Duyên và Nợ

23/01/201910:09(Xem: 11347)
Duyên và Nợ
phat thuyet phap
Duyên và Nợ


Trong kho tàng văn chương truyền khẩu hay huyền thoại Việt Nam đã có nhiều chuyện duyên-nợ. Chẳng hạn chuyện tích Mưa Ngâu mà dân gian đã có thơ truyền tụng:
Tục truyền Tháng Bảy mưa ngâu.
Con Trời lấy đứa chăn trâu cũng phiền.
Một rằng duyên hai là rằng nợ.
Sợi xích thằng ai gỡ cho ra.

Chức Nữ con Trời, chuyên ngồi dệt lụa trong cung cấm mà lấy phải anh chàng chăn trâu thì đúng là chướng duyên hay nợ từ kiếp trước. Rồi chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung Công Chúa. Tiên Dung Công Chúa con Vua Hùng thứ 18 đáng lý ra phải lấy một hoàng tử đẹp trai mới gọi là lương duyên chứ. Thế tại sao lại lấy một anh chàng nhà nghèo không có khố để mang? Cái này rõ ràng là nợ và làm vua cha buồn lòng.
Thế nhưng Tiên Dung Công Chúa là người thông minh tuyệt vời và hiểu rằng đời này làm gì có sang hèn. Công chúa con vua, vua bị truất phế, ngày mai ra chợ bán rau là lẽ thường. Còn Chử Đồng Tử lại là một Phật tử cho nên hai người đã biến nợ thành mối lương duyên , đẹp lòng cả vua cha, đẹp lòng nhân gian và còn lưu truyền mãi tới ngày nay.

duyen no
Nhân gian thường không hiểu trong Duyên có Nợ và trong Nợ có Duyên cho nên đã tách biệt Duyên và Nợ. Theo dân gian thì:     
 
1) Nợ là gặp nhau, lấy nhau để đem lại khổ đau, phiền não cho nhau, chẳng hạn như: Mắng chửi, đánh đập, ghen tuông, hành hạ nhau, phá nát tài sản. Nếu là con cái thì lêu lổng, trộm cướp, nghiện ngập xì-ke ma túy, cuối cùng ngồi tù làm khổ cha mẹ, anh chị em. Nợ có nhiều thứ như:
- “Nợ đồng lần” là nợ từ thế hệ này sang thế hệ kia. Thí dụ: Ông bà phải nuôi cha mẹ chúng ta. Cha mẹ chúng ta phải nuôi chúng ta. Rồi chúng ta phải nuôi con. Con chúng ta lại phải nuôi cháu chúng ta. “Nợ đồng lần” cũng có nghĩa là nợ truyền kiếp từ đời này sang đời kia. Thú thực mà nói, ngày nay sau khi học Phât,  nhìn thấy cô gái mang thai tôi thương cảm vô cùng. Có con thì vui đó, nhưng biết bao trách nhiệm, bao gian nan, bao cực nhọc để nuôi con. Khi con khôn lớn chưa chắc đã báo đáp công ơn cha mẹ. Đúng là “nợ đồng lần” của kiếp người.
-“Nợ đời” tức là phải nai lưng ra phục vụ cho đời vô cùng cực nhọc. “Nợ đời”cũng có nghĩa là “kiếp người phải thế”. “Kiếp tằm phải nhả tơ” cũng nằm trong ý này.
-“Nợ áo cơm”. Đã sinh ra thì phải sống. Muốn sống phải có áo cơm. Muốn có áo cơm phải làm việc vất vả, buông ra thì chết, giống như món nợ vậy. Bình minh vừa  ló dạng, con chim phải rời tổ để đi kiếm ăn. Nhìn cánh chim bay lượn trên trời chúng ta ước ao được như chim nhưng có biết đâu nó đang hối hả để kiếm mồi, không có miếng ăn thì chim sẽ đói và chết. Loài vật cũng “nợ áo cơm” như chúng ta.

