha tôi vẫn rơi tiếp. Ấy là ngày cuối đời của mẹ, cha bất ngờ xuất hiện. Mẹ thều thào nói lời tạ lỗi với cha con tôi trong hơi thở gấp gáp. Cha khóc nghẹn: “Bà dại lắm! Sao lại để mình ra nông nỗi này? Bà có biết tôi vẫn đợi bà trở về từng ngày không? Có kiếp sau, bà vẫn phải trả nợ cha con tôi. Tôi đưa bà về nhà mình nhé!”. Thì ra cha vẫn yêu mẹ nhiều lắm, tình yêu và hận thù làm héo hon con tim cha. Mẹ tôi cười thanh thản, nhẹ lòng, hai tay mẹ run rẩy chới với nắm tay tôi và cha, giọt nước mắt của cha và mẹ hòa vào nhau trên đường giao định mệnh. Mẹ trút hơi thở cuối cùng. Cha tôi lại lặng lẽ lo ma chay cho mẹ, khuôn mặt cha thêm nhiều nếp nhăn hơn, đôi mắt ông trũng sâu hơn. Mỗi ngày cúng cơm cho mẹ, nước mắt cha lại chảy ngược vào tim. Tôi biết!

Khi nước mắt đàn ông rơi, ấy là tột đỉnh của niềm hạnh phúc!
Khi nước mắt đàn ông rơi, ấy là tột cùng của sự khổ đau!
Cha tôi... đã khóc một đời!
Đi qua ngày của cha.
Từ FB Anh Phan








Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2020(Xem: 14706)
Làm thinh không phải mình sai Làm thinh là để tương lai cuộc đời Làm thinh không phải dại khờ Làm thinh là để lu mờ thị phi Làm thinh không phải khinh khi Làm thinh là để biết đi biết về Làm thinh không phải u mê Làm thinh là để nghĩ về đường tu Làm thinh không phải gật gù Làm thinh là để Văn Thù hiện ra Làm thinh không phải thứ tha Làm thinh là để biết ta làm gì Làm thinh không phải nhu mì Làm thinh là để mỗi khi thực hành Làm thinh không phải tranh giành Làm thinh là để trung thành hạnh tu
02/12/2020(Xem: 15817)
¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ LŨ LỤT MIỀN TRUNG VIỆT NAM (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 8 ¨ BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN TỤNG THÍCH, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9 ¨ QUÊ HƯƠNG MÙA BÃO LŨ (thơ Mặc Phương Tử), trang 11 ¨ QUẢ BÁO VỀ VIỆC GÂY TẠO CHIẾN TRANH (Quảng Tánh), trang 12 ¨ CÁI THIỆN VÀ HẠNH PHÚC (Quảng Tánh), trang 13 ¨ CHỈ LÀ LỜI HỎI THĂM (thơ Thy An), trang 15 ¨ KHỔ THÁNH ĐẾ (Chân Hiền Tâm), trang 16 ¨ SAU LỤT LÀM BÀI THƠ VỀ CỎ (thơ Lê Vĩnh Tài), trang 20 ¨ ĐẠO ĐỨC VƯỢT KHỎI TÔN GIÁO (Tuệ Uyển dịch), trang 21 ¨ MÙA LŨ (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 25 ¨ LÀM THẾ NÀO ĐOẠN TRỪ CÁC LẬU HOẶC? (TN Hằng Như), trang 27 ¨ AI ƠI, MAU DỪNG LẠI (thơ Huệ Trân), trang 32 ¨ CHÙA LINH QUANG VÀ CHÙA TỪ ĐÀM Ở TRUNG VIỆT, VNPG Sử Luận, Chương 33 (Nguyễn Lang), trang 33 ¨ LOAY HOAY GIỮA CON ĐƯỜNG (thơ Du Tâm Lãng Tử), trang 36 ¨ CHẤP THỦ LÀ ĐÁNG SỢ (Lâm Thanh Huyền), trang 37 ¨ TRUYỀN THỐNG GĐPT
01/12/2020(Xem: 14180)
Từ Nguyễn Du đến Bùi Giáng, lục bát Việt Nam đã tạo nên một bước đi tân kỳ, một bước nhảy ngoạn mục, rung lên những tiếng thơ tự tình giữa trường mộng nhân sinh, nỗi ngậm ngùi nhân thế với niềm xao xuyến, bồi hồi. Rồi tiếp nối trên những bước đi song hành cùng lục bát, rạt rào bao sóng vỗ ngân nga, hòa âm thâm thiết với những tâm hồn quá đỗi tiêu sái như Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn, Hồ Dzếnh, Phạm Thiên Thư, Huy Cận, Trần Xuân Kiêm, Huy Tưởng, Vũ Hoàng Chương… Đặc biệt Huy Tưởng, riêng một cõi trời thơ Mười Phương Tố Vọng phiêu diêu giữa Phương Chiều: Trũng hai mắt vọng bia đời Cổng tồn sinh mở mù khơi nắng tà Lòng tay nát mộng châu sa Phương chiều bãi quạnh mưa qua bến mình Nghiêng tầm con mắt soi kinh Vẳng nghe tâm lặng hồn chênh chếch về Phôi thu rụng lá mây đè Phiền ban sơ dậy đất se sắt lòng Im nghe thác máu loạn dòng Trôi phiêu lạc giữa vô cùng mộ Không
23/11/2020(Xem: 11329)
Phước duyên cho tôi khi được Me Tâm Tấn truyền trao gìn giữ một số thư từ còn lưu thủ bút & chữ ký của Chư tôn Thiền đức Tăng Ni vào những năm xưa xửa của thế kỷ trước. Trước, tôi đã có đôi lần giới thiệu thư từ bút tích của quý Ngài danh tăng Phật Giáo nước nhà như Ôn Trí Quang, Ôn Trí Thủ, Ôn Đỗng Minh, Ôn Đức Chơn, Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Thể Quán... Hôm nay, tôi xin cung kính giới thiệu đến chư vị thủ bút và chữ ký của một bậc tôn quý vốn là cột trụ quan trọng trong ngôi nhà Phật pháp, một vị hộ pháp đắc lực của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong những ngày đầu của phong trào phục hưng, một thành viên cơ yếu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất:
11/11/2020(Xem: 10486)
Mấy ngày mưa bão, rãnh rỗi ngồi soạn thư từ và hình ảnh, những kỷ vật mà Me Tâm Tấn luôn trân quý gìn giữ bao năm trời đã truyền trao lại cho tôi bảo quản làm tư liệu để tham khảo viết bài góp bút vào công tác hoằng pháp, tôi đã tìm thấy được những bức thư viết tay của một vị danh tăng Phật Giáo nước nhà: Cố Hòa thượng Thích Đức Tâm.
