Cọp Khánh Hòa

04/01/202206:40(Xem: 11092)
Cọp Khánh Hòa

“CỌP KHÁNH HÒA”

NGÔ VĂN BAN

            Trên đất nước ta, rừng núi nào cũng có cọp, nhưng không phải vô cớ mà đâu đâu cũng truyền tụng CỌP KHÁNH HÒA, MA BÌNH THUẬN. Tỉnh Bình Thuận có nhiều ma hay không thì không rõ, nhưng tại tỉnh Khánh Hòa, xưa kia cọp rất nhiều. Điều đó, người xưa, nay đều có ghi chép lại.

            Trong sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1) của Thượng Thư Bộ Binh Lê Quang Định soạn xong vào năm 1806 và dâng lên vua Gia Long (1802-1820), tổng cộng 10 quyển chép tay, trong đó quyển II, III và IV có tên là Phần Dịch Lộ, chép phần đường trạm, đường chính từ Kinh đô Huế đến các dinh trấn, gồm cả đường bộ lẫn đường thủy. Đoạn đường ghi chép về ĐƯỜNG TRẠM DINH BÌNH HÒA (2) phải qua 11 trạm dịch với đoạn đường bộ đo được 71.506 tầm (gần 132 km)        

Tác giả ghi chép đầy đủ, chi tiết những gì có, những gì thấy trên đường đi, từ trạm này đến trạm khác. Trong đó, có những đoạn đường đầy những cọp, beo, voi, tê giác. Với những đoạn đường đó, tác giả lưu ý khách bộ hành nên đi ban ngày và tụ họp nhau lại cho đông rồi đi.

Từ trạm Hòa Mã đến trạm Hòa Lãng (khu vực huyện Vạn Ninh), đến Giồng Cốt Lũng, hai bên toàn cây cối, có nhiều cọp dữ và trâu rừng, người đi đường phải hết sức thận trọng. Đường đi từ trạm Hòa Lãng đến trạm Hòa Huỳnh (khu vực huyện Vận Ninh), đến Lũng Cát Lâm, đến Lỗ Sấu, ngày xưa có nhiều cá sấu, nhưng nay đã hết, chỉ sợ nhiều cọp. Từ trạm Hòa Mỹ (huyện Ninh Hòa) đến trạm Hòa Cát (TP Nha Trang), đến điếm cũ Hòa Bông, đi đến xứ Quán Cát, đường này có nhiều cọp beo. Phía Tây điếm này có hai nhánh đường : Một nhánh đi đến tổng Đồng Nô phủ Diên Khánh có nhiều cọp beo và voi rừng nhưng chẳng ai dám đi, nay đã trở nên tắc nghẽn hoang phế. Tiếp tục đi đến đèo Lũy Đá, đèo dài 200 tầm, núi này đất đá gồ ghề, cây cối hai bên rất rậm rạp và có rất nhiều cọp beo. Đường đi đến điếm Quán Dổi, ruộng cát và rừng tạp xen nhau, có nhiều cọp. Đường đi từ trạm Hòa Cát đến trạm Hòa Thạnh (huyện Diên Khánh), đến quán cũ Cây Sung, ở đây thường có thú dữ nên dẹp quán. Từ Quán Dù đến Dốc Cây Me rồi đến dốc Quán Đính, xứ Quán Trà đến đầu địa giới phủ Diên Khánh, đường sỏi đá gập ghềnh, hai bên là rừng cỏ tranh, có rất nhiều cọp dữ hay quấy nhiễu. Đền đèo Tổng Nô rồi đến Lũng Tre, hai bên đường là rừng núi, nhiều cọp beo. Đường đến miếu Quá Quan cũng vậy, rừng ven chân núi, có nhiều cọp beo. Đi tiếp đến Cầu Ngói, xã Phú Lộc, phía tây bắc gần rừng núi, có nhiều cọp beo. Từ trạm Hòa Thạnh đến trạm Hòa Tân (huyện Cam Lâm), đến núi Hòn Diễn, có miếu Bà Chúa Ngọc (Bà Thiên Y A Na) mới lập. Ngày xưa ở đây không có miếu, năm Đinh Tỵ (1797) vì đường này có nhiều cọp beo nên khách buôn bán không dám qua lại, quan trấn giữ Thành Diên Khánh là Khâm sai Chưởng tiền quân Bình Tây đại tướng quân Quận công (tức Nguyễn Văn Thành, tướng của Nguyễn Ánh) mật cầu Chúa Ngọc phu nhân hãy vì sinh nhân mà trừ nạn cọp beo rồi sẽ lập miếu thờ. Quả nhiên vài hôm sau liền bắt được thú dữ, khách qua lại đông đúc như trước, nên mới lập miếu thờ bà Chúa Ngọc ở đây, lệ cử một người làm từ, tục gọi là miếu Hòn Diễn. Đường đi từ trạm Hòa Tân gần đến trạm Hòa Du (huyện Cam Lâm), hai bên đường rừng ven chân núi, có nhiều tê giác, voi và cọp beo, dân cư rất thưa thớt. Từ trạm Hòa Du đến trạm Hòa Câu, đến đường rừng Suối Dứa, đường đi ven theo chân núi, có nhiều tê giác, voi và cọp beo. Đường đi đến sông Du Quân, gần trạm Hòa Câu, hai bên là núi rừng có nhiều tê giác, voi và cọp beo. Từ trạm Hòa Câu đến gần trạm Hòa Thuận (thị xã Cam Ranh), giáp biên giới phủ Bình Thuận (nay là ranh giới Khánh Hòa – Ninh Thuận), đường này nằm ven chân núi, có nhiều tê giác, voi và cọp beo.