2) Duyên là gặp nhau để đem lại sự tốt đẹp và hạnh phúc cho nhau. Duyên có “lương duyên” và “duyên trời”. Trai gái lấy nhau gọi là “kết duyên”.
-Tuy nhiên cũng có những thứ duyên không tốt như “vô duyên”. “Ăn nói vô duyên” tức nói lạc lõng không ăn nhập gì tới chuyện đang bàn.
-Rồi “vô duyên đối diện bất tương phùng”. Vô duyên ở đây có nghĩa là không tâm đầu ý hợp, không cùng một tần số, chỏi lại nhau. Khi đã “vô duyên” rồi thì, ngồi cùng bàn, ở cùng phòng, ăn cùng mâm cũng không thèm nói chuyện với nhau.  Còn xa tít mù khơi nếu tâm đầu ý hợp thì gọi điện thoại, gửi điện thư, lời nhắn liên miên, tâm sự cho thỏa thích.
-Rồi “vô duyên” còn có nghĩa là không thích, không mến, không hấp dẫn. Chẳng hạn như nói, “Tôi vô duyên với đá bóng.” Điều này có nghĩa là dù tôi đã tập đá bóng nhiều lần nhưng cuối cùng đá bóng không phải là sở trường, sở thích của tôi.
-Còn “có duyên” tức là không đẹp lắm nhưng nhìn dễ ưa, dễ mến. “Ăn nói có duyên” là ăn nói vui vui mà hợp lòng người.
-“Có duyên” còn có nghĩa là thích, thích hợp, gắn bó. Chẳng hạn như nói, “Tôi có duyên với Phật pháp.” tức Phật pháp hợp với tôi, dù chỉ nghe qua một vài lần tôi đã hiểu và tin theo.
-Duyên còn có nghĩa là  “do run rủi”, do tình cờ mà gặp nhau, do hoàn cảnh đẩy đưa. Thí dụ: Cùng đi thi, cùng gặp nhau trong một chuyến du lịch, trong một tiệc cưới, trong một ngày hội, cùng học một trường. Cụ Nguyễn Khuyến trong bài thơ khóc Cụ Dương Khuê đã gọi chuyện hai người kết bạn với nhau là “duyên trời” qua câu thơ, “Trong cơn gặp gỡ biết đâu duyên trời”.
-Có một thứ duyên rất tức cười là “duyên con bò”. Tức gặp nhau thì mừng rỡ, thương mến, nhưng sau đâm ra cãi cọ nhau tối ngày, xung đột rồi chia tay.
-Rồi “duyên kiếp” tức do số phận lôi kéo phải ăn ở với nhau suốt đời nhưng không ưng ý. Trong các bản nhạc Bolero ủy mị thường thấy người ta khóc than “duyên kiếp bẽ bàng” rồi có khi “duyên thừa” nữa!
-Rồi “duyên phận” là người ta thì tốt, còn mình thì hẩm hiu, như lấy phải chồng xấu, chồng nghèo, vợ xấu vợ nghèo.
-Duyên còn có thể định nghĩa là “điều kiện”hoặc “hoàn cảnh bên ngoài” để hai sự kiện, hai cá nhân gặp gỡ và tác động vào nhau. Trong hóa học có thể gọi “duyên” là chất xúc tác. Trong Đạo Phật có Thập Nhị Nhân Duyên để giải thích mọi nguyên do của khổ đau, sinh tử luân hồi và vạn pháp trong cõi Ta Bà này.
-Rồi phước duyên có nghĩa là trong cuộc đời này gặp tai nạn, khổ đau, bất ưng muốn tự tử chết cho rồi, may gặp thiện tri thức, tăng/ni chỉ bảo cho, bỗng đại ngộ, thay đổi cả cuộc đời và tìm thấy hạnh phúc.

