Ngược Đời

26/04/201807:21(Xem: 5207)
Ngược Đời


tim con suoi moi-2


NGƯỢC ĐỜI


Thích Tâm Tôn  

Ngược dòng Mekong về hướng Thượng Lào. Nơi ngã ba sông Nam Khan chảy nhập vào dòng Mekong tạo nên một cảnh quang rất đặc trưng của cố đôLuangprabang cổ kính. Dòng sông với nhiều khúc quanh tạo nên những dãi uốn lượn có phần chảy xiết xuôi về hướng hạ Làokhiến con sông trông càng thêm đẹp. Nép dọc hai bờ, những rạng rừng núi nguyên sơ với những tàn cổ thụ rợp mát. Nhịp sống vẫn êm ả,sự thư thảcủa dân Lào có phần chậm lại vốn dĩ tạo nên nét rất đặc biệt nơi đây so với tất cả những danh thắng du lịch ở nơi khác. Và giữa rộn ràng của thói quen với những gì của thế giới hiện đại mà con người tiếp cận thường ngày, một quán Cà Phê trong không gian chỉ dành cho sự yên tĩnh của một người Pháp rất khéo ẩn dưới những bóng cây bên ghềnh đá của ngã ba con sông. Không có sự hiện diện của bất cứ một phương tiện nhộn nhịp nào của thế giới hiện đại được chào đón trong không gian mang tính thư giản này. Nơi ấy, không Wifi, không tiếng nhạc,hoạtđộng nhẹ nhàng của nhân viên phục vụ, chỉ có tiếng trải lòng hòa điệu với tiếng thiên nhiênđủ khiến du khách ý thức không nên ồn ào gây tiếng động lớn. Những dòng chú ý đại loại như thế được đặt trên mỗi bàn nước. Khái niệm “khách hàng là Thượng đế”, hẳn nhiên không tồn tại nơi đây. Tất cả đây quả thật đặc biệt rất “ngược đời”, nhưng khi trải nghiệm mới thấy được cái “ngược đời” ấy nó hay và độc đáo như thế nào giữa thế giới hiện đại này.

“Ngược đời” là một tính từ mang khái niệm với rất nhiều hàm ý. Với những gì diễn tiến theo chiều hướng tiêu cực đưa đến những kết quả sai lệch là ý nghĩa phổ biến nhất được liên tưởng đến khái niệm này. Nhưng không thể bỏ qua ý nghĩa tích cực lớn hơn rất nhiều của khái niệm “ngược đời” theo tư duy xây dựng ý tưởng “đảo ngược” sinh động trong dòng sống đa chiều, nhằm mang lại những giá trị chân thực và mới mẻ hơn,  hiệu quả cao hơn, vượt khỏi hẳn những giới hạn của khuôn khổ có tính chủ quan cổ hủ.  Đó chính là khái niệm “tư duy khác biệt”, “tư duy đảo ngược” mà thế giới hiện đại, cũng như trong lí luận triết học rất đề cao từnhững hiệu quả của nó mang lại.Đặc biệt,trong phương pháp giáo dục, trong lí luận học thuật, cũng như trong việc xử lí những vấn đề thuộc cộng đồng Tăng của Phật giáo; đức Phật vận dụng cách thức này trong rất nhiều tình huống để đối trị những diễn tiến thường tình, những phán đoán cảm tính, những thói quen suy xét xuôi chiều, nhằm mang lại kết quả trung thực và tốt đẹp nhất có thể.Những hiệu quả rất tích cực ấy, dễ dàng nhận thấy trong xuyên suốt những gì liên quan đến cuộc đời đức Phật và rõ ràng nhất là chính con đường “ngược đời” mà Ngài đi.

Một người biện minh cho lí lẽ  riêng nào đó của bản thân, bất chấp những hiểm nguy, chạy xe ngược vào đường cao tốc. Hành động ấy là hết sức ngược đời với sự nhìn nhận của tất cả mọi người. Đây chắc chắn là một hành động “ ngược đời” hết sức điên rồ nguy nhiểm, không thể chấp nhận bởi luật pháp, không được khuyến khích trải nghiệm.