            Qua những ghi chép của Lê Quang Định, ta thấy người xưa đi lại trong tỉnh thật là lắm gian nan, nguy hiểm khi đoạn đường có nhiều tê giác, voi và cọp beo như thế.

            Đại Nam Nhất Thống Chí – Tỉnh Khánh Hòa của Quốc Sử Quán triều Nguyễn (3) cũng đã ghi rõ 3 địa điểm có nhiều cọp, đó là :

1. NÚI PHÚ NHƯ : “tục gọi là núi Ổ Gà ở cách huyện (huyện Tân Định, tức là huyện NINH HÒA ngày nay) 64 dặm về phía Bắc, cây cối um tùm, có nhiều cọp, người đi đường phải đề phòng, tục gọi “cọp Ổ Gà”, tức là núi này. Nay càng ngày càng được khai khẩn rộng rãi, dần dần trừ được nạn cọp “.

Tại núi Phú Như này có đèo Bánh Ít, còn gọi là đèo Hà Thanh, cách thị trấn Ninh Hòa 3 km về phía Bắc, quốc lộ 1A chạy ngang qua. Nguyễn Đình Tư trong Non nước Khánh Hòa đã cho ta biết “ nơi này cây cối rậm rạp, cọp beo lui tới rất nhiều và gây tai họa cho khách đi đường. Dân chúng phải làm miếu để thờ, thường gọi là miếu Ông Cọp “ (4). Miếu Ông Cọp (dân địa phương kiêng gọi cọp, gọi là hổ nên gọi là Miếu Ông Hổ) ở đèo Bánh Ít này gắn liền với một sự tích về gương nghĩa khí, lòng dũng cảm của một người phụ nữ ở địa phương. Đó là Bà Huỳnh Thị Nghĩa. ĐNNTC-KH chép, Bà là : “người huyện Quảng Phước, 47 tuổi, đi cùng chồng vào núi hái củi, người chồng bị cọp vồ, bà lấy dao củi chém cọp cứu chồng, người ta khen người có nghĩa. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) được ban thưởng “. Sau khi quần nhau với cọp dữ, Bà kiệt sức và tắt hơi. Dân làng đi tìm và mang thi thể Bà về chôn cất và lập miếu thờ ở lưng chừng đèo Bánh Ít. Bà là người thôn Vạn Thiện, xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa ngày nay. Ngôi Miếu thờ Bà được dân làng gọi là Miếu Bà, nhưng cũng có người gọi là Miếu Ông Hổ. Ngôi Miếu trải qua thời gian, không được trùng tu nên dần dần đổ nát, hư sập, hoang tàn. Đến năm 2002, dân làng Vạn Thiện cùng nhau đóng góp tiền di dời và xây dựng lại ngôi miếu trên một gò đất cao ngay cạnh đình làng và đặt tên là Miếu Hậu Thổ. Nguyễn Đình Tư còn kể “ cũng tại núi này, xưa kia có hai mẹ con vào núi hái củi. Chẳng may bị cọp vồ, cô con gái vì thương mẹ đem hết sức bình sinh cầm dao chém cọp lia lịa. Cọp phải thả mồi bỏ chạy …” (4).

