Dưới Cội Bóng Râm

20/06/202020:35(Xem: 11923)
Dưới Cội Bóng Râm

nuoc-mac-me-hien
DƯỚI CỘI BÓNG RÂM

 

Mẹ ơi ! nỗi cảm niềm thương

Con về thăm lại mảnh vườn ngày xưa

Vu Lan, hoa nở dậu thưa

Hương thơm biết mấy nắng mưa tạo thành

Đây rồi, gốc khế gốc chanh

Ươm trời vào đất cho xanh thuở nào.

Bàn tay mẹ xới mẹ cào

Hoai hoai gió thổi bên rào mồng tơi.

Một thời,  nhác học ham chơi

Thương con mẹ dạy những lời đằm sâu

Đêm đêm vọng tiếng kinh cầu

Tuy nghèo cơm áo mà giàu nghĩa nhân.

Dạy con một chữ chuyên cần

Hái rau, gánh củi, xoay vần tháng năm.

Con ngồi dưới cội bóng râm

Như nhìn thấy mẹ về thăm mảnh vườn.

 

DOÃN LÊ

 


Me Hien 
DƯỚI CỘI BÓNG RÂM

 

Mẹ vắng, lữ khách tha phương trở lại quê nhà, với bao nhiêu “nỗi cảm niềm thương” người mẹ hiền xưa khôn tìm thấy nữa. May mà làng cũ quê xưa hãy còn đấy mảnh vườn của mẹ.

            Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu, trở lại quê nhà, thấy được vườn xưa là như thực thấy mẹ hiền:

Mẹ ơi ! nỗi cảm niềm thương

Con về thăm lại mảnh vườn ngày xưa

Vu Lan, hoa nở dậu thưa

Hương thơm biết mấy nắng mưa tạo thành

Đây rồi, gốc khế gốc chanh

Ươm trời vào đất cho xanh thuở nào.

Đấy là thơ “Mẹ Quê” của nhà thơ Ngô Cang      

Nhưng khu vườn ấy, hoa thơm quả ngọt ấy và hình tượng người mẹ, dù đích thực là bà mẹ của Ngô Cang, nhưng được khắc họa vào thơ thì đã trở thành bà mẹ chung của mọi người. Ôi! Bao dạn dày mưa nắng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, biết bao bà mẹ Việt Nam đã từng:

Bàn tay mẹ xới mẹ cào

Hoai hoai gió thổi bên rào mồng tơi.

Chính những người mẹ lam lũ một nắng hai sương, với tình thương con bao la bàng bạc biển đông, những “chuối ba hương những xôi nếp một”, lại thừa năng lực, bản lãnh đạo đức làm người, mẹ đã uốn nắn con nên người:

Một thời,  nhác học ham chơi

Thương con mẹ dạy những lời đằm sâu

Đêm đêm vọng tiếng kinh cầu

Tuy nghèo cơm áo mà giàu nghĩa nhân.

Dạy con một chữ chuyên cần

Hái rau, gánh củi, xoay vần tháng năm.

Không phải mẹ khuyên con tự ti mặc cảm giữ lấy phận nghèo. Mẹ chỉ khuyên dù có nghèo cơm thiếu áo, nhưng hãy sống cho chân chất, cho ra hồn, cho có nghĩa, có nhân. Đừng vì khó khăn, nghèo khổ mà đánh mất đạo lý. Tuy trước mắt cơ cực nhưng chịu khó phấn đấu, chuyên cần chăm chỉ  “hái rau, gánh củi…” thì mình vẫn sống được, vẫn tồn tại được. Đó là những lời thật “đằm” thật “sâu” người mẹ đã khắc dấu ấn vào tâm thức vào trái tim người con.

                        Người con cũng đã chí thú ăn nên làm ra khi biết vâng theo lời bảo ban dạy dỗ của mẹ hiền. Nên hôm nay trở về làng cũ vườn xưa là anh tiếp xúc được ngay với ba hồn chín vía của mẹ, hình ảnh mẹ hiền mồn một, rõ nét trong tâm thức anh. Hai câu cuối của bài thơ Mẹ Quê, Ngô Cang đã nói lên điều ấy.

Con ngồi dưới cội bóng râm

Như nhìn thấy mẹ về thăm mảnh vườn.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                      HẠNH PHƯƠNG