11/11/2020(Xem: 14876)
Trong quyển Yếu giải kinh A Di Đà lần đầu tiên xuất bản ở Việt Nam cũng như trên thế giới được in cả nguyên tác bằng chử Hán của Đại sư Linh Phong Ngẩu Ích cùng bản dịch Anh ngữ của Tiến sỉ J.C. Cleary và phần dịch sang Việt ngữ có chú giải của chính mình, học giả Lý Việt Dũng đã… “tự bạch” về “tiểu sử dài lòng thòng đáng chán của Song Hào Lý Việt Dũng”. Trong đó ông thẳng thắng nhận rằng: “Về quan điểm cuộc sống, tôi là người lạc quan tếu… Tôi cũng chay mặn tùy duyên, không bó thân trong những giới luật xa rời cuộc sống, chẳng có bổn sư vì chẳng quy y ai, chẳng có giới xơ cứng để giữ, sống đa cảm tự tại, có hơi “quậy” một chút!”.
25/10/2020(Xem: 4464)
Nước. Nước từ đâu cứ dâng lên; lên rồi rút, rút rồi lại lên, ngập tràn đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, làng quê, và phố thị của nhiều tỉnh thành miền Trung. Cuồng phong bão tố từ đại dương cuộn xoáy vào đất liền, kéo theo những cơn mưa xối xả ngày đêm. Nước lũ ngầu đục từ non cao đổ về, từ các đập thủy điện xả xuống, đẩy những dòng cuồng lưu ồ ạt đi về nơi trũng thấp, theo những nhánh sông hướng ra biển, chựng lại khi gặp mực biển dâng cao với cường triều gầm thét, sông nối biển biến vùng duyên hải thành một biển nước mênh mông.
30/09/2020(Xem: 31114)
Thư gởi Chư Thiện tri thức trong và ngoài nước..nhân Tết Nhi Đồng 2020 (HT Thích Tuệ Sỹ)
24/09/2020(Xem: 12197)
Thật là một đại duyên cho những ai là Phật tử tại gia như tôi lại được nghe lời chỉ dạy vừa tâm tình của Sư Phụ Viên Minh vào ngày thứ bảy của khoá thiền khoá 20 (20/9/2020) tại tổ đình Bửu Long như sau : " Ai cũng cho Thầy là người " ba phải "vì Thầy thường trích dẫn những ý tưởng của các Tông phái khác , nhưng đúng ra phải gọi Thầy là "người chục phải "vì ở mỗi Tông phái nào Thầy đều nhìn thấy những điểm hay, tốt và vì vậy Thầy chưa bao giờ phân biệt tông phái nào cả chỉ là nhập gia tuỳ tục thế thôi , vô ngại ...
21/09/2020(Xem: 22134)
Một trong những điểm đặc thù từ giáo pháp của Đức Phật chính là tinh thần Trung đạo - không rơi vào cực đoan khổ hạnh ép xác hay thú hướng dục vọng. Biện chính giáo pháp để làm lộ rõ con đường Trung đạo cũng là một phương thức hoằng pháp. Có thể sự biện chính chỉ là quan kiến cá nhân và đôi khi đi xa hơn vấn đề cần biện chính, nhất là những biện chính liên quan đến lát cắt của một phần tổng thể văn bản. Dẫu vậy, toàn bộ nội dung bài viết vẫn hướng đến mục đích làm sáng tỏ thêm con đường Trung đạo, tránh sự hiểu nhầm đáng tiếc đối với những Phật tử sơ cơ. Nguyệt San Giác Ngộ xin trân trọng giới thiệu bài viết đến với quý độc giả. NSGN Bài “Quan điểm của Phật giáo về vấn đề kinh tế” của Hòa thượng Tinh Vân (Phước Tâm dịch, Nguyệt san Giác Ngộ số 189, tháng 12-2011, trang 36), có một đoạn viết: