Câu Đối Thiền Môn

25/11/202109:47(Xem: 14763)
Câu Đối Thiền Môn


bo tat quan am


Câu Đối Thiền Môn



1-Linh giác thường minh, xua tan màn hôn ám, dìu chúng sanh lên thuyền Bát Nhã
-Bửu quang phổ diệu, chiếu khắp chốn trầm luân, dắt muôn loại hướng cõi Niết Bàn

2--Huyền Huệ ngời soi quét sạch mê lầm, thẳng qua bến giác
-Quang Tâm tỏa chiếu xua tan tục luỵ, hoà nhập nguồn chơn

3--Thanh đức minh minh phổ chiếu khổ luân hồi giác ngạn
-Tâm nhiên hạo hạo đồng quy chơn cảnh xuất mê đồ

4-An tâm tự tại, mở cửa từ bi, dẫn chúng sanh quay về chánh pháp
-Lạc đạo tuỳ duyên, hành hạnh hỷ xả, đưa nhân loại hướng đến liên đài

5--Vạn pháp dung thông, động tĩnh tuỳ duyên, tiêu vọng nghiệp
-Thiên tâm trạm tịch, khứ lai tự tại, ngộ chân thiền

6--Chân tâm rực chiếu, vạn kiếp tuỳ duyên hành Phật đạo
-Không tánh ngời soi, ngàn đời tự tại dạo nhân thiên

7-Bảo quang rực chiếu tiêu tai ách
-Ân đức cùng soi sạch khổ sầu

8-Nhân niệm Phật đăng lâm cửu phẩm
-Quả Tham thiền dự đắc vô sanh

9-Nhân niệm Phật lên miền Tịnh Độ
-Quả tham thiền dự cõi Chân Như

10-Chơn tâm trạm tịch vô khứ vô lai tuỳ duyên giáo hoá
-Thiện niệm minh minh bất sanh bất diệt tự tại tiêu dao

11-Chơn giáo thọ, diễn kinh luân, tiếp môn sinh quy vu Vạn Hạnh
-Thiện ân sư, truyền tuệ nghiệp, dẫn hậu bối đáo tại Tây Thiên

12-Trừng tâm dẹp não nêu câu đức
-Sỹ trí tầm chơn diễn đạo thiền

13-Đức từ nhuần thấm già lam, Phật Tử nhỏ lệ tiếc thương
-Trí tuệ rạng soi đất khách, Tăng Ni rơi châu tiễn biệt

14-Quán soi biển tánh không sanh không diệt lìa xa cấu nhiễm
-Âm dội nguồn tâm chẳng có chẳng không bặt dứt ưu phiền

15-Trung ngôn diễn đạo phá mê trực nhận nguồn chơn
-Duệ ngữ hoà âm khai ngộ tiêu dao bến giác

16-Nhật tuệ rạng ngời xua tan màn hôn ám
-Châu tâm tĩnh lặng lắng sạch nghiệp trần ai

17-Phật diễn ba thừa, độ người hữu duyên đồng quy Phật Pháp
-Ân triêm vạn loại, khai đất vô sanh tịnh hướng Niết Bàn

18-Vu Lan đến gợi niềm tin hiếu hạnh
-Báo Hiếu về khơi nét đạo từ bi

19-Bát Nhã rạng ngời dẫn mọi người vào nơi giải thoát
-Liên Đài thanh tịnh đưa muôn loại khỏi chốn trầm luân

20-Tâm thể vốn không đến, không đi , tuỳ duyên hành Phật sự
-Nguyện lực thường chẳng lùi, chẳng sụt, bất biến hộ Thiền môn

21-Quảng khai đại đạo, trụ Pháp Vương gia, để đền ơn Phật Tổ
-Chiếu kiến chân tâm, trì Như Lai tạng, nhằm đáp nghĩa Đàn Na.

22- Nhựt huệ rạng soi, xua tan niềm tục lụy, dựng già lam, di trì đạo pháp
-Anh linh thâm nhập, quét sạch bụi trần lao, xây đức nghiệp, tiếp nối gia phong.

