Cọp Khánh Hòa

04/01/202206:40(Xem: 11067)
Cọp Khánh Hòa

“CỌP KHÁNH HÒA”

NGÔ VĂN BAN

            Trên đất nước ta, rừng núi nào cũng có cọp, nhưng không phải vô cớ mà đâu đâu cũng truyền tụng CỌP KHÁNH HÒA, MA BÌNH THUẬN. Tỉnh Bình Thuận có nhiều ma hay không thì không rõ, nhưng tại tỉnh Khánh Hòa, xưa kia cọp rất nhiều. Điều đó, người xưa, nay đều có ghi chép lại.

            Trong sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1) của Thượng Thư Bộ Binh Lê Quang Định soạn xong vào năm 1806 và dâng lên vua Gia Long (1802-1820), tổng cộng 10 quyển chép tay, trong đó quyển II, III và IV có tên là Phần Dịch Lộ, chép phần đường trạm, đường chính từ Kinh đô Huế đến các dinh trấn, gồm cả đường bộ lẫn đường thủy. Đoạn đường ghi chép về ĐƯỜNG TRẠM DINH BÌNH HÒA (2) phải qua 11 trạm dịch với đoạn đường bộ đo được 71.506 tầm (gần 132 km)        

Tác giả ghi chép đầy đủ, chi tiết những gì có, những gì thấy trên đường đi, từ trạm này đến trạm khác. Trong đó, có những đoạn đường đầy những cọp, beo, voi, tê giác. Với những đoạn đường đó, tác giả lưu ý khách bộ hành nên đi ban ngày và tụ họp nhau lại cho đông rồi đi.

Từ trạm Hòa Mã đến trạm Hòa Lãng (khu vực huyện Vạn Ninh), đến Giồng Cốt Lũng, hai bên toàn cây cối, có nhiều cọp dữ và trâu rừng, người đi đường phải hết sức thận trọng. Đường đi từ trạm Hòa Lãng đến trạm Hòa Huỳnh (khu vực huyện Vận Ninh), đến Lũng Cát Lâm, đến Lỗ Sấu, ngày xưa có nhiều cá sấu, nhưng nay đã hết, chỉ sợ nhiều cọp. Từ trạm Hòa Mỹ (huyện Ninh Hòa) đến trạm Hòa Cát (TP Nha Trang), đến điếm cũ Hòa Bông, đi đến xứ Quán Cát, đường này có nhiều cọp beo. Phía Tây điếm này có hai nhánh đường : Một nhánh đi đến tổng Đồng Nô phủ Diên Khánh có nhiều cọp beo và voi rừng nhưng chẳng ai dám đi, nay đã trở nên tắc nghẽn hoang phế. Tiếp tục đi đến đèo Lũy Đá, đèo dài 200 tầm, núi này đất đá gồ ghề, cây cối hai bên rất rậm rạp và có rất nhiều cọp beo. Đường đi đến điếm Quán Dổi, ruộng cát và rừng tạp xen nhau, có nhiều cọp. Đường đi từ trạm Hòa Cát đến trạm Hòa Thạnh (huyện Diên Khánh), đến quán cũ Cây Sung, ở đây thường có thú dữ nên dẹp quán. Từ Quán Dù đến Dốc Cây Me rồi đến dốc Quán Đính, xứ Quán Trà đến đầu địa giới phủ Diên Khánh, đường sỏi đá gập ghềnh, hai bên là rừng cỏ tranh, có rất nhiều cọp dữ hay quấy nhiễu. Đền đèo Tổng Nô rồi đến Lũng Tre, hai bên đường là rừng núi, nhiều cọp beo. Đường đến miếu Quá Quan cũng vậy, rừng ven chân núi, có nhiều cọp beo. Đi tiếp đến Cầu Ngói, xã Phú Lộc, phía tây bắc gần rừng núi, có nhiều cọp beo. Từ trạm Hòa Thạnh đến trạm Hòa Tân (huyện Cam Lâm), đến núi Hòn Diễn, có miếu Bà Chúa Ngọc (Bà Thiên Y A Na) mới lập. Ngày xưa ở đây không có miếu, năm Đinh Tỵ (1797) vì đường này có nhiều cọp beo nên khách buôn bán không dám qua lại, quan trấn giữ Thành Diên Khánh là Khâm sai Chưởng tiền quân Bình Tây đại tướng quân Quận công (tức Nguyễn Văn Thành, tướng của Nguyễn Ánh) mật cầu Chúa Ngọc phu nhân hãy vì sinh nhân mà trừ nạn cọp beo rồi sẽ lập miếu thờ. Quả nhiên vài hôm sau liền bắt được thú dữ, khách qua lại đông đúc như trước, nên mới lập miếu thờ bà Chúa Ngọc ở đây, lệ cử một người làm từ, tục gọi là miếu Hòn Diễn. Đường đi từ trạm Hòa Tân gần đến trạm Hòa Du (huyện Cam Lâm), hai bên đường rừng ven chân núi, có nhiều tê giác, voi và cọp beo, dân cư rất thưa thớt. Từ trạm Hòa Du đến trạm Hòa Câu, đến đường rừng Suối Dứa, đường đi ven theo chân núi, có nhiều tê giác, voi và cọp beo. Đường đi đến sông Du Quân, gần trạm Hòa Câu, hai bên là núi rừng có nhiều tê giác, voi và cọp beo. Từ trạm Hòa Câu đến gần trạm Hòa Thuận (thị xã Cam Ranh), giáp biên giới phủ Bình Thuận (nay là ranh giới Khánh Hòa – Ninh Thuận), đường này nằm ven chân núi, có nhiều tê giác, voi và cọp beo.

