Cây Cỏ Gấu

10/06/202108:14(Xem: 7051)
Cây Cỏ Gấu
 


cay co gau


Cây Cỏ Gấu
   
Trần Thị Nhật Hưng


   Mỗi lần đến chùa Vạn Phước, dù không chú ý, Phật tử ai ai cũng thấy Thầy Từ An, phó Trụ Trì chùa, mỗi ngày, ngoài những thời kinh, khóa tu, rảnh rỗi Thầy ra sân chùa cặm cụi nhổ cỏ gấu hết cây này đến cây kia, hết chỗ này đến chỗ nọ. Cứ xoay vần như thế ngày này qua tháng khác, năm này sang năm kia rồi khi cỏ gấu mọc lại, Thầy lại tiếp tục nhổ như một hạnh nguyện. Đặc biệt nữa, cứ mỗi lần nhổ xong một cây cỏ gấu, Thầy thường lẩm nhẩm: “Nhổ này một cây phiền não..., nhổ này một cây phiền não...“. Nhưng Thầy nhổ không bao giờ hết, vì cỏ gấu vốn là một loại cỏ dại, đã là cỏ thì rất khó tiêu diệt. Nếu xịt thuốc chỉ cháy lá hoa ở phần trên, rễ vẫn còn ở phần dưới, thậm chí có nhổ tận gốc nhưng chỉ cần sót lại một chút thân, rễ, một thời gian sau cỏ vẫn mọc lại như thường; chỉ trừ duy nhất tráng xi măng lót gạch, cỏ không còn đất sống may ra mới dứt sạch.

   Cỏ gấu không như cỏ thông thường thấp lè tè vẫn thấy. Cỏ gấu cao vài gang tay từ 20-50 cm, lá dài thon gọn như lá lúa, hoa trỗ từng cánh cứng cáp bện vào nhau như những con tít. Đặc biệt cỏ gấu còn có một tên khác rất thơm tho: Hương Phụ. Củ của nó dùng để chữa trị nhiều thứ bệnh rối loạn tiêu hóa, đau ngực sườn, bụng đầy trướng..v.v.. đặc biệt trị các bịnh dành riêng cho phụ nữ.

   Cỏ gấu như thế, thường mọc tràn lan bừa bãi chen chúc với cây cỏ khác trông không thẫm mỹ nên mất đi giá trị thực thụ của nó. Chỉ người làm thuốc mới tha thiết trân quí, ngoài ra đều xem cỏ gấu như loại cỏ dại vô tích sự chỉ đem phiền hà trong con mắt mọi người.

    Trong sân chùa Vạn Phước, nhất là phía những rìa tường hai bên cổng Tam Quan chạy dài ra đến sân sau, cỏ gấu mọc chằng chịt, Thầy Từ An đã chọn cỏ gấu làm hạnh nguyện, nhổ từng ngày, công việc không mấy nặng nhọc, có thể giao cho người làm vườn hay Phật tử đến chùa làm công quả, nhưng đối với Thầy, đây là công việc Thầy phát nguyện tỏ lòng thành thiết tha cầu Phật Trời để hồi hướng công đức cho nghiệp chướng cha mẹ sớm tiêu trừ.

