Đâu Là Hạnh Phúc?

31/10/201910:10(Xem: 8764)
Đâu Là Hạnh Phúc?

duc phat thuyet phap
Đâu Là Hạnh Phúc?


Vào ngày 4/6/2018,  nhà vẽ kiểu túi xách Kate Spade/ Kate Valentine thành công với tài sản ước lượng 200 triệu Mỹ Kim, bà đã treo cổ tự tử ở trong phòng riêng, để lại một tuyệt mệnh thư cho con gái, trong khi chồng ở một phòng khác. Điều này cho thấy “Thành công và tăm tiếng chưa chắc đã ngăn ngừa được sự buồn nản, chán đời”  (Kate Spade's suicide is proof that money and fame can't deter depression).

            Đúng vậy, càng thành công, càng danh vọng càng lo. Lo vì ngày mai còn giữ được như vậy không? Ngày mai hàng bán ế thì sao? Rồi vài chục triệu đầu tư vào chứng khoán có thể mất tiêu trong vòng vài tiếng đồng hồ …cả trăm thứ lo, dồn dập tới khiến mất ăn, mất ngủ, nản chí rồi đâm chán đời và tự tử chết. Ôi tiền tài và danh vọng! Không có nó thì thèm khát. Có nó rồi lại chán đời. Tiền tài, danh vọng là đóa thơm ngát nhưng coi chừng trong mùi hương của nó có chất độc!

Trong khi đó, mới đây đài truyền hình Mỹ ở California có phỏng vấn một cô gái Mỹ Da Trắng khá xinh đẹp, khoảng 20 tuổi, hỏi lý do tại sao cô lại sống cuộc đời không nhà không cửa, chui rúc ở khu vô gia cư căng lều dài cả cây số ở Anaheim, Nam California như vậy? Cô trả lời rằng cô không muốn bị ràng buộc và lo lắng bởi tiền nhà, tiền bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cộ, cuộc sống không tự do khi phải đi làm…Dĩ nhiên ta bùi ngùi thương cảm cho một cuộc đời như vậy. Thế nhưng cô gái lại cảm thấy hạnh phúc và không mong muốn gì cả khi được hỏi cô nghĩ gì về tương lai. Hai hình ản thật tương phản. Một người trong tay có cả 200 triệu lại chán đời treo cổ chết. Còn một người không một đồng xu dính túi, lang thang không cửa không nhà lại thấy hạnh phúc. Như vậy hạnh phúc ở đâu?

Chúng ta sẽ là một người “ngủ trên mây” nếu chúng ta nói rằng một một gia đình giàu có, hay quyền cao chức trọng, vợ chồng xứng đôi vừa lứa, con cái thành đạt…là cuộc sống ngụp lặn trong đau khổ.

Chúng ta cũng sẽ là một người thiếu hiểu biết nếu chúng ta nói rằng một người từ bỏ cả gia đình, vợ con, quyền cao chức trọng, gia tài bạc tỷ…để theo Phật sống đời dưa muối… là điên khùng, ngu dại.

Như thế hạnh phúc là sự lựa chọn của mỗi người. Nếu chúng ta ở trong cung vàng điện ngọc mà thấy hạnh phúc… thì đó là hạnh phúc.

Còn nếu chúng ta từ bỏ cung vàng điện ngọc để sống đời như một kẻ ăn mày như Đức Phật  mà thấy hạnh phúc…thì đó là hạnh phúc.

Từ những dẫn chứng kể trên chúng ta thấy vật chất không phải là điều kiện duy nhất hay ắt có để có một cuộc sống hạnh phúc. Mà hạnh phúc hay không tùy Tâm mình.