Trong một khu rừng, bác cọp luôn xem mình là chúa tể sơn lâm. Phần lớn mọi loài thú khác cùng sống trong khu rừng ấy đều phải khiếp sợ trước oai phong của bác. “Kính nhi viễn chi” hẳn nhiên là suy nghĩ vì sự an toàn tánh mạng đối với mọi loài dành cho cọp. Hằng ngày, anh khỉ vẫn chứng kiến bao chuyện xảy ra với muôn loài hết sức tàn bạo mà bác cọp kia hành xử.Thế nhưng, khỉ lại là anh bạn đặc biệt có suy nghĩ rất ngược đời. Khỉ xem chuyện trêu đùa với cọp là thú vui không thể thiếu mỗi ngày. Bác cọp sau những chặng đường rong ruổi khắp đó đây, mỗi khi tìm nơi nghỉ ngơi dưới những bóng cây thì lại thường bị làm phiền bởi anh khỉ đủ đầy những chiêu trò nghịch ngợm. Anh khỉ tinh ranh không biết đâu cứ bất chợt từ cành cây cao nhảy nhào xuống giật mạnh đuôi, sờ tai, nhảy cả lên người bác cọp, rồi chớp nhoáng liền chuyền lên cành cao. Cứ thế mà khỉ vợn vờ giễu cợt,không một chút nễ nang,và thách đố với cảbác cọp dữ tợn. Ngày nào cũng diễn trò cảnh ấy, lòng bác cọp rất tức giận. Lúc đầu bác phản ứng rất mãnh liệt bằng tất cả oai phong của một chúa tể đối với thằng nhãi khỉ tinh ranh kia. Nhưng tất cả những phản ứng ấy đều không làm cho anh khỉ khiếp sợ mà ngược lại anh khỉ càng tinh nghịch trêu đùa nhiều hơn. Dần dần cọp thấy không thể làm được gì với nhóc khỉ lì lợmnày, nên rồi cũng dần tập chấp nhận nhắm mắt mặc nhiên cho những phá phách trêu đùa. Khi thấy bác cọp không còn những phản ứng gì nữa, thì anh khỉ lại cũng bớt dần những bầy trò tinh nghịch. Thế rồi bác cọp có hôm nằm cảm thấy buồn khi thiếu những trò của khỉ, nên lại có vẻ cũng tìm cách trêu chọc như muốn bọn khỉ đùa chơi với mình. Và như thế, ngày lại ngày cọp và khỉ vờn đùa với nhau làm cho khu rừng trở nên sinh động hơn với đời sống hoang dã. Đây là một suy nghĩ và hành động kiểu ngược đời rất đáng yêu của khỉ. Nhưng sinh động hơn là anh khỉ làm thây đổi rất lớn lối sinh hoạt của muôn loài trong khu rừng, và đặc biệt làm cho bác cọp thây đổi suy nghĩ cũng như lối hành xử cổ hủ của mình .

Với Phật giáo, con đường hướng đến những trải nghiệm thường đặt trong chiều hướng đảo ngược thực tế, đưa đến kết quả chuyển hóa rất nhiều nghĩa sống trở nên tốt đẹp. Cái chết, luôn là nổi ám ảnh rất kinh khủng hằng đeo mang trong sâu thẳm với hầu hết số đông. Càng sợ điều đó, phần lớn tìm cách phủ nhận nó như không hề liên quan và không chấp nhận như có sự liên quan gì đến nó. Từ đó họ cố tìm và lao vào những thứ cảm giác tạm bợ nào đó để sống, quên đi nổi ám ảnh của sự chết, che đậy bớt những khủng hoảng khó thoát của cuộc đời. Đức Phật với tư duy của Ngài khác biệt hơn, ngược đời với phần lớn số đông kia. Ngài lại tư duy nhiều hơn về cái chết, nói nhiều hơn về những gì liên quan đến cái chết, những chuyển biến vô thường, và đặt cả bản thân vào hoàn cảnh của sự chết. Không ít những thắc mắc được nêu ra cho Ngài và những ai đi theo con đường Ngài đại loại như: Ông Cù Đàm nói nhiều về cái chết là có ý gì thế? Và cuộc đời này không biết bao nhiêu điều thú vị để nói tới, việc gì cứ ngồi đó mà trầm tư về những chuyện không ai muốn như vậy?