        Thầy Từ An tu từ bé tại một làng quê. Xuất thân trong một gia đình không mấy hạnh phúc nếu không muốn nói là địa ngục trần gian. Nhân duyên đưa Thầy đến chùa cũng từ gia cảnh đặc biệt như thế. Về sinh kế của gia đình không đến nỗi khó khăn. Mẹ có nghề may, dù khách trong làng không được bao nhiêu, mẹ buôn bán thêm từ cây trái, rau củ trong vườn để thêm thu nhập. Cha hành nghề theo thời vụ, ai có việc thì gọi. Cuộc sống như thế nếu bình yên chấp nhận thì cũng an ổn qua ngày. Thế nhưng, thân phụ Thầy đối với gia đình là một người chồng, người cha thiếu trách nhiệm, đã mê cờ bạc, hút xách, bê tha nhậu nhẹt; kiếm được đồng nào chỉ đắp cho bản thân, không đóng góp cho gia đình mà đôi khi còn đòi thêm tiền từ mẹ, đã vậy chỉ trái ý phật lòng, nhất là sau những cơn say trở về nhà, vô cớ cha đánh mẹ một cách tàn nhẫn. Những cuộc cãi vã thường nhật như cơm bữa, hé một tí là thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Có hôm cha đánh mẹ đến mang thương tích phải nằm bịnh viện. Sức người có hạn, chịu không nổi, mẹ đành bỏ cả chồng lẫn con về lánh nạn tại nhà cha mẹ ruột. Cuộc đời tưởng thế tạm yên thân. Nhưng không, mẹ nhớ con da diết rồi lại lò mò trở về bên cha để tiếp tục bị ăn đòn tiếp. Nhiều khi Thầy thắc mắc hỏi mẹ, người chồng như thế, sao mẹ lại kết hôn. Mẹ lắc đầu khóc lóc kể lể, âu cũng là số phận, nghiệp chướng. Mẹ về nhà chồng lúc 16 tuổi do gia đình hai bên hứa hôn. Những ngày đầu ở rể “tập” làm rể, cha tỏ ra rất siêng năng chăm chỉ ngoan hiền thu hút niềm tin yêu, thương quí của cả gia đình trong đó có mẹ. Thế mà sau này, lúc về bên nhau, chỉ sau vài năm có lẽ nghiệp quả trỗ ra, cha thay lòng đổi tính hành hạ mẹ làm như trả mối thù từ bao kiếp.

   Những tháng ngày chứng kiến cha đánh mẹ, Thầy lúc đó còn bé không làm sao cứu mẹ được, Thầy chỉ biết đứng khóc, thương mẹ vô vàn, và sau những trận đòn của mẹ, thầy ôm mẹ an ủi. Riêng đối với cha, theo thời gian, tình thương yêu trong Thầy nhạt dần thay vào đó là nỗi sợ hãi cùng với lòng hận thù ghét cay, ghét đắng.

   Hình ảnh tàn bạo, bệ rạc về người cha ăn sâu vào tâm khảm Thầy, đã làm nổi bật hình ảnh một vị sư trang nghiêm trong chiếc áo cà sa màu vàng nhân một ngày, khi đó Thầy vừa 12 tuổi, được mẹ dẫn đi chùa trong dịp lễ Phật Đản và cũng là lần đầu tiên Thầy chiêm ngưỡng hình ảnh uy nghi tuyệt vời đó. Về nhà, nhìn cha, hai hình ảnh tương phản khiến Thầy luôn tưởng nghĩ đến vị sư áo vàng, Thầy như bị...“tương tư“, ngày đêm sáng tối, chiếc áo cà sa vàng như chiếm hữu toàn bộ tâm tưThầy, để rồi một ngày, Thầy thưa mẹ tỏ ý muốn đi tu được như “ông sư mặc áo vàng” và xin mẹ vào chùa ở với Sư phụ.

   Thân mẫu Thầy, vốn người có tâm đạo, để Thầy vào chùa, xa con, bà rất nhớ thương, nhưng nghĩ cảnh đời đau khổ của mình, thấm thía bể khổ thế gian, bà không ngần ngại chấp thuận cho con xuất gia. Riêng cha, ông vốn không quan tâm chuyện gia đình, con cái, nên việc Thầy vô chùa, đi hay ở, làm gì, ông không cần biết. Với ông, chỉ có bia rượu, chỉ khi ngồi trong bàn nhậu, với ai, hay ở đâu mới là điều quan trọng.

  

   Thầy vào chùa, cũng như bao chú tiểu khác, ngoài việc học kinh, tụng kinh, và thỉnh kệ chuông U Minh mỗi tối, Thầy cũng được Sư phụ cho đi học phổ thông ngoài đời. Nhờ tư chất thông minh hiếu học, học giỏi, Sư phụ hoan hỉ đầu tư cho chú Từ An học đến nơi đến chốn. Từ kinh điển nhà Phật cũng như kiến thức trường học ngoài đời chú Từ An đều xuất sắc. Cứ thế chú Từ An từng bước đi lên, từ một làng quê hẻo lánh bước ra tỉnh rồi thành phố rồi với bao kinh nghiệm trên đường tu và sinh hoạt trong chùa, Thầy được cất nhắc đảm nhiệm vai trò phó Trụ Trì của một chùa lớn.