            Qua những ghi chép của Lê Quang Định, ta thấy người xưa đi lại trong tỉnh thật là lắm gian nan, nguy hiểm khi đoạn đường có nhiều tê giác, voi và cọp beo như thế.

            Đại Nam Nhất Thống Chí – Tỉnh Khánh Hòa của Quốc Sử Quán triều Nguyễn (3) cũng đã ghi rõ 3 địa điểm có nhiều cọp, đó là :

1. NÚI PHÚ NHƯ : “tục gọi là núi Ổ Gà ở cách huyện (huyện Tân Định, tức là huyện NINH HÒA ngày nay) 64 dặm về phía Bắc, cây cối um tùm, có nhiều cọp, người đi đường phải đề phòng, tục gọi “cọp Ổ Gà”, tức là núi này. Nay càng ngày càng được khai khẩn rộng rãi, dần dần trừ được nạn cọp “.

Tại núi Phú Như này có đèo Bánh Ít, còn gọi là đèo Hà Thanh, cách thị trấn Ninh Hòa 3 km về phía Bắc, quốc lộ 1A chạy ngang qua. Nguyễn Đình Tư trong Non nước Khánh Hòa đã cho ta biết “ nơi này cây cối rậm rạp, cọp beo lui tới rất nhiều và gây tai họa cho khách đi đường. Dân chúng phải làm miếu để thờ, thường gọi là miếu Ông Cọp “ (4). Miếu Ông Cọp (dân địa phương kiêng gọi cọp, gọi là hổ nên gọi là Miếu Ông Hổ) ở đèo Bánh Ít này gắn liền với một sự tích về gương nghĩa khí, lòng dũng cảm của một người phụ nữ ở địa phương. Đó là Bà Huỳnh Thị Nghĩa. ĐNNTC-KH chép, Bà là : “người huyện Quảng Phước, 47 tuổi, đi cùng chồng vào núi hái củi, người chồng bị cọp vồ, bà lấy dao củi chém cọp cứu chồng, người ta khen người có nghĩa. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) được ban thưởng “. Sau khi quần nhau với cọp dữ, Bà kiệt sức và tắt hơi. Dân làng đi tìm và mang thi thể Bà về chôn cất và lập miếu thờ ở lưng chừng đèo Bánh Ít. Bà là người thôn Vạn Thiện, xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa ngày nay. Ngôi Miếu thờ Bà được dân làng gọi là Miếu Bà, nhưng cũng có người gọi là Miếu Ông Hổ. Ngôi Miếu trải qua thời gian, không được trùng tu nên dần dần đổ nát, hư sập, hoang tàn. Đến năm 2002, dân làng Vạn Thiện cùng nhau đóng góp tiền di dời và xây dựng lại ngôi miếu trên một gò đất cao ngay cạnh đình làng và đặt tên là Miếu Hậu Thổ. Nguyễn Đình Tư còn kể “ cũng tại núi này, xưa kia có hai mẹ con vào núi hái củi. Chẳng may bị cọp vồ, cô con gái vì thương mẹ đem hết sức bình sinh cầm dao chém cọp lia lịa. Cọp phải thả mồi bỏ chạy …” (4).