 2. NÚI XÍCH THỐ : “ở phía Tây Bắc huyện Tân Định (huyện Ninh Hòa ngày nay) 24 dặm. Miền này đất đỏ, núi rừng trùng điệp, có nhiều loại : hổ, báo, tê giác, voi ..”.

 3. NÚI DIỄN SƠN : Nội dung giống như trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định như đã trích ở trên. Nguyễn Đình Tư còn kể thêm về con cọp, đó là “ con cọp đầu đàn, sống trên trăm năm. Nó chỉ có ba chân lành, còn một chân trước bị què, nhưng khỏe mạnh hung dữ vô cùng “ (4). Miếu thờ Bà Thiên Y ở gần Ga Cây Cầy (huyện Cam Lâm) bây giờ, xưa, hàng năm, quan đầu tỉnh phải tới đây để cúng tế.


Trong Non nước Khánh Hòa, Nguyễn Đình Tư còn cho ta biết tại núi HOA SƠN, huyện Vạn Ninh, dưới chân núi có truông, gọi là Truông Hụt, ở đây có nhiều cọp. “Sở dĩ có tên Truông Hụt vì xưa kia, nơi này có nhiều cọp. Khách bộ hành thường đi qua bị cọp vồ. Ai qua được trót lọt thì cũng ví như người ấy đã chết hụt vậy “ (4).

            Quách Tấn, trong một bài báo(5) cho biết tại Thành phố Nha Trang cũng có cọp, qua câu thơ của cụ Trần Khắc Thành : Phước Hải xuân về cọp thưởng hoa. (…).Vùng Phước Hải xưa kia là một rừng mai vàng, mỗi bận xuân về mai nở trùm cả trăm mẫu đất “. Sau này, rừng mai bị tàn phá. “ Khi rừng mai còn rậm, cọp ở núi Huỳnh Ngưu tức Đồng Bò, thường xuống tìm mồi “ đã được nhà thơ cho rằng cọp thưởng hoa.

Nói về Cọp Khánh Hòa trong thơ, ta còn thấy trong vài bài thơ khác của một số người đi qua tỉnh Khánh Hòa đã để lại trong thơ bóng dáng của con vật hung dữ này. Nguyễn Thông (1827-1884), người đã từng làm quan Án Sát Khánh Hòa. khi qua  tỉnh, giữa đường, ông làm bài thơ Khánh Hòa đạo trung (Giữa đường qua tỉnh Khánh Hòa, trong đó có câu Nhất lộ tùng hoàng kiêu hổ báo / Sổ gia yên hỏa tập ngư tiều (Tung hoàng hổ báo tre đầy nẻo / Xen kẽ ngư tiều khói mấy chơi). Trong một bài thơ khác, bài Thứ Hòa Mã dịch (Đóng quân ở trạm Hòa Mã, ở huyện Vạn Ninh), có câu : Hổ tích kình ba thập bát trình / Thiên nhai độc dạ lữ hồn kinh (Sóng kình dấu cọp trải qua / Hành trình mười tám dặm xa cách vời). Một nhà thơ khác, ông Nguyễn Tư Giản (1823-1890), đỗ tiến sĩ, làm quan ở Nội Các triều Nguyễn, trong bài thơ Tống Tỷ Bộ Nguyễn Hy Phần dự cáo quy Khánh Hòa (Thơ tiễn ông Hy Phần (tên chữ của Nguyễn Thông) ở Bộ Hình cáo quan về Khánh Hòa), có câu Đại Lãnh văn viên cô nguyệt hạ / Nha Trang xạ hổ loạn vân gian (Đi qua núi Đại Lãnh nghe vượn kêu dưới ánh trăng lạnh / Ở đất Nha Trang bắn cọp trong đám mây lồng) … Như thế, cọp Khánh Hòa nhiều đến độ đã đi vào thơ văn.