            Đạo Phật là một triết lý Trung Đạo. Phật Giáo không phủ định giá trị của vật chất nhưng cũng không khẳng định giá trị của vật chất. Đối với hàng Phật tử sơ cơ Đức Phật dạy về sự thống ngự của khổ đau (Khổ Đế), nguyên do của khổ đau (Tập Đế), sự diệt khổ (Diệt Đế) và phương pháp diệt khổ (Đạo Đế). Thế nhưng khi giảng dạy cho hàng đại bồ tát, hàng đại sĩ như Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thì Đức Phật lại nói, “Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo”. Chân lý tối thượng của Phật trong Bát Nhã Tâm Kinh là: Khổ đau và hạnh phúc trong cuộc đời này chỉ là một. Tùy theo tâm mình mà nó là khổ đau hay bất hạnh. Lấy nước làm thí dụ: Nước cho ta nguồn sống, tắm gội tươi mát, du ngoạn trên sông hồ biển cả. Nhưng cũng chính nước đó sẽ là thảm họa vì nó có thể gây lụt lội, sóng thần và rất nhiều người chết đuối dưới nước. Chân lý “bất nhị” này cũng được Đức Phật giảng dạy cho các hàng Đại Bồ Tát trong Kinh Viên Giác khi Đức Phật nói rằng, “Chúng sinh (luân hồi, thống khổ) và quốc độ (an vui giải thoát) đều đồng một pháp tánh. Địa ngục, cung trời đều là Tịnh Độ”.

Từ  chân lý Phật “không hai” hay “bất nhị” này:

-Chúng ta chúc mừng những người quyền cao chức trọng mà sống trong  hạnh phúc.

-Chúng ta chúc mừng những ông tỷ phú, triệu phú ngồi trên đống vàng đống bạc mà thấy hạnh phúc.

-Chúng ta chúc mừng những cô lấy được những ông chồng giàu sang, phú quý mà thấy hạnh phúc.

-Chúng ta chúc mừng các cậu lấy được các tài tử điện ảnh, ca sĩ, người mẫu, hoa hậu, á hậu…đẹp như tiên nga giáng thế…mà thấy hạnh phúc.

-Chúng ta chúc mừng tất cả những ai cố gắng vươn lên bằng trí tuệ hay bằng mồ hôi nước mắt để đạt được danh tiếng, tiền bạc và thấy đó là mục tiêu tối hậu đẹp nhất của cuộc đời.

-Chúng ta chúc mừng cho những ai đang hưởng lạc thú tuyệt vời với rượu chè, cờ bạc, xác thịt, cao lương mỹ vị, kể cả xì-ke ma túy…mà thấy hạnh phúc.


Thế nhưng chúng ta cũng thán phục và ngưỡng mộ những ai:

-Đã dám bỏ gia tài bạc tỷ để xuất gia sống đời dưa muối và thấy đây mới là hạnh phúc tuyệt vời.

-Những người dám từ bỏ, vợ đẹp con khôn, gia đình êm ấm để tìm một cuộc sống của kẻ ăn xin trong tăng đoàn để mưu cầu hạnh phúc cho chính mình và tìm cách hóa độ chúng sinh, coi cả chúng sinh trong thế gian này như gia đình thân yêu.

-Chúng ta thương cảm và ngưỡng mộ ni cô là những cô gái đã cắt bỏ mái tóc xinh đẹp của mình, sống đời không son phấn, không mỹ phẩm, không xâm trổ để vẽ lại lông mày lông mi, không mỹ viện để sửa sang sắc đẹp, thân hình hầu hấp dẫn phái nam và rất hãnh diện vì vẻ đẹp của mình. Ngày nay “hồng nhan” không còn “đa truân” nữa. Mà sắc đẹp là vũ khí lợi hại để thăng tiến và vinh hoa trong cuộc đời. Những ni cô/ni sư này tìm thấy cái gì đây? Phải chăng chỉ là cuộc sống nội tâm bình an, thanh tịnh và hạnh phúc?

-Sau hết, chúng ta ngưỡng mộ và cảm thông cho những ai sống cảnh đời nghèo khó mà không đua chen, ghen ghét với đời, tâm tính thảo ngay, nghèo khó mà lương thiện. Những người này đã theo triết lý “An bần lạc đạo” thật đáng quý.

 Song những gì tôi nói trên đây chỉ là cố gắng rất vụng về để diễn giải chân lý Tối Thượng Thừa của Phật. Chân lý Tối Thượng Thừa này cũng chính là trí tuệ Bát Nhã và cũng là Viên Giác Thanh Tịnh.