 2. NÚI XÍCH THỐ : “ở phía Tây Bắc huyện Tân Định (huyện Ninh Hòa ngày nay) 24 dặm. Miền này đất đỏ, núi rừng trùng điệp, có nhiều loại : hổ, báo, tê giác, voi ..”.

 3. NÚI DIỄN SƠN : Nội dung giống như trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định như đã trích ở trên. Nguyễn Đình Tư còn kể thêm về con cọp, đó là “ con cọp đầu đàn, sống trên trăm năm. Nó chỉ có ba chân lành, còn một chân trước bị què, nhưng khỏe mạnh hung dữ vô cùng “ (4). Miếu thờ Bà Thiên Y ở gần Ga Cây Cầy (huyện Cam Lâm) bây giờ, xưa, hàng năm, quan đầu tỉnh phải tới đây để cúng tế.


Trong Non nước Khánh Hòa, Nguyễn Đình Tư còn cho ta biết tại núi HOA SƠN, huyện Vạn Ninh, dưới chân núi có truông, gọi là Truông Hụt, ở đây có nhiều cọp. “Sở dĩ có tên Truông Hụt vì xưa kia, nơi này có nhiều cọp. Khách bộ hành thường đi qua bị cọp vồ. Ai qua được trót lọt thì cũng ví như người ấy đã chết hụt vậy “ (4).

            Quách Tấn, trong một bài báo(5) cho biết tại Thành phố Nha Trang cũng có cọp, qua câu thơ của cụ Trần Khắc Thành : Phước Hải xuân về cọp thưởng hoa. (…).Vùng Phước Hải xưa kia là một rừng mai vàng, mỗi bận xuân về mai nở trùm cả trăm mẫu đất “. Sau này, rừng mai bị tàn phá. “ Khi rừng mai còn rậm, cọp ở núi Huỳnh Ngưu tức Đồng Bò, thường xuống tìm mồi “ đã được nhà thơ cho rằng cọp thưởng hoa.

Nói về Cọp Khánh Hòa trong thơ, ta còn thấy trong vài bài thơ khác của một số người đi qua tỉnh Khánh Hòa đã để lại trong thơ bóng dáng của con vật hung dữ này. Nguyễn Thông (1827-1884), người đã từng làm quan Án Sát Khánh Hòa. khi qua  tỉnh, giữa đường, ông làm bài thơ Khánh Hòa đạo trung (Giữa đường qua tỉnh Khánh Hòa, trong đó có câu Nhất lộ tùng hoàng kiêu hổ báo / Sổ gia yên hỏa tập ngư tiều (Tung hoàng hổ báo tre đầy nẻo / Xen kẽ ngư tiều khói mấy chơi). Trong một bài thơ khác, bài Thứ Hòa Mã dịch (Đóng quân ở trạm Hòa Mã, ở huyện Vạn Ninh), có câu : Hổ tích kình ba thập bát trình / Thiên nhai độc dạ lữ hồn kinh (Sóng kình dấu cọp trải qua / Hành trình mười tám dặm xa cách vời). Một nhà thơ khác, ông Nguyễn Tư Giản (1823-1890), đỗ tiến sĩ, làm quan ở Nội Các triều Nguyễn, trong bài thơ Tống Tỷ Bộ Nguyễn Hy Phần dự cáo quy Khánh Hòa (Thơ tiễn ông Hy Phần (tên chữ của Nguyễn Thông) ở Bộ Hình cáo quan về Khánh Hòa), có câu Đại Lãnh văn viên cô nguyệt hạ / Nha Trang xạ hổ loạn vân gian (Đi qua núi Đại Lãnh nghe vượn kêu dưới ánh trăng lạnh / Ở đất Nha Trang bắn cọp trong đám mây lồng) … Như thế, cọp Khánh Hòa nhiều đến độ đã đi vào thơ văn.

