Thư Gởi Thầy

10/05/201817:11(Xem: 5567)
Thư Gởi Thầy


HT Minh Chau2

Thư Gởi Thầy

  

 

Kính Thầy,

Như vậy là Thầy đã thực sự xa lìa cõi trần ai tục lụy nầy hơn một năm rồi mà hình như trong lòng con vẫn không thấy có sự gì thay đổi hay khác biệt giữa mất và còn cũng như xa với gần, lạ và quen…Bởi thế mà hôm nay con mới có bức thư này xin gởi đến Thầy. Con vẫn thấy như còn mãi đó, trước mắt con, dáng dấp của Thầy với chiếc cà sa màu vàng rực, bờ vai trần và nụ cười thật hiền hòa luôn nở trên môi, làm cho khuôn mặt của Thầy càng thêm rạng rỡ.

Con xin nói rõ hơn, dù Thầy không còn nhưng những gì con đã học được từ Thầy, đã được đọc, được nghe, qua những bài giảng dạy, thuyết pháp, những bài báo, bài viết, bài dịch thuật, qua các công trình đóng góp đồ sộ của Thầy mà Thầy đã được trân trọng vinh danh như là ngài Huyền Trang của nước Việt mình, thì trong lòng con, hình ảnh Thầy vẫn mãi sống động, hiển hiện và không bao giờ mất cả.

Con thực sự gặp Thầy lần đầu tiên là khi con bước chân vào khuôn viên trường Đại Học Vạn Hạnh cách đây cũng đã bốn mươi sáu năm rồi, lúc ấy chỉ là một cô sinh viên nhỏ bé vừa tròn mười tám tuổi. Một cô gái vừa mới lớn và từng theo « tây học » khá lâu với các « xơ », thuộc nằm lòng những bài kinh « Lạy Cha », « Kính Mừng Mẹ Maria » được đọc bằng tiếng Pháp, mà theo như thông lệ ở các trường công giáo thì sáng trưa chiều gì cũng phải đứng thẳng người, nghiêm chỉnh đọc một bài kinh khi vào lớp, trước khi được phép ngồi xuống và bắt đầu việc học. Nhưng khi cô gái ấy về nhà thì vẫn hấp thụ được một nền giáo dục của ông bà cha mẹ dựa trên nền tảng của Phật giáo cũng như đạo thờ cúng tổ tiên truyền thống tự ngàn xưa.

Nhờ ảnh hưởng này mà con đã không bị một nửa tây học kia lôi cuốn, ngược  lại con thao thức tìm kiếm một giá trị tâm linh đích thực. Và con đã tìm thấy điều đó khi bước vào ngôi trường đại học Phật Giáo đầu tiên do chính Thầy đã sáng lập và giữ chức viện trưởng. Quả thật con đã vô cùng may mắn, thuở đó, Thầy đã qui tụ được rất nhiều nhân tài, giáo sư giỏi trong nhiều lãnh vực. Con vẫn còn nhớ, lớp của con, ngoài Thầy đảm nhiệm môn Phật học, còn có các Thầy khác như Thầy Mãn Giác, Thầy Nguyên Tánh, các giáo sư khác như Ngô Trọng Anh, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền…

Tuy cũng đã đọc những sách báo viết về Phật Giáo trước đó, nhưng con chỉ thật sự được học hành nghiêm túc khi con vào Vạn Hạnh và chính Thầy với những bài giảng về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên đã xây cho con cái nền tảng vững chắc về giáo lý nhà Phật.

Phải nói vào lớp Thầy thì luôn mang một sự trầm tĩnh và lắng đọng, lời Thầy giảng thì nhỏ nhẹ, từ tốn, chậm rãi, không hấp tấp vội vàng lại thường điểm vào đó những nụ cười hiền lành. Một buổi học với Thầy dường như cũng quá nhẹ nhàng êm ả ! Dường như cuộc đời chỉ là một con sông trôi lặng lờ không gợn sóng ! Dường như tâm hồn con người phải là một tờ giấy trắng phau ! Dường như phong ba bão táp có đến cũng sẽ dừng lại trước cửa lớp ! Dường như buớc qua ngưỡng cửa lớp Thầy là bước vào vùng đất của an nhiên tự tại, tất cả phiền não và âu lo, dằn vặt và thao thức phải được bỏ lại đằng sau !

