Mùa Thu Năm Ấy

12/01/201807:47(Xem: 5945)
Mùa Thu Năm Ấy

 
Mua Thu 5

MÙA THU NĂM ẤY



 Nhớ lại ba năm trước, tôi đến Seattle vào một chiều Thu cuối tháng Mười. Vừa rời khỏi sân bay, cảm nhận đầu tiên của tôi đối với đô thị xa hoa có nhịp sống bận rộn này là cái se se lạnh của tiết trời đang độ giữa Thu. Trong tôi lúc đó vẫn còn nỗi bồn chồn lo lắng, tâm trạng của một người vừa xa quê, bước chân vào một đất nước xa lạ. Sự mát lạnh của khí trời như xoa dịu phần nào nỗi lo lắng trong tôi. Có lẽ đó là lý do vì sao tôi vẫn nhớ như in cảm xúc đầu tiên ấy, và dần dần, tôi nhận ra mình có cảm tình với mùa Thu ở Washington.

Đến với Seattle vào mùa Thu, ấn tượng ban đầu về Seattle là một mảnh đất man mác buồn, mưa suốt ngày đêm, thỉnh thoảng có vài tia nắng ấm. Cây cối xanh tươi đang chuyển sang màu vàng, cam đỏ… tạo nên những cảnh trí thiên nhiên mang nhiều màu sắc rực rỡ. Mùa Thu nơi đây thật hiền hòa dịu mát. Nhưng…Ký ức tôi bỗng hiện ra những buổi chiều nơi quê nhà, ra bãi biển ngồi ngắm hoàng hôn xuống, làn gió nhẹ bay bay, thoang thoảng mùi hoa sữa báo hiệu mùa Thu tới, có thể nói rằng hoa sữa thơm ngào ngạt, nhưng nó lại là mùi hương nhắc nhở tôi về mùa Thu của một thời thương nhớ, nơi ghi dấu quãng đời tuổi thơ mà tôi đã đi qua.

 Thu đầu tiên đến trong niềm bỡ ngỡ của tôi lần đầu đến với Seattle chỉ kịp cảm nhận cái se lạnh về đêm, có đôi khi nghe tiếng lá rơi xào xạc từ hàng cây ven đường mà tôi cứ ngỡ là ai đang dạo bước trên lối về. Nhưng cũng Thu đầu ấy tôi chợt nhận ra rằng, sắc tím ngát trời của loài hoa phượng tím, mùa hoa nở là tím cả một con đường nơi tôi ngày ngày đi ngang qua; rồi giật mình thảng thốt vì ánh trăng rọi sáng căn phòng, bỗng nhớ quê nhà  da diết. Những khi một mình nơi xứ người lạnh lẽo mới thấm thía, quê nhà một góc nhớ mênh mông.

Cứ thế rồi mùa Thu đi qua như chưa từng lưu lại, năm thứ nhất vội vã trôi đi khi tôi chưa kịp cảm nhận, để rồi lại một mùa Thu nữa đến và tôi muốn níu giữ nó, níu giữ lại thời gian. Thu năm ấy bất ngờ khi lá cây vẫn vàng rực thì tuyết hoa anh đào đã phủ trắng lối đi. Thu năm hai cũng là năm mà tôi bắt đầu lưu luyến, bởi Seattle đối đãi tôi quá đỗi dịu dàng, cô giáo Sunny rất hiền và vui tính lúc nào cũng quan tâm, bạn bè huynh đ nơi đây luôn dành cho tôi sự ưu ái, sự chân thành khiến tôi luôn thấy ấm lòng nơi xứ lạ.

Saettle vẫn thế, cũng một phong vị của kiểu thời tiết khiến người ta thấy u buồn đến nao lòng, cũng con người vẫn ngày ngày vội vã hối hả ấy.  Người ta thường nói: Nếu ai yêu một thành phố nào đó chỉ khi nào nơi ấy có những người mà họ luôn nhớ đến. Với tôi Seattle là nơi có những ngày thu thật buồn, nhưng tôi lại không nỡ rời xa chỉ vì thấy đã quá thân thương, bỗng thấy rằng thời gian phải cần quý trọng biết bao nhiêu.