Người đời trước kể chuyện cọp, người đời sau cũng có chuyện cọp để kể. Chuyện Cọp Khánh Hòa cũng đã được Lê Quang Nghiêm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã đi đây đi đó trong tỉnh, thu nhặt, ghi chép thành chuyện và ông đã kể lại trong sách Những chuyện kể dân gian Khánh Hòa (6). Chuyện kể có 3 phần : Phần I kể chuyện cọp ở vài nơi trong tỉnh. Phần II nói về địa thế mội trường trong tỉnh thích hợp cho cọp sinh sống. Phần III nói riêng về cọp ở Hòn Dữ ở huyện Diên Khánh và cọp Ổ Gà ở huyện Ninh Hòa.

Ở phần I kể chuyện cọp, có những chuyện:

- Chuyện Ông Thầy thuốc và gia đình nhà cọp tại Truông Láng Chu Láng Nhớt, quãng giữa Dốc Thị và Dốc Đá Trắng ở huyện Vạn Ninh. Chuyện ông thầy thuốc người Nghệ An bị bốn con cọp chận đường, thầy cầm cây dù vừa giương lên sập xuống chỉa về phía gia đình nhà cọp làm chúng hoảng hồn chạy nhanh vào rừng, vừa chạy vừa té phân đầy đường.

                        - Chuyện Dậy Bộ Hổ là chuyện đông người vào rừng đánh mõ, thùng thiếc, la ó đuổi cọp tránh xa để tìm xác người bị cọp bắt tha đi. Chuyện xảy ra tại thôn Đại Điền, xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh.

                        - Chuyện Bà lão ở đèo Bánh Ít (tại Núi Phú Như, huyện Ninh Hòa nắm đuôi con gấm trước cửa nhà, la lớn cho dân làng đuổi đánh và giết được.

- Chuyện Một người dùng bay tóm được nhiều gấm, cọp Ổ Gà vào thập niên 40, đó là ông giáo Nhân ở Phước Đa, huyện Ninh Hòa.

Ở Phần II, tác giả cho ta biết cọp có nhiều nơi trong tỉnh, ở rừng núi đèo Cả, Tu Bông, Vạn Giã (thuộc huyện Vạn Ninh), vùng rừng núi huyện Ninh Hòa. Dân Vạn Ninh, Ninh Hòa đi địu (tìm trầm kỳ) một số người bị cọp bắt. Ở bãi đất hoang gần núi Một Vạn Ninh, có sân trâu, nhiều chuồng nhốt trâu khá kiên cố để ngăn cọp bắt trâu. Nhưng cũng có những con cọp tinh ranh, lợi dụng sự mục nát của dây cột cửa, bứt ra, vào bắt trâu cõng đi. Ở tại sở lưới đăng Vĩnh Y Hồ Na  (huyện Vạn Ninh) có lập miếu thờ Ông Hổ. Ở xóm biển Hòn Khói (huyện Ninh Hòa) cọp thù người thường đụng sập nhà tranh vách đất của dân, nên dân gọi là Ông Đụng. Tại xã Ninh Thủy, huyện Ninh Hòa có lần cọp kịch chiến với trâu của ông Xã Đẹt. Cũng tại đèo Bánh Ít, ông Ba Chia, năm 12 tuổi đi chăn trâu, chứng kiền trâu húc cọp mà sợ đến ị ra đầy quần. Trên đoạn đường từ Ninh Hòa vào Nha Trang xưa kia còn đất rừng, cọp thường đón đường bắt người. Đoạn đường từ đèo Rù Rì đi lên Diên Khánh qua xã Vĩnh Phương, TP Nha Trang cũng có cọp rình mò. Từ núi Hòn Khô, cọp cũng thường xuống vùng Đồng Đế. Tác giả cũng cho biết tại phía đông Chợ Đầm (khi chưa có chợ mà còn đầm) có một lạch nhỏ từ đầm chảy vô, hai bên cây cối um tùm, thường có cọp ở xóm Xưởng (phường Phương Sơn) ban đêm mò xuống đón đường các bà rỗi từ Xóm Cồn gánh cá qua lạch đến bán cá tại Sinh Trung, Phường Củi … Cọp Xóm Xưởng cũng là mối đe dọa cư dân Chợ Mới, Cầu Dứa, Phường Củi, Lư Cấm …  Tại Hòn Tre Nha Trang, có cọp còn có loài khỉ dữ tợn nữa. Cọp ở dãy Đồng Bò Thượng hoạt động trên địa bàn khá rộng từ Võ Dõng (TP Nha Trang) lên Võ Kiện, khu Suối Đổ, vào Cầu Lùng, Cống Ba, Suối Hiệp, Suối Dầu …  Trên địa phận huyện Diên Khánh, khu vực Tứ thôn Đại Điền, Am Chúa, Suối Ồ Ồ, Hòn Ngang có rất nhiều cọp thường bắt người và trâu bò. Vùng Phú Cốc (xã Diên Lâm) có con cọp ba chân rất hung dữ. Nó xuất hiện nhiều nơi, vào tận huyện Cam Lâm bây giờ, ăn thịt nhiều người. Rồi vào Cam Ranh, nhiều vùng còn rất hoang vu, đầy cọp và thú dữ. Ở Ba Ngòi, thị xã Cam Ranh có chuyện cọp ăn “đặc sản biển”, do dân sợ cọp chuyển qua đảo Bình Ba sinh sống, cọp không có thức ăn, ra bãi dùng tạm … cua ốc để sống, có khi nước thủy triều lên, cọp chạy không kịp bị chết ngộp.