Nhưng Thầy ơi Tuổi trẻ thì nhiều khát vọng nên không tránh được dằn vặt và thao thức ! Chỉ một năm sau thì cái nửa phần tây học kia của con đã thúc giục con ra đi, bỏ ngôi trường, bỏ Thầy, bỏ bạn !

Con đã ra đi nước ngoài như một tên trộm, lẳng lặng, không một lời từ giã Thầy, từ giã bạn.

Như vậy đó con đã rời xa rất nhiều người. Và khi con quay trở về thì nhiều người con đã không thể tìm lại bóng dáng. Nhiều người đã vĩnh viễn ra đi.

Ôi cái tuổi trẻ nhiều nông nỗi và đáng trách !

Nhưng có điều mà Thầy không hề biết là trước khi ra đi, đến những chân trời xa lạ đó, con đã chép tay trọn cuốn Kinh Pháp Cú của Thầy dịch và luôn giữ bên mình. Trải qua  gần năm mươi năm cuốn kinh đem từ thuở đó đã lưu lạc cùng con khắp bốn phương trời. Ngày nay khi dạy dỗ con cháu con vẫn lấy Kinh ấy làm Kinh căn bản phải chép phải học.

Như vậy thì Thầy hiểu vì sao con nói ở đầu thư là đối với con không có sự khác biệt giữa mất và còn. Thầy hiện diện mỗi khi con nhớ đến cuốn Kinh Pháp Cú của một thời tuổi trẻ nông nỗi của con !

 

Cái dòng sông hiền lành lặng lờ như lớp học của Thầy năm xưa lại không là dòng sông đầy bão táp phong ba của đời con mà con thì như chiếc thuyền trôi dạt ngàn nơi, cho đến một ngày nọ, cách đây cũng phải hơn mười lăm năm rồi, bỗng dưng con được diện kiến Thầy khi thực hành công quả nơi chùa Trúc Lâm tại Pháp. Thật bất ngờ, Thầy và con đều ngạc nhiên tột cùng !

- Uả…chị !... Mà sao chị… đi chùa ?!

Quả tình thầy ngạc nhiên đến mức độ không thể ngờ là gặp lại một cô học trò của hơn ba mươi năm về trước tại một ngôi chùa nơi hải ngoại như thế này.

 

Trước câu hỏi của Thầy thì con chỉ có biết bối rối không tìm ra câu trả lời ! Phải chăng cái chất tây học của con đã lộ ra nơi mặt, không thể dấu diếm hay sao mà Thầy cũng phải đặt câu hỏi « Ồ cái cô sinh viên trẻ tuổi nông nỗi ngày nào, giờ đây cũng biết lên chùa  công quả ư ! "

 

Mười mấy năm trôi qua mà con vẫn không quên buổi hội ngộ đầu tiên, và cũng là cuối cùng, duy nhất, ngắn ngủi và bất ngờ này đồng thời suy gẫm về câu hỏi của Thầy và con tin chắc Thầy không có cái suy nghĩ như con tưởng tượng, thêu dệt, câu hỏi của Thầy chính là một Công Án hết sức sâu sắc, không phải chỉ riêng cho con, mà người nào bước chân tới cửa chùa có lẽ cũng nên một lần tự hỏi «  vì sao tôi đi chùa ? »

Hơn thế nữa, câu hỏi của Thầy lại còn là một câu hỏi rất hợp thời đại và hiện đại. Mọi người nói đến «  Văn hóa đi chùa  », kêu gọi « Đi chùa đúng Chánh Pháp » như vậy là vì đã có những hành vi đi chùa thiếu văn hóa và không thực sự đúng như Chánh Pháp.