duyen no 2

            Theo quan niệm của người đời thì duyên là duyên, nợ là nợ và không thể nào nợ thành duyên. Chẳng hạn không có chuyện chủ nợ đến đòi nợ lại vui vẻ, tha thứ cho con nợ. Nếu không trả nợ thì phải truy tố ra tòa hoặc có thể mướn sát thủ đòi nợ thuê để thanh toán.
Thế nhưng theo Đạo Phật thì: Nếu trong sinh đã có tửtrong vui đã có buồntrong ngày đã có đêm, thì trong duyên đã có nợ và trong nợ đã có duyên. Tất cả đều do Tâm mình mà ra. Thí dụ:
-Một đôi trai gái xứng đôi vừa lứa lại, đẹp đẽ, giàu có, danh vọng, yêu nhau say đắm, rồi lấy nhau, đám cưới linh đình như đám cưới của hoàng gia. Báo chí, truyền hình loan tải, cả triệu triệu thanh niên thiếu nữ thèm khát. Đây đúng là duyên trời, là hạnh phúc tuyệt vời của thế gian. Thế nhưng chỉ vài năm hay vài tháng đã đưa nhau ra tòa rồi ly dị vì không chịu nổi nhau do: Lối sống khác nhau, sở thích khác nhau, món ăn khác nhau, bạn bè giao du khác nhau, cách nuôi dạy con cái khác nhau, trình độ hiểu biết khác nhau. Bà tối ngày trưng diện, sơn móng tay, quần áo mới mặc một lần đã quăng bỏ, giày dép, túi xách, nữ trang sắm không biết mệt… và cả trăm thứ khác nhau khiến cãi cọ liên miên, coi nhau như thù địch và… chia tay. Như vậy câu chuyện tình khởi đầu là lương duyên, trong chớp nhoáng đã biến thành nợ. Trong Tam Quốc Chí, ba anh em Lưu-Quan-Trương gặp nhau tâm đầu ý hợp kết nghĩa đệ huynh để mưu đồ đại sự, đúng là duyên trời. Thế nhưng cam kết “đồng sinh, đồng tử” không thể nào thực hiện được đã biến duyên trời thành món nợ vô cùng rắc rối, phá hỏng sự nghiệp của Lưu Bị khi Quan Vân Trường bị Lữ Mông chém đầu. Nếu Lưu Bị không cất quân báo thù cho Quan Vân Trường theo lời van xin, thúc ép của Trương Phi thì là kẻ bất nghĩa, phản lời thề. Mà cất quân đánh Đông Ngô thì vô cùng bất lợi, tai hại cho đại cuộc. Cho nên trong đời này chúng ta chớ vội mừng khi gặp mối lương duyên và chớ vội buồn khi chúng ta gặp “của nợ”. Quỷ Vô Thường của cuộc sống này sẽ biến Nợ thành Duyên và Duyên thành Nợ trong chớp nhoáng.