Người đời trước kể chuyện cọp, người đời sau cũng có chuyện cọp để kể. Chuyện Cọp Khánh Hòa cũng đã được Lê Quang Nghiêm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã đi đây đi đó trong tỉnh, thu nhặt, ghi chép thành chuyện và ông đã kể lại trong sách Những chuyện kể dân gian Khánh Hòa (6). Chuyện kể có 3 phần : Phần I kể chuyện cọp ở vài nơi trong tỉnh. Phần II nói về địa thế mội trường trong tỉnh thích hợp cho cọp sinh sống. Phần III nói riêng về cọp ở Hòn Dữ ở huyện Diên Khánh và cọp Ổ Gà ở huyện Ninh Hòa.

Ở phần I kể chuyện cọp, có những chuyện:

- Chuyện Ông Thầy thuốc và gia đình nhà cọp tại Truông Láng Chu Láng Nhớt, quãng giữa Dốc Thị và Dốc Đá Trắng ở huyện Vạn Ninh. Chuyện ông thầy thuốc người Nghệ An bị bốn con cọp chận đường, thầy cầm cây dù vừa giương lên sập xuống chỉa về phía gia đình nhà cọp làm chúng hoảng hồn chạy nhanh vào rừng, vừa chạy vừa té phân đầy đường.

                        - Chuyện Dậy Bộ Hổ là chuyện đông người vào rừng đánh mõ, thùng thiếc, la ó đuổi cọp tránh xa để tìm xác người bị cọp bắt tha đi. Chuyện xảy ra tại thôn Đại Điền, xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh.

                        - Chuyện Bà lão ở đèo Bánh Ít (tại Núi Phú Như, huyện Ninh Hòa nắm đuôi con gấm trước cửa nhà, la lớn cho dân làng đuổi đánh và giết được.

- Chuyện Một người dùng bay tóm được nhiều gấm, cọp Ổ Gà vào thập niên 40, đó là ông giáo Nhân ở Phước Đa, huyện Ninh Hòa.