Nếu mỗi người chịu khó tìm hiểu mình, soi gương mình  trong câu hỏi « Vì sao tôi đi chùa ? » Để thấy rõ mình muốn gì ước gì mong gì cầu gì…có lẽ cũng sẽ đem lại nhiều lợi ích và an lạc cho chính bản thân cũng như cho tha nhân và cho cả Đạo Pháp nữa. Con suy nghĩ như thế không biết có đúng chăng ?

 

Kính Thầy, nhớ lại câu hỏi của Thầy dành cho con mà con cứ ngỡ như Thầy đang ra bài thi cho con năm nào và con phải cặm cụi cắn bút để nộp bài cho Thầy ! Trong phần thực hành thì con nguyện luôn luôn tự nhắc nhở, tự phản tỉnh. Như một thuở nào từng học Văn Tư Tu trong cái lớp học thật trầm tĩnh của Thầy.

 

Bây giờ cho dù cái lớp học đó đã không còn, Thầy cũng không còn nhưng cái gì cần phải nghe, phải suy gẫm và phải thực hành thì vẫn còn và sẽ còn mãi. Con nghĩ Thầy không mong gì hơn điều này.Và điều nầy mới đích thực đem lại cho Thầy nguồn An Lạc. Với những công trình giảng dạy, biên khảo, dịch thuật lớn lao, Thầy đã xây dựng một nền móng thật vững chắc cho việc Văn Tư Tu. Thầy đã hoàn tất những gì cần làm và phải làm. Thầy đã được An Lạc rồi, đang hưởng An Lạc. Hoàn toàn trú ngụ trong An Lạc.

Con nghĩ có một lời chúc gì nữa ở đây và bây giờ cũng là thừa.

 

Kính Thư,

Con, một học trò cũ của Thầy.