Thế nhưng dù chúng ta có nói như thế nào đi nữa thì thế giới này vẫn cứ đầy rẫy khổ đau. Kẻ hưởng hạnh phúc chẳng bao nhiêu mà người rên xiết vì nỗi khồ phải kể hàng tỷ, hàng tỷ. Sẽ có một sự tranh cãi tới muôn ngàn năm nữa là: Hạnh phúc là tạo ra của cải vật chất và ban tặng của cải vật chất ấy cho mọi người. Hay hạnh phúc là “tri túc thiểu dụng”, giảm bớt những ham muốn của con người? Ngày nay một số rất đông đang đi theo con đường thứ nhất và một số rất ít đi theo con đường thứ hai.

 

Việc treo ấn từ quan, tìm nơi thâm sơn cùng cốc để xa lánh đời, ngao du sơn thủy, ngâm thơ vịnh nguyệt của bao danh sĩ, tể quan đời Đường …không phải không có cái lý của họ. Nhân loại tiến từ thời ăn lông ở lỗ tới du lịch Hỏa Tinh và Mặt Trăng nhưng vẫn chưa tìm ra câu trả lời, “Đâu là hạnh phúc? Và sống thế nào là hạnh phúc?”

Chúng ta không cực đoan để khích lệ một cuộc sống “yếm thế” như các danh sĩ đời Đường. Thế nhưng muốn có cuộc sống hạnh phúc mà không treo cổ hay bắn vào đầu tự sát…chúng ta phải thấy vạn vật này vốn Vô Thường- có đó rồi mất đó: Cam kết rồi bội phản, hứa rồi bội hứa, yêu nhau kết hôn rồi biến thành oan gia trái chủ, bạn biến thành thù, sắc đẹp mĩ miều hấp dẫn ngày hôm nay, ba mươi năm sau biến thành da mồi, tóc bạc, lời yêu ngày hôm nay vài năm nữa có thể biến thành lời đay nghiến.

Do đó khi chúng ta có danh vọng, tiền bạc, tình yêu thì phải hiểu rằng nó cũng như “gió thoảng mây bay”, có đó, mất đó, được đó mất đó…cho nên phải chuẩn bị cho ngày trắng tay hoặc quyền lực mất hết, hoặc người yêu phản bội. Sống như thế là sống theo đạo, tức ung dung tự tại, tức trong khổ đau mà ta có hạnh phúc.

Cuối cùng xin mọi người hãy nhớ “Hạnh phúc và khổ đau chỉ là một”.


Thiện Quả Đào Văn Bình

(California ngày 30/10/2019)



 