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/01/2011(Xem: 4977)
Thầy Ajahn Brahm có lần chia sẻ khi ông mới đến ở tu viện Wat Pah Pong của ngài Ajahn Chah, ông thường được nghe Ngài Ajahn Chah kể một câu truyện về làm thế nào để hái một trái xoài. Tu viện Wat Pah Pong là một vườn xoài. Và theo người ta kể thì những cây xoài ở đây được lấy hạt giống từ chính cây xoài được trồng bởi đức Phật. Vườn xoài lúc nào cũng đầy trái thơm chín chỉ chờ người hái. Nhưng theo lời Phật dạy thì chúng ta không nên leo lên cây hái trái. Và ta cũng không cần phải lấy cây sào vói hái, hay là rung lắc cho trái rụng xuống.
20/01/2011(Xem: 4924)
Đêm im lặng, lắng nghe hương về sáng Mùa xuân tràn, có vạn cánh chim bay Cành mai ngủ vừa giật mình thức giấc...
15/01/2011(Xem: 4917)
Suy cho cùng, kiếp người hay cuộc tu chỉ là những lần ghé lại đâu đó. Nói ở nghĩa nào thì người ta không ai có thể chung thân với một thứ gì miên viễn. Mình không bỏ nó thì nó cũng xa mình. Ta có thể mất nó, vì nhàm chán hay không còn cơ hội nắm níu. Và cái mà ta yêu nhất cũng có nhiều kiểu bỏ ta ở lại mà đi. Hồi xưa bắt chước theo kinh mà nói thì cái gì cũng là bè cỏ qua sông... Giờ có thêm tí tuổi, nhiều lúc nằm ngẫm nghĩ một mình, thấy câu nói ví von đó hay quá chừng, hay đáo để.
14/01/2011(Xem: 5207)
Cách đây hơn một tuần, trong lúc chuẩn bị nấu nước pha trà buổi sáng, tự dưng lòng tôi nhớ quay quắt những chén trà năm xưa tôi đã từng chia sẻ với Thầy Tâm Phương trong những buổi sáng tĩnh lặng tại ngôi chùa nghèo Quảng Đức ở Broadmeadows. Tôi đã vội gọi Thầy Tâm Phương và hết sức may mắn Thầy vẫn còn nhớ tên tôi..dù rằng Thầy đã quên mất giọng nói quen thuộc của tôi rồi! Thầy rất mừng vì nghe được qua một số Phật tử biết cuộc sống của tôi lúc nầy an nhàn lắm. Tôi thưa với Thầy về cuộc đời hưu của tôi mấy năm gần đây cũng như nói với Thầy là tôi thèm vô cùng được cùng Thầy nhâm nhi lại những chén trà xưa!
14/01/2011(Xem: 4665)
Tôi trở về Huế với một tâm trạng nôn nao bồi hồi! Ba mươi năm sau mới nhìn lại Huế thân yêu, nơi đã cho tôi mật ngọt của ngày mới lớn. Phi trường Phú Bài vẫn vậy, vẫn u buồn ảm đạm dù đã trải qua bao tháng năm cũng chẳng rộng lớn gì hơn. Đã thế, tôi đặt chân xuống phi trường khi trời đã về chiều nên quang cảnh càng hiu hắt thê lương.
07/01/2011(Xem: 5374)
Chuyện Tiền thân Bahiya (Jàtaka 420) kể lại rằng : “Thuở xưa, khi vua Bramadatta trị vì ở Ba-la-nai, Bồ-tát là một vị đại thần của triều đình. Có một nữ nhân thôn quê thân thể béo mập, ăn mặc lôi thôi, làm công ăn lương, đang đi ngang qua gần sân của nhà vua, cảm thấy thân bị bức bách ngồi xuống lấy áo đắp che thân, giải toả sự bức bách của thân và nhanh nhẹn đứng dậy”.
06/01/2011(Xem: 9073)
Tôi và chị chưa hề một lần gây thù chuốc oán với nhau. Vậy mà không hiểu sao ngay từ ngày chạm mặt đầu tiên ở trụ sở Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh, bỗng dưng tôi thấy ghét chị thậm tệ. Và nhìn ánh mắt, vầng trán nhăn nhíu, điệu bộ của chị khi đứng gần tôi vào lúc cuộc họp chuẩn bị khai mạc, tôi cảm nhận, thấy biết được chắc chắn rằng chị cũng chẳng ưa gì tôi, có thể là ghét cay ghét đắng tôi, còn hơn cái mức mà tôi ghét chị. Sao kỳ vậy? Đố kỵ tài năng sao? Không phải.
05/01/2011(Xem: 4607)
Tôi sinh ra và trải qua những ngày tuổi thơ ở Huế. Như vậy cũng đủ để tôi tự hào đã chia sẻ cùng Huế với tất cả những thủy chung của lòng mình. Thế rồi, tôi cũng phải xa Huế đã 30 năm, quê hương đó vẫn rạng ngời trong tâm tưởng. Huế dấu yêu ơi! có bao nhiêu điều phải nhớ: thời thơ ấu ấm áp trôi đi, tuổi học trò thần tiên trong ngôi trường màu hồng ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm cùng với dấu chân của những chàng trai thích đón đưa mỗi khi tan trường. Tôi với Huế biết bao tình thương mến, mỗi con đường, mỗi dòng sông, núi đồi, lăng tẩm, thành quách, chùa chiền là của Huế, là của tôi... Mặc dầu phải tất tả trong dòng đời xuôi ngược và biết rằng Huế là xứ sở thật kỳ, ở thì có điều không ưa nhưng đi xa thì lại nhớ, trong tôi vẫn chan chứa nỗi niềm với Huế. Nói như ai đó: "nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ Huế", nỗi nhớ thấm vào máu thịt, sâu lắng vào tâm hồn của những kẻ tha hương lòng vẫn bùi ngùi mỗi khi nhớ đến và chỉ muốn quay về!
04/01/2011(Xem: 6023)
Bạt: Bài viết “Phật giáo, một sự thực tập” dưới đây là bài đầu tiên trong tập hợp năm bài viết đã được phổ biến trên nguyệt san Triết học (Filosofie), 2004-2005. Đây là những tiểu luận về Phật giáo nhìn từ phương Tây, được viết từ bối cảnh của một truyền thống Phật giáo rất mới, được gọi là Phật giáo Tây phương. Tác giả, tiến sĩ Edel Maex là một nhà tâm lý trị liệu làm việc ở bệnh viện Middelheim tại Antwerpen, Bỉ. Ông là một trong những người sáng lập và ở trong ban điều hành của Trường Triết học Tỉ giảo (School voor comparatieve filosofie) ở Antwerpen. Ông là một người thực tập Thiền.