Phần III nói về cọp ở Hòn Dữ, thuộc khu vực xã Diên Lâm, huyện Diên Khánh. Núi tên Dữ vì thú dữ nhiều nhất trong vùng rừng núi trong tỉnh. Còn tại Ổ Gà, dân các làng xung quanh đi vào rừng núi tìm gỗ thường bị cọp vồ. Xin trích ra đây phần Cọp Ổ Gà vùng Ninh Hòa cho bạn xem ninhhoatoday.net thưởng thức, để nhớ về một quê hương nhiều …. cọp :

“ CỌP Ổ GÀ

Một vùng có nhiều cọp hơn các nơi khác trong tỉnh Khánh Hòa là cụm núi Ổ Gà thuộc ba làng Hà Thanh – Ninh Đông – Ninh Ích. Nghe ba tiếng Cọp Ổ Gà đã lạnh xương sống vì từ xa xưa đến thập niên 90 cọp đã gây khá nhiều tai họa tang tóc cho nhân dân.

Cụm núi Ổ Gà gồm hai dãy núi thấp trải dài hai bên một thung lũng rộng, phía đông nam đèo Bánh Ít. Một eo hẹp trong dãy núi – như eo cổ chai – nơi đây dây mấu như rừng nên còn gọi là Eo Lỗ Mấu. Trong thung lũng cây rậm bịt bùng, ngày xưa dân đi núi thường bị lạc không biết đường về, người địa phương vào tìm, lần mò trong rừng tối om như trong buồng kín nên đặt tên Thung lũng Buồng Tầm.

Dù biết núi Ổ Gà trăm phần nguy hiểm, người ta vẫn lao vào, đem mạng sống đổi bát cơm vì tài nguyên thiên nhiên tại đây có nhiều gỗ quý, gỗ tạp, gỗ to làm cột đình, cây làm nhà, tre gai, dây mấu ngư dân dùng đan lưới, khoai mài (vị thuốc đông y có tên Hoài Sơn), mật ong rất nhiều….. Dân ba làng Hà Thanh, Ninh Đông, Ninh Ích và người tha phương vào kiếm ăn tại núi Ổ Gà từng nhóm đông mà vẫn không tránh khỏi tai họa, chết vì cọp beo quá nhiều. Một phần bị mất tích, một phần được dân làng Hà Thanh tìm được xác mang về, trong số này có những người lạ không rõ lai lịch, đem chôn tại nghĩa địa phía Bắc đèo Bánh Ít. Sau khi có chuyện cọp bắt một lần ba người tại Buồng Tầm thì thung lũng có tên mới : Buồng Tầm Ba Mạng.

Dân ba làng quanh cụm núi Ổ Gà điêu đứng vì cọp beo. Riêng làng Hà Thanh bị tai họa nhiều hơn vì có thêm đám cọp Hòn Hèo mò xuống phá phách  các xóm Tiên Du, đèo Bánh Ít.