23-Thanh giáo hoằng dương, mở rộng thuyền từ, vun bồi nền đạo nghiệp
-Tâm tông quảng phát, nêu cao hạnh nhẫn, gìn giữ đức thiền lâm

24-Vượt thoát bờ mê xa biển khổ
-Rong chơi bến giác dưỡng tâm nhàn

25-Đêm ngày thanh thản soi nguồn đức
-Năm tháng tiêu dao thắp suối ân

26-Trời trong nắng ấm hoa hương ngát
-Gió mát trăng thanh sông núi thiêng

27-Khai mở nguồn tâm xa kiếp trược
28-Vun bồi bến đức lánh dòng si

29-Niềm đau chợt thả trôi theo sóng
-Nỗi khổ thầm buông cuộn xuống sông

30-Rũ sạch tai ương ngời mắt sáng
Tiêu trừ ách chướng hiển tâm hoà

31-Túc trái oan gia nguyền chặt đứt
-Diệu cơ mật pháp quyết tìm cầu

32-Một sớm thiền tăng nêu ý hỏi
-Bao thu đạo nghiệp rõ phương tầm

33-An tâm tự tại vui niềm đạo
-Lạc đạo tuỳ duyên thỏa ý thiền

34-Xả bỏ phàm tình, quy nẻo giác
Tu theo thánh giáo, chuyển tâm mê

35-Vạn pháp vốn không, bởi do duyên mà có
-Chơn tâm hằng hữu, đâu vì học mới nên

36-Bỏ tục, bỏ mê, tuỳ duyên dễ ngộ
-Ràng danh, ràng tướng, vọng chấp khó thông

37-Niệm Phật, tu tâm, thời thời tránh xa niềm tục
-Trì kinh, dưỡng tánh, khắc khắc lìa khỏi bến mê

37-Tranh danh, đoạt lợi, tăng thêm khổ,
-Dưỡng tánh, tu tâm, giảm bớt sầu.

38-Mõ sớm, chuông khuya, ươm giống tuệ,
-Kinh vàng, kệ ngọc, kết duyên châu.

39-覺 花 心 建 伽 藍 宣 法 語 作禪 詩 度 迷 人 承 當 祖 業
-量 行 願 開 禪 慧 持 佛 號 傳 妙 道 教 化 群 生
-Giác hoa tâm, kiến già lam, tuyên pháp ngữ, tác thiền thi, độ mê nhân, thừa đương tổ nghiệp
-Lượng hạnh nguyện, khai thiền tuệ, diễn kinh luân, trì Phật hiệu, hành diệu đạo, giáo hoá quần sanh

40-Chuông chùa vọng tiếng vơi sầu níu
-Mõ cá vang âm giải não đeo

41-Cội đức vun trồng cây hạnh nở
-Đường mê nguyện dứt lối xuân lai


Tu Viện An Lạc, Ventura, Cali, USA (25/11/2021)

Trúc Nguyên-Thích Chúc Hiền (cảm đề)