   Từ khi vào chùa tu, học hỏi kinh điển giáo lý nhà Phật, Thầy nhìn và hiểu ra nghiệp quả của cả cha lẫn mẹ. Chắc hẳn hai người có ân oán từ kiếp trước để kiếp này oan gia trái chủ gặp nhau kết làm vợ chồng mới có dịp trả nợ nhau. Nghĩ như thế, mỗi lần tụng kinh, Thầy luôn cầu nguyện mong mỏi cho cha mẹ thoát nghiệp, nhất là người cha thay tính đổi nết để trong nhà được an vui. Như thế vẫn chưa đâu, để tỏ lòng thành thiết tha khẩn cầu Phật Trời cứu độ cho cha mẹ, Thầy còn phát nguyện kiên trì nhổ cỏ gấu, một loại cỏ biểu tượng cho sự phiền não, khổ đau như vứt bỏ phiền toái của cuộc đời.

   Theo Phật giáo, lòng hiếu của một người con không chỉ kính yêu, phụng dưỡng cha mẹ đầy đủ khi cha mẹ hiện tiền, mà ngay khi qua đời phải biết phụng thờ, tưởng nhớ. Ngoài phương diện vật chất, người con hiếu còn đáp ứng tinh thần, sống tốt hữu ích để cha mẹ vui lòng hãnh diện. Nhưng bấy nhiêu thôi chưa đủ, vì Phật giáo quan niệm có kiếp trước kiếp sau, cho nên, không những mình sống tốt mà còn nên hướng dẫn cha mẹ hành thiện, làm lành lánh dữ theo con đường chân chánh, tu thân, Quy y Tam Bảo, gieo trồng phước báu để xây dựng hạnh phúc cho đời này và cả đời sau. Phải làm sao hướng dẫn cha mẹ hiểu và đi trên đường đạo, có như vậy mới là báo hiếu thực sự đúng nghĩa, rốt ráo giúp cha mẹ biết đâu là con đường lành, tìm đến bến giác, thoát vòng sinh tử luân hồi.

   Nghĩ như thế, sau bao đêm thao thức, nhân chùa Vạn Phước tổ chức khóa tu 7 ngày, Thầy Từ An thưa cùng Sư Trụ Trì trình bày mọi nỗi của gia đình rồi xin phép được thực hiện điều mình mong muốn…

                                         ***

      Chuyến xe 16 chỗ, đúng ngày giờ ấn định chuyển bánh lên đường theo kế hoạch của Thầy Từ An.

Khi liên lạc về gia đình, thay vì nói rõ mời gia đình tham dự khóa tu, chưa chắc mọi người chịu tham gia, nhất là thân phụ Thầy, Thầy đã…dối rằng (nói dối không hại ai mà được lợi lạc cho mình, cho người, Phật giáo cho phép), Thầy thuê xe không chỉ riêng người nhà, mà mời cả hàng xóm bạn bè thân thích…du lịch! Nơi ăn chốn ở cũng như mọi chi phí tàu xe đã có Thầy lo hết, mọi người tạm xa lánh làng quê vất vả bao năm, chỉ để thỏa thích làm một chuyến đi chơi cho biết đây biết đó.

    Lời “dụ khị” phác họa về một thế giới…đi rồi sẽ biết, tuyệt vời chưa từng thấy từ trước tới nay trên cõi đời này, chắc chắn sẽ mang lại thích thú an vui trong chuyến đi làm ai ai cũng háo hức.

   Ông Mạnh, thân phụ Thầy Từ An, nhìn bà Mạnh và bà con họ hàng lối xóm lăng xăng bàn bạc chuẩn bị chuyến đi, thêm lời cầu khẩn của vợ, ông cũng thử tham gia một lần cho biết.

    Lần đầu tiên không phải vất vả đầu tắt mặt tối trong sinh kế, được tụ hội trong một chiếc xe nói cười rôm rang hỉ hả, quây quần ăn uống ngon lành mỗi khi xe dừng giải lao, chưa đến nơi mà ai nấy đều cảm thấy hân hoan thoải mái như bước vào một thế giới mới lạ chưa bao giờ được hưởng. Nhưng niềm hân hoan đó chẳng bao lâu đã bị tắt ngúm khi xe dừng hẳn dưới mái chùa Vạn Phước. Mọi người ngơ ngác ngạc nhiên, nhất là ông Mạnh, ông thắc mắc lên tiếng sao lại đưa ông đến thế giới lạ hoắc này mà không phải là một khách sạn như ông tưởng. Hỏa trong ông bắt đầu bốc lên, mặt ông nóng bừng, đỏ gay, ông chưa kịp nổi nóng khua tay đấm vào một cái gì đó cho vơi bực bội, thì kìa, một đoàn người áo lam từ trong chùa bước ra sân, mặt mày ai nấy hiền từ vui vẻ, miệng như luôn nở nụ cười đến bên xe niềm nở chắp tay đón chào ông và phái đoàn. Nhìn thấy họ cung kính lễ phép với những cử chỉ ân cần, bỗng nhiên lòng ông dịu xuống.