Phật giáo nói nhiều về vô thường hay cái chết. Đây không phải là một tư duy tiêu cực bi quan. Bởi lẽ, “chiêm nghiệm nhiều về sinh tử sẽ thúc đẫy bạn suy nghĩ toàn diện hơnvề cuộc sống của mình và những gì bạn muốn để lại cho đời. điều này có ý niệm giúp bạn rõ ràng hơn về ý nghĩa và niềm vui trong cuộc sống của mình”- Alice Rebekah Fraser

Đây chính là hiệu quả tích cực theo hướng trải nghiệm tư duy “đảo ngược” của đức Phật và Phật giáo ứng dụng được tìm thấy qua những vần thi kệ ngắn của bài kinh Mũi Tên thuộc Tiểu Bộ Kinh: “ Sinh mạng của loài người/ Ở đời không ai biết/ Không tướng, nhiều phiền toái/Nhỏ nhoi, liên hệ khổ/Không có sự gắng nào/Khiến sống thoát khỏi chết/Sau khi già là chết/Pháp hữu tình là vậy/Như các trái chín mùi/Có sợ bị rơi sớm/Cũng vậy người được sanh/ Thường có sợ bị chết/….Như vậy thế giới này/Bị già chết chi phối/Do vậy, bậc nhiều trí/Biết đời, nên không sầu/Ai không biết con đường/Đường đến và đường đi/Do không thấy hai ngã/Than khóc, không lợi ích/….Không với sầu, nước mắt/Khiến nội tâm an tịnh/Khổ càng tăng trưởng thêm/Thân càng bị gia hại/….Ai tự tìm hạnh phúc/Hãy tự mình rút tên/Mũi tên là than khóc/Tham cầu tư âu sầu/Ai đã rút mũi tên/Không nương tựa nhờ cậy/Tâm vị ấy đạt được/Sự an lành an tịnh/Vượt khỏi mọi ưu sầu/Tâm không sầu, tịch tịnh”.

Thường tình số đông, khi bị tác động của cuộc sống theo xu hướng nào, thường có những phản ứng đối đãi trở lại tương tự như chính tác động kia mang đến. Anh ghét tôi, thì tất nhiên tôi không thể thương anh được. Anh sống có tình với tôi, làm sao tôi không lưu tâm nhiều để dành những tình cảm xứng đáng cho anh. Anh sống không chân thành với tôi, làm sao tôi có thể tặng một cách miễn phí cho anh sự chân thành của tôi được. Anh đã hành xử với tôi bằng những cái tát, tất nhiên phải có những cái tát tương ứng tôi sẽ dành cho anh..v.v..Cũng từ suy nghĩ này, có những dịch vụ gọi là “đập phá đồ đạc” nhằm đáp ứng giải quyết khủng hoảng tâm lí cho những người gặp những điều bất như ý trong cuộc sống tránh những nguy hại đáng tiếc. Nhưng đây là một dịch vụ không hoàn toàn có ý tưởng tốt, vì sẽ không tập kiểm soát tâm lí mà chỉ dẫn người ta lao theo những cảm xúc và càng làm tăng thêm tính khí tiêu cực về lâu dài.Đó đôi khi là lẽ sống mà nhiều người cho là giá trị “sòng phẳng” của cuộc đời. Xét cho cùng, những suy nghĩ ấy chỉ nhằm đối đãi nhau ở đời cho thỏa mãn những cảm xúc tâm lí chứ không xây dựng được giá trị tích cực gì cho đời. Có thể xem những suy nghĩ ấy trong ý nghĩa “ ngược đời” mang tính tiêu cực, vì nó sẽ mang lại những hệ quả làm tan vỡ cuộc đời.

Với đức Phật một quan điểm có tư duy rất tích cực trong ý nghĩa “ ngược đời” với phần lớn số đôngkia khi nói về sự đối trị lòng giận và cách giải quyết tâm thù hận theo phẩm Song Yếu thứ 4-5 trong kinh Pháp Cú:

-“Nó mắng tôi, đánh tôi,

Nó thắng tôi, cướp tôi,

Không ôm hiềm hận ấy,

Hận thù được tự nguôi”-

-“Lấy hận diệt hận thù,

Đời này không thể có.