Tảo mộ thí và nghĩa cử của một nhà giàu

Tại nghĩa địa phía bắc đèo Bánh Ít mỗi năm có một số mộ vô chủ – của người phương xa đến kiếm ăn tại cụm núi Ổ Gà chết vì cọp, không rõ lai lịch. Thương xót những kẻ bạc phước chết nơi xa lạ mà vợ con khơng biết để thờ cúng và chăm sóc mồ mả, nên vào tiết Thanh Minh hàng năm làng Hà Thanh tổ chức lễ cúng cơm đơn giản tại nghĩa địa cho vong linh những người chết vô thừa nhận. Họ là những người tình nguyện đến làm cỗ, đắp đất tu bổ những mộ vô chủ sau khi làm xong việc tảo mộ thân nhân. Và một nhà giàu trong làng tự nguyện cất một chùa ngoài đèo Bánh Ít, đặt tên Thanh Minh Tự và cúng một sào ruộng cho chùa làm huê lợi, để làng cử một thầy tu trụ trì trông nom hương khói, cúng kiến cầu siêu cho vong linh của tất cả những người tử nạn vì cọp beo chôn tại nghĩa địa trên.

Chùa Thanh Minh Tự bị phá hủy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và làng Hà Thanh bỏ lệ tảo mộ thí từ đó.

Sau Phần III, tác giả cho ta biết bản chất của cọp, nhảy cao chụp xuống nên rất sợ cây nhọn dựng đứng. Cọp chưa ăn thịt người thì sợ người, nhưng đã ăn rồi thì trở nên hung dữ. Chuyện săn bắn cọp của người Pháp, người Việt vào những năm 30-40 cũng được tác giả kể lại. Cuối cùng, tác giả kết luận : “Tiếng cọp Khánh Hòa vang dội từ xa xưa đến giữa thập niên 90 này chỉ còn là dư âm một thời tung hoành ngang dọc của cọp và thú dữ tỉnh Khánh Hòa”.

Chuyện Cọp Khánh Hòa là như thế !

-----------

(1) LÊ QUANG ĐỊNH, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Phan Đăng dịch, chú giải và giới thiệu, NXB Thuận Hóa, Huế, 2005.

(2) Dinh Bình Hòa đổi từ Dinh Bình Khang từ năm 1803, Gia Long thứ 2, có cương giới phía Bắc giáp đèo Cả, phía Nam giáp Bình Thuận. Năm 1808, đổi lại là TRẤN BÌNH HÒA và năm 1832, Minh Mạng thứ 13, là TỈNH KHÁNH HÒA, gồm có 2 phủ, 4 huyện.

(3) Đại Nam nhất thống chí – Tỉnh Khánh Hòa hiện nay có 2 bản dịch căn cứ vào bản in đời Tự Đức (1848-1883) và bản in đời Duy Tân (1907-1916). Hai bản có những khác nhau về một số địa danh, số liệu. Bản dịch bản in đời Tự Đức do Phạm Trọng Điềm dịch và Đào Duy Anh hiệu đính, do nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế tái bản năm 1992, tỉnh Khánh Hòa nằm ở Tập 3. Bản dịch bản in đời Duy Tân do Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn Hóa – Bộ Văn hóa Giáo dục Sài Gòn xuất bản năm 1964, tỉnh Khánh Hòa nằm trong Quyển 10-11. Ở đây, người viết dùng bản dịch của 2 bản in để bổ sung cho nhau.

(4) NGUYỄN ĐÌNH TƯ, Non nước Khánh Hòa, NXB Sông Lam, Sài Gòn,1969

(5) Tạp chí Trầm Hương, Sở Văn Hóa – Thông Tin Khánh Hòa, số tháng 7/1989.

(6) LÊ QUANG NGHIÊM, Những chuyện kể dân gian Khánh Hòa, Hội Văn học Nghệ Thuật Khánh Hòa xuất bản, 2004. (Cụ Lê Quang Nghiêm sinh năm 1925 tại Đồng Tháp, trú tại Nha Trang, mất năm 2005. Hội viên Hội VHNT Khánh Hòa, Hội viên Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam. Trước 1975, Cụ có tác phẩm biên khảo đầy giá trị : Tục thờ cúng cuả ngư phủ lưới đăng Khánh Hòa (1969). Và tác phẩm những chuyện kể dân gian tại Khánh Hòa  xuất bản trước 1 năm Cụ mất, 2004. Tuy già yếu, nhưng Cụ viết rất nhiều và năm Cụ mất là năm Cụ vừa hoàn thành tập biên khảo do Hội Văn Nghệ Dân gian Việt Nam tài trợ kinh phí ).