- Dạ, chúng con kính chào phái đoàn. Nhà chùa và Thầy Từ An phái chúng con đón các chú các bác và hướng dẫn phái đoàn thăm chùa cùng sinh hoạt tại đây. Các chú, bác lấy va ly và theo chúng con vào chùa ạ.

   Riêng ông Mạnh thì được thầy Từ An đặc cách một Phật tử cùng trang lứa với ông Mạnh, hết sức “đặc biệt” để…đặc biệt chăm sóc ông. Phần bà Mạnh xưa nay vốn hiền lành thật thà lại có lòng hướng Phật, nên Thầy Từ An an tâm hơn không phải lo lắng nhiều, bà sẽ hòa nhập dễ dàng với không khí nơi đây. Còn những người trong đoàn, dù muốn hay không, đến nước này, mọi người cũng phải răm rắp tuân theo sự sắp đặt của Thầy Từ An.

   Các anh chị em Phật tử trong chùa cùng nhau giúp đỡ mang xách hành lý, hướng dẫn phái đoàn đến văn phòng ghi danh, phát mỗi người hai bộ vạt hò, một áo tràng rồi chia đoàn thành ba nhóm, mỗi nhóm đều có một Phật tử của chùa cặn kẽ lo toan mọi thứ để phái đoàn không bỡ ngỡ xa lạ khi đến đây.

   Ông Mạnh và vài người đàn ông trong đoàn được bác Hải - người Thầy Từ An đề cử - đưa về chung phòng với bác. Căn phòng tươm tất sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi với giường tủ, nhà tắm, nhà vệ sinh bên trong, giành cho sáu người.

   Cất để hành lý đâu vào đó, để mọi người nghỉ ngơi sau một chuyến đi dài mệt nhọc, đến giờ trưa bác Hải trở lại đưa mọi người về phòng ăn dùng cơm.

   Bữa cơm chay đầu tiên trong đời với khổ qua nhồi đậu hủ kho mặn, bát canh chua chay và thêm đĩa xào nấm với rau đậu…, không có “đồ nhậu” hay bia rượu, thay vào đó chỉ là ly sữa đậu nành nóng mà sao ông Mạnh thưởng thức ngon đến thế. Buổi chiều chỉ đơn giản mỗi người một tô bún Huế chay, chao ôi, không miếng thịt bò nào mà mùi vị có khác nào… bún bò đâu.

   Nhưng buổi lễ khai mạc khóa tu hôm sau, mới khiến ông Mạnh và phái đoàn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nhất là ông, đến hôm nay, sau bao ngày xa cách mới nhìn lại “thằng cu con”, con trai của ông ngày nào mũi dãi lòng thòng chỉ biết rong chơi với  bạn bè trong xóm mà nay trưởng thành trang nghiêm trong chiếc áo cà sa vàng tháp tùng cùng các nhà sư khác. Ông chăm bẵm ngắm “thằng con” sao bây giờ lớn tướng oai nghi thanh thoát quá vậy. Sự xuất hiện của quí sư với lộng che, cờ xí, từng bước khoan thai nhẹ nhàng vào chánh điện trong tiếng chuông trống vang rền, đi trước có đoàn Phật tử mở đường, sau cũng có đoàn Phật tử ủng hộ, chưa kể hằng ngàn người khác đang xếp lớp đứng ngay ngắn hai bên chắp tay cung kính chào đón vô cùng trịnh trọng, ông Mạnh chợt nghĩ thầm, giá…thằng cu con nhà ông vẫn ở với ông, chậc,…tương lai không biết ra sao, nhưng chắc chắn sẽ không được vinh dự như hôm nay. Trong ông, bỗng dấy lên một chút ngậm ngùi, bao lâu ông chưa hề có trách nhiệm gì cho thằng cu con, để nó tự mình tìm con đường đi và bây giờ còn cho ông niềm hãnh diện, đã vậy qua nay, bao người ân cần chăm sóc ông và phái đoàn một cách tử tế, há không nhờ từ sự nể trọng của mọi người giành cho con ông đó sao. Một cảm giác khác lạ len lén tâm tư ông, đưa ông lâng lâng bay bổng vào một thế giới xa xăm nào.