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/08/2018(Xem: 9834)
Trong bài Đôi dòng cảm nghĩ về cuốn Võ Nhân Bình Định của Quách Tấn và Quách Giao do nhà xuất bản Trẻ phát hành vào năm 2001, Giáo sư Mạc Đường, nguyên viện trưởng viện Khoa Học xã hội TP.HCM có cho biết rằng, họ Quách, mặc dù ông tổ vốn dòng Mân Việt nhưng không chịu sống dưới chế độ Mãn Thanh nên đã rời bỏ Trung Quốc di dân sang Việt Nam. Đến thế hệ Quách Tấn và con là Quách Giao đã trên 300 năm. Vì sống tại Tây Sơn đã nhiều thế hệ “ nên họ Quách có biết dược nhiều sự kiện lịch sử ở địa phương. Nhất là thời đại Tây Sơn và phong trào Cần Vương. Gia phả của họ Quách đều có ghi lại các sự kiện lịch sử quan trọng này.
26/08/2018(Xem: 5221)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ. Tuần trước, rừng ở quận hạt lân cận bị cháy suốt mấy ngày khiến bầu trời mù mịt khói đen, nắng không xuyên qua được, chỉ ửng lên cả một vùng trời màu vàng nghệ lạ thường. Nay thì trời trong không một gợn mây. Bầy quạ đen lại tranh nhau miếng mồi nào đó, kêu quang quác đầu hè. Rồi im. Bầy chim sẻ đi đâu mất dạng gần một tháng hè gay gắt nắng. Bất chợt, có con bướm cánh nâu lạc vào khu vườn nhỏ. Và gió từ đâu rung nhẹ những nhánh ngọc lan đang lác đác khai hoa, thoảng đưa hương ngát hiên nhà. Phép lạ đã đến. Gió đầu thu.
20/08/2018(Xem: 6727)
Đọc “Đường vào luận lý” (NYÀYAPRAVESA) của SANKARASVAMIN (Thương Yết La Chủ), Cầm quyển sách trên tay độ dày chỉ 290 trang khổ A5 được nhà xuất bản Hồng Đức tại Việt Nam in ấn và do Thư Viện Huệ Quang ở Sài Gòn phát hành, lại chính do Giáo Sư Lê Tự Hỷ ký tặng sách giá trị nầy cho chúng tôi vào ngày 14 tháng 7 năm 2018 nầy, nên tôi rất trân quý để cố gắng đọc, tìm hiểu cũng như nhận định về tác phẩm nầy.
15/08/2018(Xem: 12365)
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.
13/08/2018(Xem: 5621)
Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức. Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.
11/08/2018(Xem: 17320)
Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang. Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến… Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.
09/08/2018(Xem: 12630)
Nghĩ Về Mẹ - Nhà Văn Võ Hồng, Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: "Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai" mày sáng đi mà chiều về, "tắc ngô ỷ môn nhi vọng" thì ta tựa cửa mà trông. "Mộ xuất nhi bất hoàn" chiều đi mà không về, "tắc ngô ỷ lư nhi vọng" thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
09/08/2018(Xem: 8755)
sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại. Tôi thì thầm hỏi Nhung: --Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại? Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ: --Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan. Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
06/08/2018(Xem: 10617)
Miền đất võ Bình Định cũng là miền đất Phật, miến “Đất LànhChim Đậu”, được nhiềuchư thiền Tổ ghé bước hoằng hóa và chư tôn thiền đức bản địa xây dựng mạnh mạch Phật đạo từ trong sâu thẳm, qua nhiểu giai đọan, thời gian, đã xây dựng nên hình ảnh Phật giáo Bình Định rạng rở như ngày hôm nay. Đặc biệt trước tiên có thể kề đến Tổ Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 ), Hòa thượng Thích Phước Huệ ( 1875 – 1963 ), Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải ( 1876 – 1950 ), v…v…Nêu chúng ta tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần ( 1619 – 1682 ), khi Tổ Nguyên Thiều từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang An Nam và an trú ở Quy Ninh (tức Bình Định ngày nay) vào năm Ất Tỵ (1665 ) và kiến tạo chùa Thập Tháp Di Đà , thí Phật giáo Bình Định đã thực sự bước vào trang sử chung trong công cuộc hoằng hóa của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Tổ Nguyên Thiều còn là cầu nối giữa Phật giáo hai nước An Nam và Trung Hoa, trao đổi nhiều kinh điền có giá trị để cùng nhau tu học. Điều này cho thấy, lý tưởng Từ Bi và con đường hoằng
05/08/2018(Xem: 4716)
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã mấy chục năm theo bốn mùa thay lá thay hoa và đời riêng của mỗi người có quá nhiều đổi thay. Ngồi nhớ lại những kỷ niệm thời còn đi dạy trường Sương Nguyệt Anh, biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn ngập tràn làm xao xuyến cả tâm tư! Hình ảnh buổi lễ bế giảng năm học 1978 bỗng rõ lên trong ký ức tôi như một đóm lửa nhóm trong vườn khuya. Năm đó tôi dạy tới ba bốn lớp 12, lớp thi nên cả Thầy trò mệt nhoài. Không đủ giờ ở lớp nên nhiều khi tôi phải vừa dạy thêm vào sáng Chủ Nhật, vậy mà các em vẫn đi học đầy đủ. Tới ngày bế giảng Cô trò mới tạm hoàn tất chương trình, như trút được gánh nặng ngàn cân ! Hôm đó, tôi lại được Ban Giám Hiệu phân công trông coi trật tự lớp 12C1, có nghĩa là phải quan sát bắt các em ngồi ở sân trường phải yên lặng chăm chú theo dõi chương trình buổi lễ, nghe huấn từ của ban Giám Hiệu.