facebook
youtube


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/01/2011(Xem: 4978)
Cách đây hơn một tuần, trong lúc chuẩn bị nấu nước pha trà buổi sáng, tự dưng lòng tôi nhớ quay quắt những chén trà năm xưa tôi đã từng chia sẻ với Thầy Tâm Phương trong những buổi sáng tĩnh lặng tại ngôi chùa nghèo Quảng Đức ở Broadmeadows. Tôi đã vội gọi Thầy Tâm Phương và hết sức may mắn Thầy vẫn còn nhớ tên tôi..dù rằng Thầy đã quên mất giọng nói quen thuộc của tôi rồi! Thầy rất mừng vì nghe được qua một số Phật tử biết cuộc sống của tôi lúc nầy an nhàn lắm. Tôi thưa với Thầy về cuộc đời hưu của tôi mấy năm gần đây cũng như nói với Thầy là tôi thèm vô cùng được cùng Thầy nhâm nhi lại những chén trà xưa!
14/01/2011(Xem: 4565)
Tôi trở về Huế với một tâm trạng nôn nao bồi hồi! Ba mươi năm sau mới nhìn lại Huế thân yêu, nơi đã cho tôi mật ngọt của ngày mới lớn. Phi trường Phú Bài vẫn vậy, vẫn u buồn ảm đạm dù đã trải qua bao tháng năm cũng chẳng rộng lớn gì hơn. Đã thế, tôi đặt chân xuống phi trường khi trời đã về chiều nên quang cảnh càng hiu hắt thê lương.
07/01/2011(Xem: 5337)
Chuyện Tiền thân Bahiya (Jàtaka 420) kể lại rằng : “Thuở xưa, khi vua Bramadatta trị vì ở Ba-la-nai, Bồ-tát là một vị đại thần của triều đình. Có một nữ nhân thôn quê thân thể béo mập, ăn mặc lôi thôi, làm công ăn lương, đang đi ngang qua gần sân của nhà vua, cảm thấy thân bị bức bách ngồi xuống lấy áo đắp che thân, giải toả sự bức bách của thân và nhanh nhẹn đứng dậy”.
06/01/2011(Xem: 8941)
Tôi và chị chưa hề một lần gây thù chuốc oán với nhau. Vậy mà không hiểu sao ngay từ ngày chạm mặt đầu tiên ở trụ sở Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh, bỗng dưng tôi thấy ghét chị thậm tệ. Và nhìn ánh mắt, vầng trán nhăn nhíu, điệu bộ của chị khi đứng gần tôi vào lúc cuộc họp chuẩn bị khai mạc, tôi cảm nhận, thấy biết được chắc chắn rằng chị cũng chẳng ưa gì tôi, có thể là ghét cay ghét đắng tôi, còn hơn cái mức mà tôi ghét chị. Sao kỳ vậy? Đố kỵ tài năng sao? Không phải.
05/01/2011(Xem: 4536)
Tôi sinh ra và trải qua những ngày tuổi thơ ở Huế. Như vậy cũng đủ để tôi tự hào đã chia sẻ cùng Huế với tất cả những thủy chung của lòng mình. Thế rồi, tôi cũng phải xa Huế đã 30 năm, quê hương đó vẫn rạng ngời trong tâm tưởng. Huế dấu yêu ơi! có bao nhiêu điều phải nhớ: thời thơ ấu ấm áp trôi đi, tuổi học trò thần tiên trong ngôi trường màu hồng ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm cùng với dấu chân của những chàng trai thích đón đưa mỗi khi tan trường. Tôi với Huế biết bao tình thương mến, mỗi con đường, mỗi dòng sông, núi đồi, lăng tẩm, thành quách, chùa chiền là của Huế, là của tôi... Mặc dầu phải tất tả trong dòng đời xuôi ngược và biết rằng Huế là xứ sở thật kỳ, ở thì có điều không ưa nhưng đi xa thì lại nhớ, trong tôi vẫn chan chứa nỗi niềm với Huế. Nói như ai đó: "nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ Huế", nỗi nhớ thấm vào máu thịt, sâu lắng vào tâm hồn của những kẻ tha hương lòng vẫn bùi ngùi mỗi khi nhớ đến và chỉ muốn quay về!
04/01/2011(Xem: 5871)
Bạt: Bài viết “Phật giáo, một sự thực tập” dưới đây là bài đầu tiên trong tập hợp năm bài viết đã được phổ biến trên nguyệt san Triết học (Filosofie), 2004-2005. Đây là những tiểu luận về Phật giáo nhìn từ phương Tây, được viết từ bối cảnh của một truyền thống Phật giáo rất mới, được gọi là Phật giáo Tây phương. Tác giả, tiến sĩ Edel Maex là một nhà tâm lý trị liệu làm việc ở bệnh viện Middelheim tại Antwerpen, Bỉ. Ông là một trong những người sáng lập và ở trong ban điều hành của Trường Triết học Tỉ giảo (School voor comparatieve filosofie) ở Antwerpen. Ông là một người thực tập Thiền.
20/12/2010(Xem: 12918)
Không sinh, không diệt. Không đến, không đi. Đó chính là ý nghĩa nền tảng về một tâm xuân miên viễn. Khi chúng ta nhìn sự vật có sinh có diệt, có đến có đi, lòng ta không khỏi sinh ra những luyến lưu tiếc nuối.
14/12/2010(Xem: 3894)
Đất Bắc Ninh xưa gọi là đạo Bắc Giang, rồi đổi ra trấn Kinh Bắc, một miền phong phú về mặt dân ca, cũng là một vùng nổi tiếng về phong quang cẩm tú, về điền địa phì nhiêu...
13/12/2010(Xem: 33117)
Văn hóa như hơi thở của sự sống. Chính vì vậy mà qua bao thăng trầm nghiệt ngã của lịch sử, Đạo Phật như một sức sống văn hóa ấy vẫn còn đó, như một sinh chất nuôi dưỡng nếp sống tâm linh cho con người.
10/12/2010(Xem: 13135)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.