    Rồi những ngày sau đó, ngoài ngủ với ăn, cơm chay nhà chùa rau đậu thôi mà sao ngon quá chừng chừng, ông không bị bắt buộc phải làm gì ngoài việc theo các Phật tử tụng kinh, nghe pháp. Con ông đăng đàn giảng pháp, những bài pháp thoại ứng dụng vào đời sống hằng ngày từ giáo lý nhà Phật để đem an lạc hạnh phúc, bao Phật tử ngồi bên dưới chăm chú nghe một cách thích thú, ngưỡng mộ, ông cũng từ từ cảm thấy thấm dần, thấm dần… 

    Những ngày trong chùa, không khí tưng bừng thân thiện, nhìn bao người tất bật với công việc không có thù lao mà ai nấy mặt mày tươi tắn hoan hỉ, ông bị cuốn theo lúc nào không hay, ông cũng xăn tay áo lao vào công việc, chia xẻ với mọi người nào quét dọn, bưng bê… Không ai xấu hổ với công việc người đời cho là thấp hèn, họ luôn nói với ông “Phục vụ chúng sinh là cúng dường Chư Phật!” rồi nở miệng cười toe toét tiếp tục hăng hái làm việc.

     Gần ngày mãn khóa tu, theo thông lệ, chùa luôn tổ chức lễ Qui y Tam Bảo. Ông Hải gặp ông giải thích cặn kẽ, hướng dẫn ông ghi danh. Ông Mạnh hoan hỉ gật đầu.

     Trong năm giới cấm dành cho Phật tử Qui y, giới cấm rượu bia đối với ông Mạnh là…nặng nhất. Nhưng suốt gần 7 ngày trong chùa, ông không uống một ngụm nào, ông thấy tinh thần sảng khoái khỏe ra, do vậy, khi vị Trụ Trì chủ trì buổi lễ cất tiếng hỏi, trước sự chứng kiến của bao người, ông không ngần ngại mạnh dạn tuyên thệ: “Dạ, con giữ được. Con xin cố gắng”. Rồi khi cầm “chứng chỉ” Qui y, chứng nhận từ nay ông là con Phật với Pháp danh “Từ Tâm”, cái tên thật hay đầy ý nghĩa, ông Mạnh lâng lâng vui sướng. Áp chứng chỉ vào lòng, ông đưa mắt ngưỡng trông tôn tượng Đức Phật Thích Ca oai nghi trên bệ cao, ông thấy dường như Đức Phật nhìn ông mỉm cười.

  Ngày chia tay về trụ xứ, mọi người trong đoàn bùi ngùi khi phải rời xa chùa, nơi đầy ắp tình thương yêu  trao cho nhau với bao bạn đạo dễ thương tuy mới gặp và quen chưa bao lâu mà như đã thân thiện từ kiếp trước. Thầy Từ An, con trai ông và Sư Trụ Trì cùng Phật tử trong chùa quyến luyến ra tận xe đưa tiễn. Thầy Từ An tặng mỗi người một xâu chuỗi hạt đeo tay, rồi đặc biệt đến bên cha, xiết tay cha, ân cần nói cho mọi người cùng nghe:

- Chuỗi hạt này, dùng để niệm Phật nhắc nhớ lời Phật dạy, tu thân, sẽ có được cuộc sống an vui hạnh phúc.

   Rồi chiếc xe lăn bánh sau bao lời chúc sức khỏe, thượng lộ bình an, cùng lời hứa hẹn sẽ trở lại ở những khóa tu tới, bỏ lại sau lưng bao người đứng ngóng theo cho đến khi xe khuất hẳn ở một khúc quanh. Không ai để ý nụ cười của Thầy Từ An nở trên môi với lời thì thầm: “Hạt Bồ Đề con gieo vào lòng cha. Con khấn nguyện cầu mong sao, cây Bồ Đề sẽ nở cành xanh ngọn”.