Từ bi diệt hận thù,

Là định luật thiên thu”-

“Thayvìtìmcáchhạhỏathìviệcthểhiệnsựgiậndữrabênngoài hay trútgiậnchỉcànglàmbạn "nổiđóa" – Brock Atkinson.

Một trong rất nhiều câu chuyện cảm hóa những con người khó cảm hóa nhất được biết đến trong cuộc đời đức Phật đó là chuyển hóa Angulimāla (Vô Não)- một tên cướp sát nhân khét tiếng. Tránh xa lãnh địa mà tên cướp này trú ngụ là những cảnh giác hầu hết dân địa phương và các vùng lân cận luôn đề cao. Mạo hiểm một mình đi vào làng của tên cướp với một ai đó thì quả thật là chuyện ngược đời. Chính vì sự cảnh giác đó của mọi người,Angulimāla càng ngày càng trở nên khó thực hiện được mục đích của hắn. Trong trường hợp này, đức Phật không suy nghĩ theo số đông kia, không tìm cách xa lánh anh chàng đầy mông muội ấy. Một hôm, trên đường khất thực, đức Phật một mình khoan thai trên từng bước chân theo hướng lối dẫn vào làng vắng lạ thường. Angulimāla phát hiện thấy có người liền đuổi theo để thực hiện ý đồ sát hại. Đối diện với một tên cướp đầy sát khí, sự hoảng sợ là tâm lí biểu hiện của hầu hết mọi người. Thế nhưng, sự điềm tĩnh lạ thường của đức Phật khiến tên cướp thấy rất ngạc nhiên. ĐứcPhậtdùngthầnthông, trông rất bình yên bước nhẹ, nhưngtêncướpAngulimāla cố sức đuổi theo vẫnkhôngthểnàobắt  kịp. TêncướpAngulimālanghĩ: “Lạ thật, trướcđây ta có thể đuổikịp con voi, con ngựa, con naivà cả chiếcxeđangchạy, mà bâygiờ khôngthể đuổitheokịp Sa-mônCồ Đàmđangđibìnhthường”. Têncướpnói: “Hãydừnglại, Sa-môn! Hãydừnglại, Sa-môn!”. ĐứcPhậtkhoanthaiđáp: “Ta đãdừngrồi, nàyAngulimāla! Vàngươihãydừnglại!”. Têncướpnghĩ Sa-mônCồ Đàmkhôngbaogiờ nóidối, vậylờinóinày có ý nghĩagì. Thế là Angulimālahỏi: “Ôngđi mà lạinói ‘Ta đãdừngrồi’, còntôidừng, thì ôngnói ‘saotôikhôngdừng’ nghĩa là sao?” ĐứcPhậtgiảithích: “Vớimọichúngsanh, Ta bỏtrượng, kiếm; cònngươi, khôngtựkiềmchế, gieorắcgiếtchócvà hậnthù, nên ta đã dừng mà ngươichưadừng”. Đức Phật dường như đã làm chủ tình hình lúc này, càng khiến tên cướp trở nên bị động hoàn toàn.Đây là tình huống dẫn dắt theo cách “đảo ngược” rất thú vị mà đức Phật thực hiện.

Angulimāla bất ngờđứnglặngyên, trầmtư một lúc, rồi hạgiọngvàtừtốnthưa: “ThưaNgài, tộilỗicủatôithậttàytrời. Tôi có thể quay đầubằngcáchnào?” ThấyAngulimālađãchuyểntâm ý, ray rứtvớiviệclàmcủamình, ĐứcPhậtmở ramộtcơhộichongườibiết quay đầu, tiếpnhậnAngulimālavàoTăngđoànđể có thể làmmớicuộcđời.Angulimālaliềnquăngbỏkiếmvà khígiớixuốngvựcsâu, đảnhlễ ĐứcPhật, xinđượcxuấtgia. Tôngiả Angulimālatinhtấntu tập chẳngbaolâu, chứngđạttrạngtháigiảithoáthoàntoàn.

Khi gặp một người rơi vào sự tột cùng của khổ đau như mất con, mất chồng, cửa nhà tan hoang của người phụ nữ; đức Phật dành cho họ những pháp thoại về bản lĩnh chấp nhận thực tế để hướng đến con đường của hạnh phúc. Khi gặp những ai đấm nặng trong xung mãn những điều kiện và cảm giác như ông trưởng giả keo kiệt thì đức Phật tìm cách tiếp cận họ bằng những bài họcmở lòng về san sẻ với những hoàn cảnh khó khăn. Khi gặp những ai có số phận thế nào thì đức Phật hầu như cho họ con đường ngược lại bằng những luận lí có cơ sở hết sức thuyết phục.