Ở Phần II, tác giả cho ta biết cọp có nhiều nơi trong tỉnh, ở rừng núi đèo Cả, Tu Bông, Vạn Giã (thuộc huyện Vạn Ninh), vùng rừng núi huyện Ninh Hòa. Dân Vạn Ninh, Ninh Hòa đi địu (tìm trầm kỳ) một số người bị cọp bắt. Ở bãi đất hoang gần núi Một Vạn Ninh, có sân trâu, nhiều chuồng nhốt trâu khá kiên cố để ngăn cọp bắt trâu. Nhưng cũng có những con cọp tinh ranh, lợi dụng sự mục nát của dây cột cửa, bứt ra, vào bắt trâu cõng đi. Ở tại sở lưới đăng Vĩnh Y Hồ Na  (huyện Vạn Ninh) có lập miếu thờ Ông Hổ. Ở xóm biển Hòn Khói (huyện Ninh Hòa) cọp thù người thường đụng sập nhà tranh vách đất của dân, nên dân gọi là Ông Đụng. Tại xã Ninh Thủy, huyện Ninh Hòa có lần cọp kịch chiến với trâu của ông Xã Đẹt. Cũng tại đèo Bánh Ít, ông Ba Chia, năm 12 tuổi đi chăn trâu, chứng kiền trâu húc cọp mà sợ đến ị ra đầy quần. Trên đoạn đường từ Ninh Hòa vào Nha Trang xưa kia còn đất rừng, cọp thường đón đường bắt người. Đoạn đường từ đèo Rù Rì đi lên Diên Khánh qua xã Vĩnh Phương, TP Nha Trang cũng có cọp rình mò. Từ núi Hòn Khô, cọp cũng thường xuống vùng Đồng Đế. Tác giả cũng cho biết tại phía đông Chợ Đầm (khi chưa có chợ mà còn đầm) có một lạch nhỏ từ đầm chảy vô, hai bên cây cối um tùm, thường có cọp ở xóm Xưởng (phường Phương Sơn) ban đêm mò xuống đón đường các bà rỗi từ Xóm Cồn gánh cá qua lạch đến bán cá tại Sinh Trung, Phường Củi … Cọp Xóm Xưởng cũng là mối đe dọa cư dân Chợ Mới, Cầu Dứa, Phường Củi, Lư Cấm …  Tại Hòn Tre Nha Trang, có cọp còn có loài khỉ dữ tợn nữa. Cọp ở dãy Đồng Bò Thượng hoạt động trên địa bàn khá rộng từ Võ Dõng (TP Nha Trang) lên Võ Kiện, khu Suối Đổ, vào Cầu Lùng, Cống Ba, Suối Hiệp, Suối Dầu …  Trên địa phận huyện Diên Khánh, khu vực Tứ thôn Đại Điền, Am Chúa, Suối Ồ Ồ, Hòn Ngang có rất nhiều cọp thường bắt người và trâu bò. Vùng Phú Cốc (xã Diên Lâm) có con cọp ba chân rất hung dữ. Nó xuất hiện nhiều nơi, vào tận huyện Cam Lâm bây giờ, ăn thịt nhiều người. Rồi vào Cam Ranh, nhiều vùng còn rất hoang vu, đầy cọp và thú dữ. Ở Ba Ngòi, thị xã Cam Ranh có chuyện cọp ăn “đặc sản biển”, do dân sợ cọp chuyển qua đảo Bình Ba sinh sống, cọp không có thức ăn, ra bãi dùng tạm … cua ốc để sống, có khi nước thủy triều lên, cọp chạy không kịp bị chết ngộp.

Phần III nói về cọp ở Hòn Dữ, thuộc khu vực xã Diên Lâm, huyện Diên Khánh. Núi tên Dữ vì thú dữ nhiều nhất trong vùng rừng núi trong tỉnh. Còn tại Ổ Gà, dân các làng xung quanh đi vào rừng núi tìm gỗ thường bị cọp vồ. Xin trích ra đây phần Cọp Ổ Gà vùng Ninh Hòa cho bạn xem ninhhoatoday.net thưởng thức, để nhớ về một quê hương nhiều …. cọp :

“ CỌP Ổ GÀ

Một vùng có nhiều cọp hơn các nơi khác trong tỉnh Khánh Hòa là cụm núi Ổ Gà thuộc ba làng Hà Thanh – Ninh Đông – Ninh Ích. Nghe ba tiếng Cọp Ổ Gà đã lạnh xương sống vì từ xa xưa đến thập niên 90 cọp đã gây khá nhiều tai họa tang tóc cho nhân dân.

Cụm núi Ổ Gà gồm hai dãy núi thấp trải dài hai bên một thung lũng rộng, phía đông nam đèo Bánh Ít. Một eo hẹp trong dãy núi – như eo cổ chai – nơi đây dây mấu như rừng nên còn gọi là Eo Lỗ Mấu. Trong thung lũng cây rậm bịt bùng, ngày xưa dân đi núi thường bị lạc không biết đường về, người địa phương vào tìm, lần mò trong rừng tối om như trong buồng kín nên đặt tên Thung lũng Buồng Tầm.

Dù biết núi Ổ Gà trăm phần nguy hiểm, người ta vẫn lao vào, đem mạng sống đổi bát cơm vì tài nguyên thiên nhiên tại đây có nhiều gỗ quý, gỗ tạp, gỗ to làm cột đình, cây làm nhà, tre gai, dây mấu ngư dân dùng đan lưới, khoai mài (vị thuốc đông y có tên Hoài Sơn), mật ong rất nhiều….. Dân ba làng Hà Thanh, Ninh Đông, Ninh Ích và người tha phương vào kiếm ăn tại núi Ổ Gà từng nhóm đông mà vẫn không tránh khỏi tai họa, chết vì cọp beo quá nhiều. Một phần bị mất tích, một phần được dân làng Hà Thanh tìm được xác mang về, trong số này có những người lạ không rõ lai lịch, đem chôn tại nghĩa địa phía Bắc đèo Bánh Ít. Sau khi có chuyện cọp bắt một lần ba người tại Buồng Tầm thì thung lũng có tên mới : Buồng Tầm Ba Mạng.