-Một đôi trai gái do hoàn cảnh éo le nào đó đã phải lấy nhau, thật không ưng ý, đúng là của nợ. Thế nhưng người vợ hay người chồng do được biết tới Phật pháp đã thực hành hạnh yêu thương và nhẫn nhục để biến thực tại không ưng ý thành hạnh phúc. Họ biết chịu đựng nhau, biết giúp đỡ, an ủi và hiểu nhau…cuối cùng thì hai người đã tìm thấy hạnh phúc. Tôi đã có dịp xem một chương trình truyền hình trên đài Fox News lớn nhất nước Mỹ.  Khi họ hỏi một người đàn bà Mỹ khá thành công là tại sao bà luôn luôn sống hạnh phúc. Câu trả lời đơn giản và đầy bất ngờ là, “Tôi hạnh phúc là vì tôi không tranh cãi hay xung đột với chồng tôi. Hễ ông ấy thích cái gì thì tôi thích cái nấy.”
Bạn ơi,
Chúng ta có vạn cách để làm cho người ta ghét mình.
Và chúng ta cũng có cả ngàn cách để người ta yêu thương, quý trọng mình.
Vậy thì,
Trong đời này,
Nếu may mắn có Duyên rồi thì hãy củng cố và giữ gìn Duyên ấy.
Hạnh phúc không phải là chuyện tự nhiên hay trên trời rơi xuống.
Mà do nỗ lực, cảnh giác, vun đắp từng ngày.
Xin bạn nhớ cho,
Cái gì cũng có thể bị Quỷ Vô Thường lấy đi.
Cho nên phải uyển chuyển để đối mặt với nó.
Còn nếu như bạn mắc Nợ,
Thì xin bạn công bằng mà trả nợ.
Nhưng hãy trả bằng hạnh nhẫn nhục và vị tha.
Bạn sẽ từ từ sẽ biến Nợ thành Duyên.
Qua câu chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung Công Chúa,
Nếu bạn là con gái của đại gia,
Lấy phải anh chàng nghèo xơ xác.
Chưa chắc đó là nợ,
Mà có thể là mối lương duyên.
Còn bạn hào hoa, đẹp trai, học giỏi.
Lấy phải “cô bé lọ lem”.
Coi chừng đó lại là mối tình hoa mộng.
Bởi vì biết đâu trong đời bạn “lên voi xuống chó”.
Mà “cô bé lọ lem” đó vẫn còn yêu bạn.
Thì đây chính là người tình chung thủy tuyệt vời.  
Thế thì,
Duyên và Nợ cùng chung một thể.
Do tâm mình biến hiện mà thôi.
Khi bạn yêu thì đó là duyên.
Khi bạn ghét và không ưng thì đó là nợ.
Nếu bạn hiểu được như thế.
Thì bạn sẽ hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.
Hãy tạm ví dòng sông tuợng trưng cho khổ đau.
Người không biết bơi nhảy xuống đó là cuộc tự sát.
Còn đối với người biết bơi lại là cuộc tắm mát nhẹ nhàng.
Bạn ơi,
Pháp Phật sẽ giúp bạn,
Biến nợ thành duyên,
Biến khổ đau thành hạnh phúc.
Bạn hãy tin như thế.