Chứng kiến đoàn sư trẻ khất thực trên đường vào buổi sớm của một đất nước Phật giáo Nam truyền, cũng có thể trải nghiệm được giá trị nhẹ nhàng giải thoát có ý nghĩa như thế nào giữa dòng đời đầy bôn ba chộn rộn của muôn vàn cuộc sống. Vị sư trẻ cuối cùng của đoàn sư khất thực trong tư thế phải nhận hết tất cả những nắm xôi đầy ngập bát còn lại mà đoàn phật tử dâng cúng, sự hoan hỉ vẫn biểu hiện viên mãn cùng giá trị “ ngược đời” giữa đời thường chẳng chút ưu tư.

Hay một cư sĩ nghệ nhân rất nổi tiếng của làng Gốm cổ Bát Tràng, với tư duy “ngược đời” tạo những không gian thiền rất an tịnh đặc sắc có tên “Thuận An Đường” giữa dòng đời còn bao bày bộn chung quanh với kinh doanh thương mại. Ngày ngày ông vẫn dành những trải nghiệm cuộc sống với những vần thi ca giàu tính thiền học giữa cuộc đời và không quên câu “A Di Đà Phật” rất đẹp tròn nghĩa sống.

“Chuông ngân, lòng nhẹ nhõm.

Vơi đi mọi sầu lo,

Vui buồn hay sướng khổ,

Do mình,…nào ai cho?!..

Adidaphat!- Văn Thuận An-

Và đây:

Đêm qua thầnchếtnhắc:
Trongtimđãvài Ten ( Stent )
Tuổiđãngoàilụcthập 
Bậnlònggìchê, khen?!' 
-
Cầmtaythầncảmtạ:
"LờiThầnnhắchôm nay 
Nhiềunăm qua tôiđã 
Thựchiệntốtđiềunày ".
-
Nhạcthiền ,tràhươngngát 
Hươngtrầmthoảng bay xa 
Mọiannhiêntựtại
Bình an...do chính ta 
Adidaphat !' -Văn Thuận An    

 

Và giữa dòng đời thường xuôi dòng cùng lẽ sống, vẫn còn rất nhiều bước chân trải nghiệm “ngược đời” rất sinh động và rất đẹp trong cuộc sống này.

 “Vui thay chúng ta sống,

Không rộn giữa rộn ràng;

Giữa những người rộ ràng,

                          Ta sống không rộn ràng”- Pháp Cú số 199.

 