Dân ba làng quanh cụm núi Ổ Gà điêu đứng vì cọp beo. Riêng làng Hà Thanh bị tai họa nhiều hơn vì có thêm đám cọp Hòn Hèo mò xuống phá phách  các xóm Tiên Du, đèo Bánh Ít.

Tảo mộ thí và nghĩa cử của một nhà giàu

Tại nghĩa địa phía bắc đèo Bánh Ít mỗi năm có một số mộ vô chủ – của người phương xa đến kiếm ăn tại cụm núi Ổ Gà chết vì cọp, không rõ lai lịch. Thương xót những kẻ bạc phước chết nơi xa lạ mà vợ con khơng biết để thờ cúng và chăm sóc mồ mả, nên vào tiết Thanh Minh hàng năm làng Hà Thanh tổ chức lễ cúng cơm đơn giản tại nghĩa địa cho vong linh những người chết vô thừa nhận. Họ là những người tình nguyện đến làm cỗ, đắp đất tu bổ những mộ vô chủ sau khi làm xong việc tảo mộ thân nhân. Và một nhà giàu trong làng tự nguyện cất một chùa ngoài đèo Bánh Ít, đặt tên Thanh Minh Tự và cúng một sào ruộng cho chùa làm huê lợi, để làng cử một thầy tu trụ trì trông nom hương khói, cúng kiến cầu siêu cho vong linh của tất cả những người tử nạn vì cọp beo chôn tại nghĩa địa trên.

Chùa Thanh Minh Tự bị phá hủy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và làng Hà Thanh bỏ lệ tảo mộ thí từ đó.

Sau Phần III, tác giả cho ta biết bản chất của cọp, nhảy cao chụp xuống nên rất sợ cây nhọn dựng đứng. Cọp chưa ăn thịt người thì sợ người, nhưng đã ăn rồi thì trở nên hung dữ. Chuyện săn bắn cọp của người Pháp, người Việt vào những năm 30-40 cũng được tác giả kể lại. Cuối cùng, tác giả kết luận : “Tiếng cọp Khánh Hòa vang dội từ xa xưa đến giữa thập niên 90 này chỉ còn là dư âm một thời tung hoành ngang dọc của cọp và thú dữ tỉnh Khánh Hòa”.

Chuyện Cọp Khánh Hòa là như thế !

-----------

(1) LÊ QUANG ĐỊNH, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Phan Đăng dịch, chú giải và giới thiệu, NXB Thuận Hóa, Huế, 2005.

(2) Dinh Bình Hòa đổi từ Dinh Bình Khang từ năm 1803, Gia Long thứ 2, có cương giới phía Bắc giáp đèo Cả, phía Nam giáp Bình Thuận. Năm 1808, đổi lại là TRẤN BÌNH HÒA và năm 1832, Minh Mạng thứ 13, là TỈNH KHÁNH HÒA, gồm có 2 phủ, 4 huyện.

(3) Đại Nam nhất thống chí – Tỉnh Khánh Hòa hiện nay có 2 bản dịch căn cứ vào bản in đời Tự Đức (1848-1883) và bản in đời Duy Tân (1907-1916). Hai bản có những khác nhau về một số địa danh, số liệu. Bản dịch bản in đời Tự Đức do Phạm Trọng Điềm dịch và Đào Duy Anh hiệu đính, do nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế tái bản năm 1992, tỉnh Khánh Hòa nằm ở Tập 3. Bản dịch bản in đời Duy Tân do Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn Hóa – Bộ Văn hóa Giáo dục Sài Gòn xuất bản năm 1964, tỉnh Khánh Hòa nằm trong Quyển 10-11. Ở đây, người viết dùng bản dịch của 2 bản in để bổ sung cho nhau.