Đào Văn Bình
(Calfornia ngày 22/1/2019)






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/08/2018(Xem: 5184)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ. Tuần trước, rừng ở quận hạt lân cận bị cháy suốt mấy ngày khiến bầu trời mù mịt khói đen, nắng không xuyên qua được, chỉ ửng lên cả một vùng trời màu vàng nghệ lạ thường. Nay thì trời trong không một gợn mây. Bầy quạ đen lại tranh nhau miếng mồi nào đó, kêu quang quác đầu hè. Rồi im. Bầy chim sẻ đi đâu mất dạng gần một tháng hè gay gắt nắng. Bất chợt, có con bướm cánh nâu lạc vào khu vườn nhỏ. Và gió từ đâu rung nhẹ những nhánh ngọc lan đang lác đác khai hoa, thoảng đưa hương ngát hiên nhà. Phép lạ đã đến. Gió đầu thu.
20/08/2018(Xem: 6653)
Đọc “Đường vào luận lý” (NYÀYAPRAVESA) của SANKARASVAMIN (Thương Yết La Chủ), Cầm quyển sách trên tay độ dày chỉ 290 trang khổ A5 được nhà xuất bản Hồng Đức tại Việt Nam in ấn và do Thư Viện Huệ Quang ở Sài Gòn phát hành, lại chính do Giáo Sư Lê Tự Hỷ ký tặng sách giá trị nầy cho chúng tôi vào ngày 14 tháng 7 năm 2018 nầy, nên tôi rất trân quý để cố gắng đọc, tìm hiểu cũng như nhận định về tác phẩm nầy.
15/08/2018(Xem: 12323)
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.
13/08/2018(Xem: 5612)
Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức. Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.
11/08/2018(Xem: 17280)
Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang. Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến… Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.
09/08/2018(Xem: 12626)
Nghĩ Về Mẹ - Nhà Văn Võ Hồng, Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: "Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai" mày sáng đi mà chiều về, "tắc ngô ỷ môn nhi vọng" thì ta tựa cửa mà trông. "Mộ xuất nhi bất hoàn" chiều đi mà không về, "tắc ngô ỷ lư nhi vọng" thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
09/08/2018(Xem: 8714)
sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại. Tôi thì thầm hỏi Nhung: --Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại? Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ: --Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan. Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
06/08/2018(Xem: 10509)
Miền đất võ Bình Định cũng là miền đất Phật, miến “Đất LànhChim Đậu”, được nhiềuchư thiền Tổ ghé bước hoằng hóa và chư tôn thiền đức bản địa xây dựng mạnh mạch Phật đạo từ trong sâu thẳm, qua nhiểu giai đọan, thời gian, đã xây dựng nên hình ảnh Phật giáo Bình Định rạng rở như ngày hôm nay. Đặc biệt trước tiên có thể kề đến Tổ Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 ), Hòa thượng Thích Phước Huệ ( 1875 – 1963 ), Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải ( 1876 – 1950 ), v…v…Nêu chúng ta tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần ( 1619 – 1682 ), khi Tổ Nguyên Thiều từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang An Nam và an trú ở Quy Ninh (tức Bình Định ngày nay) vào năm Ất Tỵ (1665 ) và kiến tạo chùa Thập Tháp Di Đà , thí Phật giáo Bình Định đã thực sự bước vào trang sử chung trong công cuộc hoằng hóa của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Tổ Nguyên Thiều còn là cầu nối giữa Phật giáo hai nước An Nam và Trung Hoa, trao đổi nhiều kinh điền có giá trị để cùng nhau tu học. Điều này cho thấy, lý tưởng Từ Bi và con đường hoằng
05/08/2018(Xem: 4712)
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã mấy chục năm theo bốn mùa thay lá thay hoa và đời riêng của mỗi người có quá nhiều đổi thay. Ngồi nhớ lại những kỷ niệm thời còn đi dạy trường Sương Nguyệt Anh, biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn ngập tràn làm xao xuyến cả tâm tư! Hình ảnh buổi lễ bế giảng năm học 1978 bỗng rõ lên trong ký ức tôi như một đóm lửa nhóm trong vườn khuya. Năm đó tôi dạy tới ba bốn lớp 12, lớp thi nên cả Thầy trò mệt nhoài. Không đủ giờ ở lớp nên nhiều khi tôi phải vừa dạy thêm vào sáng Chủ Nhật, vậy mà các em vẫn đi học đầy đủ. Tới ngày bế giảng Cô trò mới tạm hoàn tất chương trình, như trút được gánh nặng ngàn cân ! Hôm đó, tôi lại được Ban Giám Hiệu phân công trông coi trật tự lớp 12C1, có nghĩa là phải quan sát bắt các em ngồi ở sân trường phải yên lặng chăm chú theo dõi chương trình buổi lễ, nghe huấn từ của ban Giám Hiệu.
03/08/2018(Xem: 5671)
ĐA TẠ VÀ TRI ÂN Những nhà dịch thuật kinh sách Nam Tông, Bắc Tông và Mật Tông Không hiểu từ bao giờ khi đã bước vào thế giới triết học, khoa học và tôn giáo của Đạo Phật, mặc dù nghe rất nhiều pháp thoại đủ mọi trình độ tôi vẫn không tin có THỜI MẠT PHÁP. Vì sao vậy? Có lẽ lý do tôi biện minh sẽ không được nhiều người chấp nhận, nhưng theo thiển ý của tôi, từ khi nền công nghệ văn minh vi tính hiện đại phát triển, ta không cần chờ đợi một quyển sách được in ra và chờ đợi có phương tiện thích nghi để giữ nó trong tủ sách gia đình, ta vẫn có thể theo dõi qua mạng những bài kinh luật luận được dịch từ tiếng Pali hay Sankrit hoặc những bản Anh Ngữ, Pháp ngữ mà người đọc dù có trình độ học vấn vào mức trung trung vẫn không tài nào hiểu rõ từng lời của bản gốc.