Nam Mô A Di Đà Phật.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/08/2018(Xem: 9812)
Trong bài Đôi dòng cảm nghĩ về cuốn Võ Nhân Bình Định của Quách Tấn và Quách Giao do nhà xuất bản Trẻ phát hành vào năm 2001, Giáo sư Mạc Đường, nguyên viện trưởng viện Khoa Học xã hội TP.HCM có cho biết rằng, họ Quách, mặc dù ông tổ vốn dòng Mân Việt nhưng không chịu sống dưới chế độ Mãn Thanh nên đã rời bỏ Trung Quốc di dân sang Việt Nam. Đến thế hệ Quách Tấn và con là Quách Giao đã trên 300 năm. Vì sống tại Tây Sơn đã nhiều thế hệ “ nên họ Quách có biết dược nhiều sự kiện lịch sử ở địa phương. Nhất là thời đại Tây Sơn và phong trào Cần Vương. Gia phả của họ Quách đều có ghi lại các sự kiện lịch sử quan trọng này.
26/08/2018(Xem: 5184)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ. Tuần trước, rừng ở quận hạt lân cận bị cháy suốt mấy ngày khiến bầu trời mù mịt khói đen, nắng không xuyên qua được, chỉ ửng lên cả một vùng trời màu vàng nghệ lạ thường. Nay thì trời trong không một gợn mây. Bầy quạ đen lại tranh nhau miếng mồi nào đó, kêu quang quác đầu hè. Rồi im. Bầy chim sẻ đi đâu mất dạng gần một tháng hè gay gắt nắng. Bất chợt, có con bướm cánh nâu lạc vào khu vườn nhỏ. Và gió từ đâu rung nhẹ những nhánh ngọc lan đang lác đác khai hoa, thoảng đưa hương ngát hiên nhà. Phép lạ đã đến. Gió đầu thu.
20/08/2018(Xem: 6726)
Đọc “Đường vào luận lý” (NYÀYAPRAVESA) của SANKARASVAMIN (Thương Yết La Chủ), Cầm quyển sách trên tay độ dày chỉ 290 trang khổ A5 được nhà xuất bản Hồng Đức tại Việt Nam in ấn và do Thư Viện Huệ Quang ở Sài Gòn phát hành, lại chính do Giáo Sư Lê Tự Hỷ ký tặng sách giá trị nầy cho chúng tôi vào ngày 14 tháng 7 năm 2018 nầy, nên tôi rất trân quý để cố gắng đọc, tìm hiểu cũng như nhận định về tác phẩm nầy.
15/08/2018(Xem: 12325)
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.
13/08/2018(Xem: 5613)
Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức. Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.
11/08/2018(Xem: 17285)
Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang. Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến… Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.
09/08/2018(Xem: 12627)
Nghĩ Về Mẹ - Nhà Văn Võ Hồng, Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: "Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai" mày sáng đi mà chiều về, "tắc ngô ỷ môn nhi vọng" thì ta tựa cửa mà trông. "Mộ xuất nhi bất hoàn" chiều đi mà không về, "tắc ngô ỷ lư nhi vọng" thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
09/08/2018(Xem: 8717)
sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại. Tôi thì thầm hỏi Nhung: --Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại? Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ: --Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan. Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
06/08/2018(Xem: 10534)
Miền đất võ Bình Định cũng là miền đất Phật, miến “Đất LànhChim Đậu”, được nhiềuchư thiền Tổ ghé bước hoằng hóa và chư tôn thiền đức bản địa xây dựng mạnh mạch Phật đạo từ trong sâu thẳm, qua nhiểu giai đọan, thời gian, đã xây dựng nên hình ảnh Phật giáo Bình Định rạng rở như ngày hôm nay. Đặc biệt trước tiên có thể kề đến Tổ Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 ), Hòa thượng Thích Phước Huệ ( 1875 – 1963 ), Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải ( 1876 – 1950 ), v…v…Nêu chúng ta tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần ( 1619 – 1682 ), khi Tổ Nguyên Thiều từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang An Nam và an trú ở Quy Ninh (tức Bình Định ngày nay) vào năm Ất Tỵ (1665 ) và kiến tạo chùa Thập Tháp Di Đà , thí Phật giáo Bình Định đã thực sự bước vào trang sử chung trong công cuộc hoằng hóa của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Tổ Nguyên Thiều còn là cầu nối giữa Phật giáo hai nước An Nam và Trung Hoa, trao đổi nhiều kinh điền có giá trị để cùng nhau tu học. Điều này cho thấy, lý tưởng Từ Bi và con đường hoằng
05/08/2018(Xem: 4713)
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã mấy chục năm theo bốn mùa thay lá thay hoa và đời riêng của mỗi người có quá nhiều đổi thay. Ngồi nhớ lại những kỷ niệm thời còn đi dạy trường Sương Nguyệt Anh, biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn ngập tràn làm xao xuyến cả tâm tư! Hình ảnh buổi lễ bế giảng năm học 1978 bỗng rõ lên trong ký ức tôi như một đóm lửa nhóm trong vườn khuya. Năm đó tôi dạy tới ba bốn lớp 12, lớp thi nên cả Thầy trò mệt nhoài. Không đủ giờ ở lớp nên nhiều khi tôi phải vừa dạy thêm vào sáng Chủ Nhật, vậy mà các em vẫn đi học đầy đủ. Tới ngày bế giảng Cô trò mới tạm hoàn tất chương trình, như trút được gánh nặng ngàn cân ! Hôm đó, tôi lại được Ban Giám Hiệu phân công trông coi trật tự lớp 12C1, có nghĩa là phải quan sát bắt các em ngồi ở sân trường phải yên lặng chăm chú theo dõi chương trình buổi lễ, nghe huấn từ của ban Giám Hiệu.