(4) NGUYỄN ĐÌNH TƯ, Non nước Khánh Hòa, NXB Sông Lam, Sài Gòn,1969

(5) Tạp chí Trầm Hương, Sở Văn Hóa – Thông Tin Khánh Hòa, số tháng 7/1989.

(6) LÊ QUANG NGHIÊM, Những chuyện kể dân gian Khánh Hòa, Hội Văn học Nghệ Thuật Khánh Hòa xuất bản, 2004. (Cụ Lê Quang Nghiêm sinh năm 1925 tại Đồng Tháp, trú tại Nha Trang, mất năm 2005. Hội viên Hội VHNT Khánh Hòa, Hội viên Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam. Trước 1975, Cụ có tác phẩm biên khảo đầy giá trị : Tục thờ cúng cuả ngư phủ lưới đăng Khánh Hòa (1969). Và tác phẩm những chuyện kể dân gian tại Khánh Hòa  xuất bản trước 1 năm Cụ mất, 2004. Tuy già yếu, nhưng Cụ viết rất nhiều và năm Cụ mất là năm Cụ vừa hoàn thành tập biên khảo do Hội Văn Nghệ Dân gian Việt Nam tài trợ kinh phí ).


NGÔ VĂN BAN 
https://camranhhomestay.wordpress.com/2012/09/19/cop-khanh-hoa/





***

facebook
youtube



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/01/2013(Xem: 4688)
Cảm nhận nguồn sông trăng, Cảm ơn tác giả: Nữ sĩ Tuệ Nga đã gởi tặng tập thơ “Từ Giòng Sông Trăng” do Cội Nguồn xuất bản vào giữa năm 2005, sách dày 400 trang giấy thắm, chuyên chở ý thơ như giòng suối tràn tuôn từ dòng tư tưởng ảnh hiện bóng trăng, soi qua cuộc đời trong sáng, với những giòng sông mênh mông tràn về biển cả. “Từ giòng Sông Trăng” chẳng những một đề tài đơn độc của tập thơ nầy để diễn tả sự mầu nhiệm của trăng mà chúng ta không thể dùng lời nói hết. Riêng Nữ sĩ Tuệ Nga có cái biệt tài đưa trăng vào thơ một cách tự nhiên không hề gượng ép. Mỗi chữ trăng là mỗi vần thơ. Mỗi dòng hạ bút là thơ trăng huyền.
21/01/2013(Xem: 20856)
Một lòng yêu nước với yêu quê Sang lánh trời Tây vẫn nhớ về Non nước đớn đau lòng tu sĩ Đêm về gợi nhớ bóng hương quê Nghìn năm văn hiến giờ đâu thấy Nghĩa lý luân thường mất đã lâu Khổ đau oằn quại triền miên kiếp
20/01/2013(Xem: 4776)
Cuộc đời bầm dập nổi trôi của một em học trò cũ đã thôi thúc tôi viết nên truyện này. Người ta thường bảo „sông có khúc, người có lúc“ nhưng phải nhìn nhận cả cuộc đời của em đã phản ảnh lại nhận xét trên. Bao đau thương đã dồn dập lên đôi vai yếu ớt của em, nhiều lúc tưởng chừng như không còn gượng đứng dậy được nữa, nhưng em vẫn phải sống, vẫn phải đương đầu với mọi khổ đau tràn ngập vây quanh.
15/01/2013(Xem: 10684)
Chiến tranh và hòa bình (tiếng Nga: Война и мир) là nhan đề một tiểu thuyết của Lev Nikolayevich Tolstoy, xuất bản rải rác trong giai đoạn 1865 - 1869.
30/12/2012(Xem: 5461)
Bước lên chiếc Lambretta hàng, tôi tự nhiên thấy Trâm ngồi thu hình ở một góc xe. Tôi quen Trâm một tháng trước. Nàng là y tá viên điều dưỡng vừa ra trường chưa được một năm. Đang làm việc ở Đà Nẵng thì có giấy đổi vào Nha Trang. Hôm mới vào nàng tìm đến địa chỉ tôi do lời dặn của anh Hiệp, anh rể nàng. Hiệp là bạn học của tôi hồi ở trường Khải Định. Có một cô em làm việc bị đổi đi tỉnh xa Hiệp viết thư giới thiệu cho tôi, gián tiếp thay anh để tuỳ cơ giúp đỡ cô em nhút nhát. Sau khi đọc thư của Hiệp, tôi hỏi:
17/12/2012(Xem: 6430)
Cách đây mấy năm, trên một chuyến xe đò muộn về thăm quê. Khi xe đi ngang qua cầu Ngân Sơn, thì lúc ấy đã 5 hay 6 giờ chiều. Dù đã nhiều lần đi qua đây, nhưng có lẽ buổi chiều cuối xuân năm ấy, là buổi chiều mà tôi đã nghĩ nhiều nhất về Võ Hồng. Tôi tưởng tượng rằng, hồi còn nhỏ chắc mỗi chiều ông vẫn thường ra đứng ở nơi này, để nhìn ráng đỏ nơi rặng núi phía Tây kia ? Rồi nhìn bóng chiều xuống chậm trên dòng sông này? Chắc phải vậy! Vì trong tác phẩm của Võ Hồng thì cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của đất trời, tôi cho là những cái đẹp mà Võ Hồng đã viết hay nhất. Nhưng trong cái đẹp đó, Võ Hồng luôn luôn đưa vào thiên nhiên một chút sầu, hay ngậm ngùi cho một cái gì đó đã hay đang sắp mất đi trên cuộc đời này. Tại ông bi quan chăng? Hay tại vì cái đẹp mong manh của những buổi chiều tà trên dòng sông tuổi thơ dạo nào cứ ám ảnh ông mãi.
10/12/2012(Xem: 4405)
Đúng là những ngày tháng không quên thật! Sau 30.4.75, tôi bị ở lại Việt Nam là một điều quá ngu xuẩn rồi. Tự mình làm hại mình và hại cả tương lai con cái nữa. Niềm đau này thật không làm sao phôi pha được với thời gian, vết thương trong lòng tôi cứ chua xót ngậm ngùi!
05/12/2012(Xem: 4777)
Khách là một đại hán vạm vỡ, vận chiếc trường bào màu xám tro, nước da đen sạm; ngựa là một loại thiên lý câu sắc hung sẫm, bờm cao, bụng thon, lưng dài. Cả hai hình như đã vượt qua hằng ngàn dặm đường nên khi đến địa phận Trấn ma lâm, vó gõ trên mặt dốc sỏi không còn ngon trớn nữa mà chậm dần, chậm lại dần... Đến góc núi, bỏ đường lớn, người và ngựa thong thả nước kiệu qua ngọn đồi tràm và thông mọc lưa thưa chen lẫn đá hoa cương và đá tổ ong.
28/11/2012(Xem: 7458)
Trong tác phẩm Những tư tưởng gia vĩ đại của Phương Đông (Great thinkers of the Eastern world) tác giả IAN P. Mc GREAL đã nhận định rằng: “Toàn bộ thơ Tagore là những lời tình và ông đã tự nhận là người tình của nhân loại.”[1]
10/11/2012(Xem: 6384)
Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in, hồi nhỏ sống trong căn nhà tranh nơi một làng quê nghèo khổ ở miền Trung. Vào những buổi xế chiều cuối tháng 6 hoặc đầu tháng 7 âm lịch, mẹ tôi hay vắng nhà, bà đi ra đồng nhổ cỏ ruộng hoặc hái rau. Còn lại một mình ở nhà, không biết làm gì, tôi thường leo lên nằm trên chiếc võng treo ngay nơi cửa chính ra vào. Tôi nằm yên nhìn những đám mây đen đang tụ lại nơi những rặng núi xa ở phía Tây, những đám mây đó như báo hiệu những ngày đông giá rét lê thê đang sắp đến nơi làng quê nghèo khổ này. Thỉnh thoảng tôi còn nghe những tiếng sấm từ chân trời xa vọng lại.