NGÔ VĂN BAN 
https://camranhhomestay.wordpress.com/2012/09/19/cop-khanh-hoa/





***

facebook
youtube



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/12/2021(Xem: 4259)
Bắt đầu một năm mới tinh khôi, nghĩa là phải có một tháng, một tuần, một ngày, một giờ, một phút, một giây hoàn toàn mới, từ tương lai bước vào hiện tại. Nhưng một cái gì hoàn toàn mới, xuất hiện một cách mơ hồ trên lịch, chỉ là một ý niệm, một quan điểm. Do người ta đặt để, đo lường, tạo một qui ước về thời gian — căn bản dựa trên sự chuyển dịch của địa cầu qua hai vầng nhật nguyệt (1) — để ổn định sinh hoạt xã hội, mà từ hàng ngàn năm trước đến nay, ngày-tháng-năm được xuất hiện trên những tấm lịch, những cái đồng hồ (mặt trời, cát, nước, đeo tay, treo tường), máy vi tính và điện thoại.
25/12/2021(Xem: 16391)
Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương - 86 tuổi, tác giả tập "Còn gặp nhau" - qua đời lúc 4h sáng 24/12 tại nhà riêng. Ông Trần Bá Thùy - chồng nhà thơ - cho biết bà qua đời vì nhiều bệnh nền như suy thận, viêm gan siêu viên B, xuất huyết dạ dày. Cách đây vài tháng, bà nhập viện điều trị nhưng sức khỏe yếu, gia đình đưa về nhà chăm sóc hồi tháng 10. Do không ăn uống được, truyền đạm không vào nên thể trạng bà ngày càng suy giảm. Những ngày cuối đời Tôn Nữ Hỷ Khương thương nhớ người con đã qua đời cách đây hai năm. Trên giường bệnh, bà thường nhắc về con. Hay tin Hỷ Khương lâm bệnh nặng, nhiều tuần qua, các đồng nghiệp, bạn bè ghé nhà, khiến bà xúc động. Gia đình mong muốn lưu giữ dấu ấn thơ ca của Hỷ Khương, để con cháu sau này nhớ đến. Ông Bá Thùy cho biết năm nay có in một cuốn lịch, bìa là ảnh của Hỷ Khương, nội dung gồm những câu thơ được yêu thích của bà như: "Còn gặp nhau thì hãy cứ vui/Chuyện đời như nước chảy hoa trôi/Lợi danh như bóng chim chìm nổi/Chỉ có tình thương để lại đời...
22/12/2021(Xem: 15409)
Trong các khóa tu dù ngắn hay dài hạn, chúng ta cần nên giữ sự yên lặng. Chúng ta cần phải thực tập cho kỳ được sự im lặng. Bởi "Im lặng" là một phương pháp tạo cho ta có thêm nguồn nội lực phong phú hùng tráng. Đó là một sức mạnh trọng đại của tâm linh. Im lặng không có nghĩa là chúng ta không được quyền nói. Ta được phép nói, nhưng chỉ nói trong giới hạn khi cần thiết. Và chỉ nói trong phạm vi ái ngữ, yêu thương và hòa kính. Không nên nói những lời có ác ý công kích chỉ trích phê bình, gây bất hòa tổn hại cho nhau. Nói trong sự ôn hòa nhỏ nhẹ từ ái.
22/12/2021(Xem: 12350)
Từ xưa, thi ca là nguồn cảm hứng của bao văn nhân thi sĩ. Xúc cảnh sanh thơ, phơi bày những tâm sự, gởi gắm tất cả những tâm tình rạt rào chứa đựng những bi thiết, những hoạt cảnh của những xã hội đương thời mà tác giả hiện sống. Những cảm tác ấy, dệt thành đủ màu sắc hương vị. Nó xuất phát từ những tâm hồn cao thượng tự chứng, hay những tâm hồn bình thường mang nặng mặc cảm tự tôn, tự ty, hoặc bất mãn theo từng nếp nghĩ. Tất cả, đều tùy theo quan điểm của mỗi thi nhân. Song cho dù diễn tả dưới bất cứ dạng thức nào chăng nữa, tựu trung, cũng nhằm nói lên chiều hướng xây dựng xã hội, làm đẹp con người và cuộc đời. Mọi sắc thái hiện tượng của vũ trụ như: mây, nước, trăng, sao, núi non, chim kêu, suối chảy v.v…đều là những gợi cảnh nồng nàn mà thi nhân đã gởi lòng hòa điệu.