                                        ***

    Thầy Từ An vẫn nhổ cỏ gấu như mọi lần, vẫn thiết tha với hạnh nguyện khẩn cầu Chư Phật, Chư Bồ Tát đoái thương độ cho cha mẹ hạnh phúc, bình an. Thầy tin rằng, tin một cách tuyệt đối, chỉ có Phật pháp và nếp sống đạo, thân cận gần gũi thiện hữu tri thức, sống trong môi trường tốt lành, với thời gian mới có thể tạo nên tập khí từ từ cảm hóa tâm tánh của cha. Khi cha thay đổi, mang sự bình an cho gia đình tức là cùng lúc giải nghiệp luôn cho mẹ.

    Trong cuộc sống, khổ đau, phiền não vốn là bản chất của cuộc đời, vì đời là bể khổ, như cây cỏ gấu tràn lan khó dứt sạch. Tuy nhiên là đệ tử Phật, nếu quyết tâm kiên trì hướng về giải thoát thì vẫn thoát khỏi sinh tử luân hồi để về thế giới chấm dứt khổ đau. Nhưng điều đó còn tùy căn cơ và nỗ lực tu tập của mỗi người. Bảo sở tìm về xa tận kiếp, đâu phải muốn là được nếu không tu. Do vậy, khi nghĩ đến thân sinh, Thầy biết căn cơ cha mẹ còn hạn hẹp nhưng không phải vì vậy mà Thầy nản lòng, Thầy kiên trì như kiên trì nhổ cỏ gấu quyết tạo cơ hội hướng dẫn cha mẹ về con đường đạo, vì đó là con đường duy nhất tuy còn dài xa tít tắp nhưng chắc chắn sẽ là bến đỗ đưa cha mẹ đến Niết Bàn không ở đâu xa mà ngay ở cõi đời này.

 

Trần Thị Nhật Hưng

 