Lại một mùa Thu nữa sang, có lẽ là Thu cuối cùng tôi còn cảm nhận được sắc vàng ngập trời tỏa sáng một góc đường, mà giờ đây mỗi lần nhớ đến tôi bất giác thấy trong lòng vui lạ, cũng là chút lưu luyến còn lại, gửi vào Seattle với khoảng trời sương khói u buồn, nhưng ẩn sâu là màu rực rỡ của lá vàng hoa đỏ. Đã từng nhắn nhủ tôi vẫn là tôi của ngày xưa ấy, cũng từng ngỡ rằng:

Tôi ra đi vào mùa Thu năm ấy. Một chiếc lá mùa Thu còn sót lại

 Chiếc lá  thu ngỡ ngàng trong ký ức.Thu đi rồi một khoảng trống mênh mang

 

Ngày ấy  tôi đã từng mơ về một mùa Thu tĩnh lặng, những con đường ngập đầy lá vàng và những bàn tay nắm lấy nhau, dạo bước trong mùa Thu hoàn hảo. Có lẽ  trong những chiều chớm lạnh. Kể ra mùa Thu cũng lạ, bình yên cùng những con đường lặng lẽ, với những chiếc lá vàng êm ả cùng những cơn sóng nước trong veo không một chút gợn. Trời rất xanh và mây rất trong. Nhưng mùa Thu cũng là mùa dông bão, Nha Trang quê tôi mưa dai dẳng, sấm chớp ầm ầm. Mùa Thu là mùa của tình yêu, tình yêu bắt đầu và cả khi tình yêu tan vỡ. Nha Trang  một ngày Thu, hoa sữa nở trắng đầy góc phố. Tôi yêu Nha Trang vô cùng.  Có lẽ vì tôi đã được sanh ra và lớn lên ở đó, và có lẽ chỉ bởi tôi yêu những con đường quen thuộc đã đi qua. Có nhiều kỉ niệm, có đủ nỗi nhớ để làm thành kỷ niệm cho riêng mình.

 

Nha Trang vắng lặng đẹp mà người ta hằng mơ ước một lần được ghé qua, nhưng nó vẫn khiến người ta thấy lạc lõng  giữa  lòng thành phố. Nha Trang, hoa sữa không nồng nàn như người ta nghĩ. Tôi tìm thấy ở đó một phần hồi ức tốt đẹp của riêng mình, nhẹ nhàng và tự nhiên như hoa sữa nở khi mùa Thu về. Thu và tôi cũng nhẹ nhàng như hoa sữa tàn khi mùa Thu qua. Không ai hiểu vì sao Thu  tan vỡ, như hoa bên đường  tàn theo gió Thu. Tự an ủi mình rằng cuộc đời dài rộng quá đôi khi lại rất buồn. Nhưng có lẽ tôi chỉ học được cách yêu mùa Thu, nhưng chẳng thể nào học được cách giữ lại. Thu là gió, gió phải được tự do. Kỷ niệm ấy giữ lại cho riêng mình. Một mùa Thu nếu không còn thì những mùa Thu ấy cũng chỉ như cơn gió thoảng.

 Tôi hy vọng Nha Trang ngày trùng phùng tôi hẳn sẽ xúc động nhiều lắm thay, nhưng thật ra tôi của giờ đây có lẽ chỉ thấm thía luyến lưu ngày ly biệt.