27/11/2021(Xem: 4077)
Những rộn ràng họp hội mấy giờ trước đã lắng xuống. Tiếng nói, giọng cười ai đó, đã tan vào hư không. Người thân, người sơ, từng gặp, chưa từng gặp, nhìn nhau chào mừng, nói đôi câu, rồi cuối cùng cũng vẫy tay tạm biệt, chia xa. Không còn ai. Trăng khuya soi rạng vườn sau. Những cánh hồng từ các bồn hoa vươn dậy như được tắm gội dưới ánh sáng dìu dịu, tịnh yên. Một mình ngắm hoa dưới trăng. Một mình ngắm trăng trên hoa. Bất chợt, trong một thoáng nhìn mờ ảo, ánh trăng như vỡ thành những bụi tuyết, lãng đãng rơi trên những cánh hoa dưới sương đêm lóng lánh[1].
25/11/2021(Xem: 14767)
1-Linh giác thường minh, xua tan màn hôn ám, dìu chúng sanh lên thuyền Bát Nhã -Bửu quang phổ diệu, chiếu khắp chốn trầm luân, dắt muôn loại hướng cõi Niết Bàn 2--Huyền Huệ ngời soi quét sạch mê lầm, thẳng qua bến giác -Quang Tâm tỏa chiếu xua tan tục luỵ, hoà nhập nguồn chơn 3--Thanh đức minh minh phổ chiếu khổ luân hồi giác ngạn -Tâm nhiên hạo hạo đồng quy chơn cảnh xuất mê đồ
15/11/2021(Xem: 6734)
Là người thâm tín Phật, cung kính phụng thờ Tam Bảo, thì luôn có một đức tin kiên cố rằng: Dù ở bất cứ thời gian nào, không gian nào vẫn luôn có chân thân các bậc thượng nhân hóa thân hành hoạt cứu nhân độ thế. Các Ngài luôn có mặt giữa cuộc đời để nâng đỡ chúng sanh vạn loại. Vững chải đức tin như thế nên mỗi khi về chùa Phi Lai (hoặc Phi Lai Hòa Thịnh hoặc Phi Lai Biên Hòa, tôi luôn thấy hình bóng chân nhân trưởng lão Tâm Nguyện – Thiện Tu -Thượng DIỆU Hạ TÂM hiện hữu mồn một ở đó. Tôi thấy rất rõ từng bước chân như hoa sen nở Ngài bước đi, như lắng nghe từng tiếng từng lời ngài đang dạy bảo, khuyên lơn, khuyến khích Phật tử chúng ta nuôi dưỡng tâm bồ đề mỗi ngày mỗi lớn hơn lên, từng ngày từng kiên cố hơn. Từ đó tôi thấy : Ngài như chưa từng đến nên Ngài cũng đã chẳng ra đi. Ngài là hiện thân bậc thạc đức “Tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng . Bất cứ lúc nào Ngài cũng đang có mặt, hiện trú nơi cả hai ngôi chùa Phi Lai Hòa Thịnh Phú Yên và Phi Lai TP Biên Hòa…
08/11/2021(Xem: 21062)
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh. Ông là một dược sĩ & Cao Học Dược, Cao Học Triết Học Tây Phương -nguyên giảng sư về các bộ môn Triết Học, Tâm Lý Học tại Đại Học Văn Khoa, Vạn Hạnh và Minh Đức. Ông đã xuất bản khoảng 11 tập thơ trong đó có dịch thơ Ả Rập và Thơ Thiền cùng một số sách nghiên cứu lịch sử và triết học. Hiền Như Bụt dày 444 trang xuất bản năm 2020, bao gồm một chương Tổng Quát và sáu chương với những chủ đề: Phật Pháp Trị Liệu Pháp, Đạo Bụt và Khoa Học Vật Lý, Bóng Phật Trong Văn Học, Tư Tưởng Tam Giáo, Đạo Bụt Canh Tân và Chuỗi Ngọc Kinh Phật.
06/11/2021(Xem: 26758)
Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã (40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Đà (80 quyển) . Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Đại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Đức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.
06/11/2021(Xem: 13138)
Chép lời kinh mượn khuôn trăng làm giấy, Cõi diêm phù đất vẽ dấu chân xưa Đức ân Người sóng vỗ pháp âm đưa Quy thân mạng mười phương con đảnh lễ.