Kính chiếu yêu ma (bài của Phật tử Huệ Hương, do Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

27/08/202004:38(Xem: 8791)
Kính chiếu yêu ma (bài của Phật tử Huệ Hương, do Phật tử Diệu Danh diễn đọc)
kinh chieu yeu ma
Kính chiếu yêu ma
Bài viết của Cư Sĩ Huệ Hương (ở Melbourne, Úc Châu)
Do Phật tử Diệu Danh (Hannover, Đức Quốc diễn đọc)




Mười năm về trước khi đọc " CỬA TÙNG ĐÔI CÁNH GÀI " của Sư Ông Làng Mai  Thích  Nhất Hạnh  tôi vẫn không hề nghĩ đến có ngày mình phải dùng kính chiếu yêu này ... không phải cho người khác bên ngoài mà chính là dùng để soi rọi vào những con ma đang ẩn núp trong rừng tâm của tôi quá  chằng  chịt và  rậm rạp nơi mà   tập khí  được chôn vùi và đã  trở nên hoang dại  đến nỗi rất khó để  tháo gở được những rễ dây đã bám  sâu trong đất Tâm này.

Đó là nhờ vào việc nghe kinh ...,   vài tuần nay nghe đến phẩm  Ma Sự trong  Kinh Đại  Bát Nhã và nghiền ngẫm rất lâu về lý và sự của từng câu kinh  thì tôi chợt hiểu ra  Ma còn là những chúng sinh ( niệm khởi  do vọng tưởng)  đang trú nấp trong chính ta mà thôi . .....Để rồi  tự nhắc  lại mình đã từng thệ nguyện CHÚNG SINH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ thì bây giờ phải làm sao cho những con ma này được thoát ra khỏi cái thế giới mà chính nó đang tạo đây. 

Chợt   nhớ lại những  ngày niên thiếu còn ở Việt Nam , nhà nhà đều treo một kiếng tròn nhỏ trước cửa và khi được hỏi các cô bác lớn tuổi đều bảo rằng để đuổi tà ma yêu quái đừng đến phá phách và tôi cũng tin như vậy nên  khi qua định cư nước thứ ba mấy lần đổi nhà là mấy lần tôi  gắng tìm một chiếc kiếng tròn nhỏ  treo trước cửa ra vào để lòng an ổn bất lo sợ ... và phải chờ  đến mười mấy  năm sau này   khi học Phật  Pháp  nhận được  rằng .... mình quả có chút mê tín , nên từ đó tôi không dám nhắc tới kính chiếu yêu vì ngượng ngùng xiết kể ...

Thật ra  bây giờ tôi tin rằng có khi trong một ngày vẫn có nhiều lần  tôi đã thấy những con ma ....nhất  là nếu chúng ta  có can đảm  nhìn vào gương soi mặt khi buồn,  thương, ghét,  giận, oán thù   ....  một con ma với mặt mày tím xanh  tay chân run cầm cập vì nỗi sân khi nghe người ta chê trách mình hay nói ra khuyết điểm, hoặc là một con ma đầu   tóc rũ  rượi   nước mắt đầm đìa khi bị thất vọng , mất mát về một chuyện gì ...! 

Phong tục cũ xưa ...

nhà nhà treo kiếng chiếu yêu trước cửa ! 

Dù đã  định cư nơi nước thứ ba , 

Vẫn mua kiếng  treo khi  mới chuyền đổi nhà 

Hy vọng đuổi ma  phá phách  ....về đòi nợ ? 

Thật ra ma bên ngoài đâu đáng sợ ! 

Hiểu Đạo rồi cần  chiếu rọi lại bên trong 

Ma ảo tưởng rất tinh ranh,  trốn tránh vòng 

Đầy thân kiến,  hoài nghi, giới cấm thủ ....

Dòng cảm xúc, nơi ma bản ngã từng lưu trú  !

Tất cả huyễn vọng ....Tâm mình dựng tạo nên, 

Hiểu mình, hiểu cuộc đời, sợ hãi chẳng có tên .

Nên kính chiếu yêu không cần thiết nữa ! 

( thơ HH ) 

Phải chăng  từ trước cho đến bây giờ lúc  nào tôi cũng vướng vào  mười sợi dây trói buộc ( 10 kiết sử ).. ?  

Hỏi chính là trả lời ....Đúng vậy càng  khởi lên  sự mong cầu có  được thanh thản nên lúc nào tôi cũng dựa vào tham ái rất vi tế và chấp thủ mà không biết đó là những con ma ghê sợ nhất . ...và do đó  để thoát ra được vòng vây của chúng ma  tôi cần phải có kính chiếu yêu luôn mang bên mình và mỗi mỗi phút giây cần  lấy ra chiếu sâu vào rừng tâm tôi ....

Càng ngày  tôi càng trải  nghiệm hơn  về  chướng ngại  ( ma sở tri của mình)  qua những ngôn từ lý thuyết . 

Ba năm trước đây có lần  tôi được Sư Phụ khuyên trách rất nhẹ nhàng rằng " con có thấy mình đang tầm chương trích cú không ? Con nên chính  tự mình tinh tấn chánh niệm tỉnh giác rồi ứng dụng  tu tập thực hành của mình vào đời sống thưc tại để đạt đến cứu cánh là giải thoát " . 

Hôm nay đọc lại lời Thầy giải đáp cho một Phật Tử cũng đi trên đường xưa giống như tôi.....thì tôi chợt hiểu .....

..  "    Rừng Kinh Luận của các Tông môn Hệ phái Phật giáo ngày càng phúc tạp đã và đang che mờ chính Đạo giải thoát giác ngộ vốn rất giản dị thiết thực mà đức Phật khai ngộ. Đã vậy còn thêm kiến giải của các vị "luận sư" đầy lý trí, chủ yếu chỉ khoe khoang sở học của mình hơn là chỉ ra sự thật, lại càng tạo thêm áp lực cho người học phải "tầm chương trích cú" mới đạt được tiêu chí "khoa bảng" hơn là thấy ra Sự Thật. "" ( trích đoạn ngày 11/8 trong mục hỏi đáp Trungtamhotong ) 

 

Phải chăng rất khó để mà chúng ta thoát được cái lưới khổng  lồ  mà các con ma kiết sử đang buông văng mà nếu chúng ta không tỉnh thức để tháo gỡ thì sẽ càng bị buộc chặt khít hơn dù cố tình vùng vẫy điên loạn .

Cho nên tốt nhất  cần phải không quá lệ thuộc vào bất cứ điều kiện gì miễn là mình chỉ cần sống trọn vẹn tỉnh thức với thực tại trong mọi sinh hoạt của đời sống hằng ngày mà chẳng mê ( do ma khuấy nhiễu ) thì thật sự an bình và hạnh phúc. 

Sống giữa cuộc đời, lẽ dĩ nhiên không ai tránh được những gì người ta nói , những gì họ nghĩ sai về mình nên điều quan trọng nhất chỉ cần rèn luyện tính kham nhẫn . 

Kính chiếu yêu là để giúp ta nhìn ra những con ma cảm xúc và tự nhũ rằng hãy  kham nhẫn để sống giữa thế tục của thế gian và đừng tạo thêm những phiền phức vô ích . 

Có đọc tụng Kinh Địa Tang bổn nguyện rồi mới thấy biết bao nhiêu ngục,  hầm tối đã giam giữ ta chỉ vì bất cẩn để cho những ma cảm xúc quấy nhiễu mà sinh ra khẩu nghiệp trải qua nhiều đời nhiều kiếp 

Tín, tấn, niệm, định,  Tuệ là nền tảng ! 

Cần tu tập .... phát triển năng lực tâm linh, 

Những ma bất thiện ...   diệt đừng cho  khởi sinh .

Kính chiếu yêu dùng  thấy  ra ...nơi ẩn núp ! 

Tự  trọng bản thân, chính động cơ  để giúp, 

Với tự tin, dần dần đẩy chúng lìa xa .

Tỉnh thức trọn vẹn,  kham nhẫn từng sát na 

Ma đố kỵ , cái tôi .... khó sinh ra Ngã mạn !

Thấp,   cao căn cơ đừng quên kinh Địa Tạng 

Thường thọ trì vào lễ hội Vu Lan, 

Thấy rõ nghiệp báo trong thế tục dân gian . 

Tiếp tục  hành thiện cho thật toàn bich! 

Cho cuộc sống hoàn mỹ nhiều lợi ích ....



Chính nhờ  được đọc tụng kinh Địa Tạng bổn nguyện do Tu Viện Quảng Đức khai kinh nhân Lễ Hội Vu Lan trong mùa đại dịch , HH kính xin được mạn phép trình bày về kính chiếu yêu trong dân gian để  thương nhớ về một quê hương rất bình dị và đáng yêu với những mê tín huyền thoại ...



Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát

Đệ tử Huệ Hương 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/02/2018(Xem: 11143)
Hỏi: Thế nào là tâm bị ô nhiễm ? Đáp: Tâm gồm hai phần chính là tâm và sở hữu tâm (tâm sở). Sự thấy biết cảnh thuần khiết gọi là tâm. Sự pha màu vào thấy biết cảnh thuần khiết làm nó biến dạng gọi là tâm sở. Cả hai tâm này đồng sinh, đồng diệt, đồng cảnh, đồng trú căn. Cho nên rất khó biết được tâm (thuần khiết) mà chỉ biết được tâm sở. (Tâm sở là tâm nhận diện cảnh theo chức năng riêng của nó, như tâm sở Tham có chức năng là khao khát cảnh, tâm sở Sân có chức năng huỷ diệt cảnh). Giống như đường hoà vào nước, người uống chỉ biết vị ngọt của đường mà không thế biết sự không vị của nước tinh khiết trong nước đường. Nước bản chất là H2O, nếu lẫn cặn thì gọi là nước đục, lọc cặn đi gọi là nước trong, nhưng bản chất nước là nước, không trong, không đục. Tâm cũng như vậy. Vì lẫn vào sự khao khát, ham muốn cảnh của tâm sở Tham nên gọi là Tâm Tham nên chẳng ai còn biết đến Tâm nữa, chỉ bị thu hút bởi Tham tâm sở mà thôi.
08/02/2018(Xem: 5922)
Nhân dịp qua Houston dự Đại hội Phượng Vỹ, một chị bạn đã rủ tôi về Florida chơi cho biết. Nghe đến Florida tôi đã hình dung ra một miền nắng ấm, cây cỏ xanh tươi và sóng biển rì rào như mời gọi khách phương xa. Mà thật vậy, con đường từ phi trường về nhà chị đã quá quyến rũ du khách bởi những hàng cây, những thảm cỏ xanh um, trải dài ra tận chân trời. Bước xuống nhà chị, tôi bàng hoàng vì phong cảnh quá đẹp, trước nhà là một bãi cỏ mượt như nhung với những hàng cây cọ cao thẳng tắp, đẹp như trong tranh vẽ làm tôi cứ đứng ngẩn ngơ như người từ trên rừng thượng du về. Đứng trước cổng nhà, tôi đã reo lên: - A! bông cẩn Huế đây! Thanh thanh năm cánh mỏng uốn cong về phía sau làm bông hoa như cái lồng đèn tròn nhỏ, ôm lấy dây nhụy vươn dài có những hạt phấn nhỏ li ti màu vàng; khác với bông cẩn tây, hoa lớn hơn, dày, nhiều cánh xoắn xít lấy nhau, tràn sức sống mà thiếu nét mềm mại, ẻo lã... rất Huế.
02/02/2018(Xem: 21633)
Báo Chánh Phap - số 75 - Giai Phẩm Xuân Mậu Tuất 2018
29/01/2018(Xem: 6950)
Quan hệ gắn bó Nghệ An – Quảng Nam không chỉ thể hiện ở mặt Văn học mà còn để lại những dấu ấn sâu sắc nơi Võ học. Bên cạnh các thầy Đồ Nghệ dày công vun đắp cho văn học Quảng Nam phát triển rực rỡ còn có các võ sư xứ Nghệ đã giúp cho nền võ học Quảng Nam trở nên lừng lẫy một thời với các võ sĩ “bất khả chiến bại” trên võ đài và đóng góp nhiều vào sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc.
27/01/2018(Xem: 5484)
Tác phẩm “Thong Dong Khắp Mọi Nẻo Đường” chỉ dài khoảng 360 trang, nhưng chứa đựng rất nhiều tâm lực – đó là những suy nghĩ của tác giả Bạch Xuân Phẻ (Tâm Thường Định) từ nhiều năm đứng dạy trong trường học Hoa Kỳ và nhiều thập niên hoạt động trong cương vị Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Đó cũng là những chiều dài địa lý, qua những đại dương trên địa cầu, những nơi tác giả đã đi thật xa trên đường tìm học Thiền và rồi cũng đi thật xa trên đường hoằng pháp. Nói như người xưa là, cuốn sách quý độc giả đang cầm trên tay đã được viết từ người cư sĩ đã đi mòn biết bao nhiêu đôi giày và đã ngồi mòn biết bao nhiêu bồ đoàn để thâm nhập Phật pháp, và rồi hoằng pháp.