Lê Khắc Thanh Hoài.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/04/2026(Xem: 830)
Làm sao để giá trị tinh thần không bị thời gian và công nghệ AI làm lu mờ. ( Cảm tác sau khi đọc bài viết của TT Thích Nguyên Tạng nhân kỹ niệm lễ Huý Nhật của HT Thích Trí Tịnh vào ngày 6/4/2026 ) Có những bậc cao tăng và ngay cả những bậc trí tuệ như Socrates, Friedrich Nietzsche hay Lao Tzu… cũng từng bị hiểu sai, lãng quên, rồi được “tái khám phá”. Không phải vì họ mất giá trị, mà vì:”Thời đại thay đổi nhanh hơn khả năng tiếp nhận của con người, hơn thế nữa giá trị tinh thần thường không “ồn ào” như công nghệ và nhất là đám đông thường bị cuốn vào cái mới, không phải cái sâu.” Do vậy tên tuổi đáng kính thường bị che khuất tạm thời bởi dòng chảy thời đại. Phải chăng cái nguy cơ lớn nhất của thời đại AI ngày nay không phải là quên… mà là “nông” Phải chăng AI có thể: (Viết thay ta-Nghĩ nhanh hơn ta-Tổng hợp tri thức nhanh chóng) Nhưng AI cũng tạo ra một nguy cơ tinh vi: Con người tưởng mình hiểu… nhưng thực ra chỉ “chạm bề mặt”. Do đó nếu chỉ sống bằng tri thức vay mượn, thì
03/04/2026(Xem: 341)
“Khi Thế giới của chúng ta ngày càng nhỏ lại, nhưng chúng ta lại cứ nghĩ mình ngày càng lớn ra”. Trong xã hội ngày nay, khi con người thường đề cao bề nổi, ưa thích sự thể hiện bản thân vượt qua giá trị đích thực, thích thổi phồng những danh xưng, thành công hay một cuộc sống ngập tràn sự hào nhoáng. Nó tạo ra sự khao khát để khẳng định mình so với người khác bởi tâm lý sợ bị lãng quên, sợ bị nhạt nhòa và sợ bị bỏ lại sau lưng. Nó giúp con người tạo ra một bề mặt “kiêu hãnh” và khi tâm kiêu hãnh hình thành, trở thành chất xúc tác gây nghiện, con người sẽ bắt đầu trở nên kiêu mạn và lệ thuộc vào những thứ phù phiếm bên ngoài mà quên đi những giá trị cốt lõi bên trong.
30/03/2026(Xem: 381)
Nàng Persephone lại trở về, vườn xuân xanh biếc cây lá, muôn hoa khoe sắc hương, cỏ xanh một màu mướt mát. Cái vòng quay sanh – diệt vừa trọn một vòng. Nàng Persephone trở về đem lại sự hồi sinh sau mùa đông ảm đạm. Vô số nụ hoa nhỏ trên thảm cỏ, những nụ hoa pansee cho đến những loài hoa dại khác mà ta không biết tên, trên cành vô số hoa đào, hoa anh đào…Cánh hoa lả tả bay trong gió khiến ta ngỡ cảnh thiên thai. Chiều làm về, trút bỏ giày đi chân trần trên thảm cỏ, ta cảm nhận cả một sự bình yên chi lạ. Bàn chân trần bó rọ trong những đôi giày, dù giày lao động hay giày thời trang hàng hiệu cũng không sao hạnh phúc bằng chân trần trên cỏ xanh. Bàn chân trần tiếp xúc với đất mẹ mà nghe nhẹ nhõm thư thái trong tâm hồn. Vườn ta muôn hoa khoe hương sắc, mùa xuân rực rỡ với thủy tiên, tulip, hoa đào, mẫu đơn…ấy là những loại hoa mà loài người yêu thích và xem trọng. Riêng vườn ta thì chẳng có quý tiện hay trọng khinh, hoa trồng hay hoa dại cũng như nhau. Cánh hoa đào hòa mình cù
30/03/2026(Xem: 588)
Buổi sáng yên tĩnh, khi tiếng chuông chùa vang lên trong không gian, ta chợt dừng lại một chút và nhận ra rằng có một bài pháp rất lớn mà ta thường bỏ quên. Bài pháp đó không nằm trong kinh sách hay nơi giảng đường, mà chính là cuộc đời mà ta đang sống mỗi ngày, là từng hơi thở đang diễn ra ngay trong hiện tại. Đức Phật dạy rằng toàn bộ hành trình sinh tử của con người gắn liền với khổ đau. Không ai trong chúng ta có thể đứng ngoài quy luật đó. Dù cuộc sống có những niềm vui, nhưng niềm vui ấy không kéo dài; những nỗi buồn cũng vậy, đến rồi đi. Những người ta gặp trong đời, dù thân hay sơ, đều mang đến cho ta những bài học. Nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy tất cả đều là “Pháp” – là những điều giúp ta hiểu hơn về chính mình và về cuộc đời. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng nhận ra điều đó. Khi tâm còn rối loạn, ta chỉ thấy vui buồn, hơn thua, được mất. Chỉ khi tâm lắng lại, ta mới có thể nhận ra ý nghĩa sâu hơn phía sau mỗi trải nghiệm.