***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/01/2013(Xem: 4688)
Cảm nhận nguồn sông trăng, Cảm ơn tác giả: Nữ sĩ Tuệ Nga đã gởi tặng tập thơ “Từ Giòng Sông Trăng” do Cội Nguồn xuất bản vào giữa năm 2005, sách dày 400 trang giấy thắm, chuyên chở ý thơ như giòng suối tràn tuôn từ dòng tư tưởng ảnh hiện bóng trăng, soi qua cuộc đời trong sáng, với những giòng sông mênh mông tràn về biển cả. “Từ giòng Sông Trăng” chẳng những một đề tài đơn độc của tập thơ nầy để diễn tả sự mầu nhiệm của trăng mà chúng ta không thể dùng lời nói hết. Riêng Nữ sĩ Tuệ Nga có cái biệt tài đưa trăng vào thơ một cách tự nhiên không hề gượng ép. Mỗi chữ trăng là mỗi vần thơ. Mỗi dòng hạ bút là thơ trăng huyền.
21/01/2013(Xem: 20858)
Một lòng yêu nước với yêu quê Sang lánh trời Tây vẫn nhớ về Non nước đớn đau lòng tu sĩ Đêm về gợi nhớ bóng hương quê Nghìn năm văn hiến giờ đâu thấy Nghĩa lý luân thường mất đã lâu Khổ đau oằn quại triền miên kiếp
20/01/2013(Xem: 4776)
Cuộc đời bầm dập nổi trôi của một em học trò cũ đã thôi thúc tôi viết nên truyện này. Người ta thường bảo „sông có khúc, người có lúc“ nhưng phải nhìn nhận cả cuộc đời của em đã phản ảnh lại nhận xét trên. Bao đau thương đã dồn dập lên đôi vai yếu ớt của em, nhiều lúc tưởng chừng như không còn gượng đứng dậy được nữa, nhưng em vẫn phải sống, vẫn phải đương đầu với mọi khổ đau tràn ngập vây quanh.
15/01/2013(Xem: 10684)
Chiến tranh và hòa bình (tiếng Nga: Война и мир) là nhan đề một tiểu thuyết của Lev Nikolayevich Tolstoy, xuất bản rải rác trong giai đoạn 1865 - 1869.
30/12/2012(Xem: 5461)
Bước lên chiếc Lambretta hàng, tôi tự nhiên thấy Trâm ngồi thu hình ở một góc xe. Tôi quen Trâm một tháng trước. Nàng là y tá viên điều dưỡng vừa ra trường chưa được một năm. Đang làm việc ở Đà Nẵng thì có giấy đổi vào Nha Trang. Hôm mới vào nàng tìm đến địa chỉ tôi do lời dặn của anh Hiệp, anh rể nàng. Hiệp là bạn học của tôi hồi ở trường Khải Định. Có một cô em làm việc bị đổi đi tỉnh xa Hiệp viết thư giới thiệu cho tôi, gián tiếp thay anh để tuỳ cơ giúp đỡ cô em nhút nhát. Sau khi đọc thư của Hiệp, tôi hỏi:
17/12/2012(Xem: 6430)
Cách đây mấy năm, trên một chuyến xe đò muộn về thăm quê. Khi xe đi ngang qua cầu Ngân Sơn, thì lúc ấy đã 5 hay 6 giờ chiều. Dù đã nhiều lần đi qua đây, nhưng có lẽ buổi chiều cuối xuân năm ấy, là buổi chiều mà tôi đã nghĩ nhiều nhất về Võ Hồng. Tôi tưởng tượng rằng, hồi còn nhỏ chắc mỗi chiều ông vẫn thường ra đứng ở nơi này, để nhìn ráng đỏ nơi rặng núi phía Tây kia ? Rồi nhìn bóng chiều xuống chậm trên dòng sông này? Chắc phải vậy! Vì trong tác phẩm của Võ Hồng thì cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của đất trời, tôi cho là những cái đẹp mà Võ Hồng đã viết hay nhất. Nhưng trong cái đẹp đó, Võ Hồng luôn luôn đưa vào thiên nhiên một chút sầu, hay ngậm ngùi cho một cái gì đó đã hay đang sắp mất đi trên cuộc đời này. Tại ông bi quan chăng? Hay tại vì cái đẹp mong manh của những buổi chiều tà trên dòng sông tuổi thơ dạo nào cứ ám ảnh ông mãi.
10/12/2012(Xem: 4405)
Đúng là những ngày tháng không quên thật! Sau 30.4.75, tôi bị ở lại Việt Nam là một điều quá ngu xuẩn rồi. Tự mình làm hại mình và hại cả tương lai con cái nữa. Niềm đau này thật không làm sao phôi pha được với thời gian, vết thương trong lòng tôi cứ chua xót ngậm ngùi!
05/12/2012(Xem: 4779)
Khách là một đại hán vạm vỡ, vận chiếc trường bào màu xám tro, nước da đen sạm; ngựa là một loại thiên lý câu sắc hung sẫm, bờm cao, bụng thon, lưng dài. Cả hai hình như đã vượt qua hằng ngàn dặm đường nên khi đến địa phận Trấn ma lâm, vó gõ trên mặt dốc sỏi không còn ngon trớn nữa mà chậm dần, chậm lại dần... Đến góc núi, bỏ đường lớn, người và ngựa thong thả nước kiệu qua ngọn đồi tràm và thông mọc lưa thưa chen lẫn đá hoa cương và đá tổ ong.
28/11/2012(Xem: 7459)
Trong tác phẩm Những tư tưởng gia vĩ đại của Phương Đông (Great thinkers of the Eastern world) tác giả IAN P. Mc GREAL đã nhận định rằng: “Toàn bộ thơ Tagore là những lời tình và ông đã tự nhận là người tình của nhân loại.”[1]
10/11/2012(Xem: 6384)
Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in, hồi nhỏ sống trong căn nhà tranh nơi một làng quê nghèo khổ ở miền Trung. Vào những buổi xế chiều cuối tháng 6 hoặc đầu tháng 7 âm lịch, mẹ tôi hay vắng nhà, bà đi ra đồng nhổ cỏ ruộng hoặc hái rau. Còn lại một mình ở nhà, không biết làm gì, tôi thường leo lên nằm trên chiếc võng treo ngay nơi cửa chính ra vào. Tôi nằm yên nhìn những đám mây đen đang tụ lại nơi những rặng núi xa ở phía Tây, những đám mây đó như báo hiệu những ngày đông giá rét lê thê đang sắp đến nơi làng quê nghèo khổ này. Thỉnh thoảng tôi còn nghe những tiếng sấm từ chân trời xa vọng lại.