20/01/2018(Xem: 8031)
Ngày nay trái đất đã thu hẹp lại, đó là nhờ phương tiện di chuyển và phương tiện thông tin. Người ở bên này trái đất có thể rất gần gũi với người ở bên kia trái đất, giống như hai người kề cận nói chuyện với nhau, như cùng một nhà hay hàng xóm láng giềng. Cho nên quan niệm xa-gần chỉ là tương đối. Ngày xưa mẹ tiễn con, em tiễn chị lấy chồng ở bên kia sông (sang ngang) coi như “nghìn trùng xa cách” với những câu ca dao nghe đứt ruột: Chiều chiều ra đứng ngõ sau. Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. Ngày nay câu ca dao “gả chồng xa” được các màn hài kịch/chọc cười sửa lại rất vui và rất thấm thía như sau: Mẹ ơi đừng gả con xa. Gả con đi Mỹ, Con gửi đô-la mẹ xài. Xin nhớ Việt Nam cách Mỹ 19 giờ bay của máy bay phản lực, chứ không phải là chuyến đò qua bên kia sông. Như vậy tiền bạc và tình cảm đã làm cho xa thành gần và gần thành xa mà Phật Giáo cho rằng mọi chuyện trên cõi đời nay do Tâm mình tạo ra “Nhất thiết duy tâm tạo”. Cho nên mặc dù ở xa vạn dặm, chưa một lần gặp mặt, Thượn
19/01/2018(Xem: 5559)
Hôm nay, tôi hân hạnh được Hội Đồng Giám Khảo Giải Viết Về Đạo Phật của Viet Ananda Foundation ủy thác nói vài lời. Bản thân tôi không có gì đặc biệt, chỉ do cơ duyên trong 3 thập niên gắn bó với báo chí trong đạo và ngoài đời thường, và là một người luôn luôn hối thúc các bạn đạo phải tu, phải học, và phải cầm bút viết. Bởi vì, tôi thường nói với bạn hữu rằng hãy hình dung, nếu nhiều thập niên trước, không có sách của quý Thầy như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ, Thích Minh Châu và nhiều vị khác, Đạo Phật bây giờ đã không phong phú như hiện nay.
17/01/2018(Xem: 6448)
Lễ Trao Giải Viết Về đạo Phật Ananda Viet Awards Lần Đầu, 3 Giải Chính, 5 Giải Khuyến Khích Tổng Trị Giá Các Giải Là 7000 MK
13/01/2018(Xem: 6307)
Đọc Thơ Tuyển của Cư sỹ Đào Văn Bình, Tình cờ chúng tôi có được tập sách Tổ Ấm Cuối Cùng, Thơ tuyển và Kịch bản, của cư sỹ Đào Văn Bình xuất bản năm 1987, gởi tặng cố Hòa thượng Thích Thiện Trì, chùa Kim Quang tại thủ phủ Sacramento, CA. Tập sách có hai phần: Phần 1 là Thơ tuyển mà tác giả cho biết là "Sáng tác ròng rã qua 9 năm lưu đày tù ngục và 1 năm phiêu linh qua các trại tỵ nạn". Phần 2 là Kịch bản Tổ Ấm Cuối Cùng (Sáng tác từ tại tỵ nạn Sungei Besi). Ở đây tôi chỉ viết cảm hứng của mình khi đọc vài bài thơ trong lúc bị tù đày của một cư sỹ lão thành luôn có tâm với đạo pháp và dân tộc.
12/01/2018(Xem: 5883)
Nhớ lại 3 năm trước, tôi đến Seattle vào một chiều Thu cuối tháng Mười. Vừa rời khỏi sân bay, cảm nhận đầu tiên của tôi đối với đô thị xa hoa có nhịp sống bận rộn này là cái se se lạnh của tiết trời đang độ giữa Thu. Trong tôi lúc đó vẫn còn nỗi bồn chồn lo lắng, tâm trạng của một người vừa xa quê, bước chân vào một đất nước xa lạ. Sự mát lạnh của khí trời như xoa dịu phần nào nỗi lo lắng trong tôi. Có lẽ đó là lý do vì sao tôi vẫn nhớ như in cảm xúc đầu tiên ấy, và dần dần, tôi nhận ra mình có cảm tình với mùa Thu ở Washington.