25/03/2026(Xem: 2102)
Góp nhặt vô thường xếp lại ngăn, Trí tuệ giao thoa nhẹ bước chân Giấc mơ hiện về nhắc tâm trí Nhìn đời bao dung lẫn tri ân Thế gian vạn biến, đừng dính mắc Với lòng bi mẫn giải mã dần Duy trì thói quen hằng quán chiếu Chúc phúc đến ai, chữa sai lầm
20/03/2026(Xem: 559)
Trong bối cảnh Phật giáo đang đối diện với thương mại hóa, hình thức hóa, và sự suy giảm chiều sâu giáo lý, việc tìm lại những mô hình cư sĩ lý tưởng không chỉ mang tính lịch sử mà còn mang tính định hướng cho tương lai. Hai hình tượng nổi bật nhất trong Đại thừa — Duy Ma Cật và Thắng Man Phu Nhân — không chỉ là những nhân vật kinh điển, mà còn là biểu tượng của trí tuệ, từ bi nhập thế và phụng sự xã hội. Điều đặc biệt là cả hai đều: không rời bỏ gia đình, không rời bỏ trách nhiệm xã hội, không rời bỏ đời sống kinh tế – chính trị, nhưng vẫn đạt trí tuệ sâu xa và phát đại nguyện Bồ-tát.
19/03/2026(Xem: 783)
Rơi vào trầm cảm sau khi mẹ qua đời, Lilly Hubbard quyết định quay lại Việt Nam và tìm thấy sự "chữa lành" từ tình người ấm áp ở vùng đất xa lạ. Sáng ngày cuối tháng 2, Lilly, 41 tuổi, theo người bạn đến thăm họ hàng tại khu chợ Đồn, phường Thuận Lộc, TP Huế. Trong lúc chờ đợi, cô ngồi nép vào một góc, dùng điện thoại ghi lại nhịp sống rộn ràng. Một phụ nữ lớn tuổi bán hàng gần đó chú ý đến cô. Bà mỉm cười, đưa tay dùng ngôn ngữ ký hiệu của người câm hỏi Lilly đến từ đâu. Cuộc trò chuyện không lời diễn ra bằng những cái gật đầu, nụ cười và ánh mắt. Khi Lilly xoay màn hình điện thoại cho bà xem đoạn video vừa quay, thấy mình xuất hiện, người phụ nữ bật cười.
19/03/2026(Xem: 880)
Những tia nắng đầu ngày lấp lánh trong trẻo như pha lê, vườn cây hớn hở tắm trong ánh nắng tươi mát, từng phiến lá hả hê nhả dưỡng khí vào đất trời. Màu xanh cây lá mát mắt, mát dịu cả tâm hồn. Màu xanh chắt ra từ nguồn nước mẹ thiên nhiên, từ năng lượng ấm áp của nắng gió để rồi chuyển thành năng lượng sống của vô số chiếc lá. Thần ánh sáng Helios trên chiếc xe kéo bởi những con ngựa có bờm lửa lướt qua bầu trời. Ánh sáng tràn ngập cả không gian khiến cho gã người phải mở mắt ra.
19/03/2026(Xem: 1674)
Cảm tác khi đón nhận tin Thành phố Melbourne theo bản thống kê trong 50 thành phố đáng sống trên thế giới vào năm 2026 (bảng xếp hạng mới nhất của Time Out 2026, Melbourne đã vươn lên vị trí số 1 thế giới) nhờ sự bùng nổ về văn hóa, ẩm thực và sự hài lòng của người dân. Trùng hợp thay, đọc lại tác giả Walter Benjamin (1892-1940) mới thấy người triết gia này từ lâu thể hiện rõ nhất những suy nghĩ của mình về thành phố hiện đại trong bộ tác phẩm đồ sộ (nhưng chưa hoàn thành) mang tên The Arcades Project (Dự án hành lang - Das Passagen-Werk): Đây là "cuốn kinh thánh" về đô thị hiện đại. Nơi ông giải phẫu Paris để thấy linh hồn của chủ nghĩa tư bản và sự tiêu thụ và những thay đổi trong trải nghiệm của con người, hơn thế nữa nó còn là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.
18/03/2026(Xem: 897)
Trong các truyện nhà Thiền, chúng ta vẫn nghe ngài Triệu Châu ưa trả lời những câu hỏi về Phật Tánh bằng cách không trả lời, hay có khi chỉ vào gốc cây ngoài sân cho chúng ta ngó nếu người hỏi đang đứng ngoài sân, hay có khi nói rằng hãy uống trà đi nếu người hỏi đang ngồi bên bàn với các ly trà. Làm cách nào chúng ta có thể nâng ly trà lên mà nhận ra Phật Tánh? Dĩ nhiên, không hề có chuyện Tánh Phật ẩn giấu trong lá trà, nước trà, hương trà, vị trà.... Câu chuyện như dường đầy bí ẩn. Thực ra thì không bí ẩn, nếu chúng ta lúc đó trực ngộ rằng Phật Tánh không hề lìa xa thân tâm mình, không hề cụ thể ở ngoải hay ở trong thân tâm mình, nhưng là một toàn thể một thế giới (và đừng gọi là trong/ngoài, đừng gọi là có/không) vẫn không ngừng hiển lộ với chúng ta.