Nam Mô A Di Đà Phật
Ni Viện Như Ý đầu xuân 2018
Thích Nữ Tâm Vân

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/12/2010(Xem: 33332)
Văn hóa như hơi thở của sự sống. Chính vì vậy mà qua bao thăng trầm nghiệt ngã của lịch sử, Đạo Phật như một sức sống văn hóa ấy vẫn còn đó, như một sinh chất nuôi dưỡng nếp sống tâm linh cho con người.
10/12/2010(Xem: 13425)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
16/11/2010(Xem: 18748)
“Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai
30/10/2010(Xem: 5550)
Tiểu sử cho biết rằng, vào năm 1542 sau khi dâng sớ lên vương triều Mạc đòi chém 18 kẻ lộng thần, nhưng không được vua Mạc bấy giờ là Mạc Phúc Hải chấp thuận. Nguyễn Bỉnh Khiêm liền cáo quan về lại quê quán ở làng Trung Am. Nay là huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Dù thất bại ở triều đình không thực hiện được hoài bão như dự tính lúc ban đầu: Dân giai thức mục quan tân chính
30/10/2010(Xem: 8310)
Như tôi cũng đã thưa rồi, hiếm ai dành nhiều thời gian để nhớ về mẹ như tôi. Chuyện gì buồn vui cũng là cái cớ để tôi nhớ về mẹ bằng tất cả tim óc. Tôi đã nhớ mẹ qua bất cứ hình ảnh nào của các bậc cha mẹ trong đời mà tôi quen biết, trong giao thiệp hay chỉ nhìn thấy trên phim ảnh sách báo... Có điều là không ít hình ảnh trong số đó cứ khiến tôi đau đáu một nỗi riêng không chịu thấu: 1. Họ là những bậc cha mẹ với tuổi đời chưa bao nhiêu nhưng đã bắt đầu quên mất tuổi trẻ của mình cho đứa con đầu lòng. Một tuổi trẻ tất bật áo cơm, không có rong chơi, không có ngơi nghỉ, không có thời gian riêng tư, dẹp luôn những không gian độc lập để sống như mình vẫn ao ước thời chớm lớn. Họ Mất hết cho cái mà họ cho là Được – đó chính là đứa con! Nhìn họ tôi nhớ mẹ!
28/10/2010(Xem: 4830)
ù bây giờ đã qua hết những ngày tất tả ngược xuôi lo chạy gạo bữa đói bữa no, lăn lóc chợ trời nhục nhã ê chề tấm thân; những ngày dầm mưa dãi nắng lặn lội đi thăm nuôi nhưng những kỷ niệm buồn sâu thẳm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi mãi mãi mỗi độ tháng tư về. Sau khi hai đứa con ra đi được hai ngày, tôi được tin chuyến tàu bị bể. Tôi vừa bàng hoàng vừa cầu xin đó không phải là sự thật, nếu quả đúng như vậy liệu tôi có còn đủ sức chịu đựng hay không vì chồng tôi đang còn ở trong trại cải tạo. Nóng ruột quá, tôi bèn rủ một em học trò cũ lên nhà bà chủ tàu để dò hỏi tin tức. Khi đi thì hăng hái như vậy nhưng gần đến ngõ rẽ đi vào nhà, tôi không còn can đảm tiếp tục bước nữa. Tôi ngồi lại một mình dưới gốc cây vừa niệm Phật vừa cầu xin, mắt không rời theo dõi vào con ngõ sâu hun hút đó. Càng chờ ruột gan càng nóng như lửa đốt, không chịu nổi nữa tôi đi liều vào. Vừa đến nơi hai chân tôi đã muốn khuỵu xuống, một bầu không khí im lặng nặng nề, hai người ngồi như 2 pho tượng; sau đó em h
21/10/2010(Xem: 18096)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
17/10/2010(Xem: 7600)
Tây Du Ký tiêu biểu cho tiểu thuyết chương hồi bình dân Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt xã hội các dân tộc Á Châu. Không những nó đã có mặt từ lâu trong khu vực văn hóa chữ Hán (Trung, Đài, Hàn, Việt, Nhật) mà từ cuối thế kỷ 19, qua các bản tuồng các gánh hát lưu diễn và văn dịch, Tây Du Ký (TDK) đã theo ngọn gió mùa và quang thúng Hoa Kiều đến Thái, Mã Lai, In-đô-nê-xia và các nơi khác trên thế giới. Âu Mỹ cũng đánh giá cao TDK, bằng cớ là Pháp đã cho in bản dịch TDK Le Pèlerin vers l’Ouest trong tuyển tập Pléiade trên giấy quyến và học giả A. Waley đã dịch TDK ra Anh ngữ từ lâu ( Monkey, by Wu Ch’Êng-Ên, Allen & Unwin, London, 1942). Ngoài ra, việc so sánh Tây Du Ký2 và tác phẩm Tây Phương The Pilgrim’s Progress (Thiên Lộ Lịch Trình) cũng là một đề tài thú vị cho người nghiên cứu văn học đối chiếu.
08/10/2010(Xem: 20681)
Phật nói : Lấy Tâm làm Tông, lấy không cửa làm cửa Pháp. Đã không cửa làm sao đi qua ? Há chẳng nghe nói : “Từ cửa vào không phải là đồ quý trong nhà. Do duyên mà được, trước thì thành, sau thì hoại.” Nói như thế giống như không gió mà dậy sóng, khoét thịt lành làm thành vết thương. Huống hồ, chấp vào câu nói để tìm giải thích như khua gậy đánh trăng, gãi chân ngứa ngoài da giầy, có ăn nhằm gì ? Mùa hạ năm Thiệu Định, Mậu Tý, tại chùa Long Tường huyện Đông Gia, Huệ Khai là Thủ Chúng nhân chư tăng thỉnh ích bèn lấy công án của người xưa làm viên ngói gõ cửa, tùy cơ chỉ dẫn người học. Thoạt tiên không xếp đặt trước sau, cộng được 48 tắc gọi chung là “Cửa không cửa”. Nếu là kẻ dõng mãnh, không kể nguy vong, một dao vào thẳng, Na Tra tám tay giữ không được. Tây Thiên bốn bẩy (4x7=28) vị, Đông Độ hai ba (2x3=6) vị chỉ đành ngóng gió xin tha mạng. Nếu còn chần chờ thì giống như nhìn người cưỡi ngựa sau song cửa, chớp mắt đã vượt qua.
08/10/2010(Xem: 5741)
Tiểu sử chép: “Năm 19 tuổi Chân Nguyên đọc quyển Thực Lục sự tích Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang,chợt tỉnh ngộ mà nói rằng, đến như cổ nhân ngày xưa, dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, huống gì mình chỉ là một anh học trò”. Bèn phát nguyện đi tu. Thế là cũng như Thiền sư Huyền Quang, Chân Nguyên cũng leo lên núi Yên Tử để thực hiện chí nguyện xuất gia học đạo của mình. Và cũng giống như Huyền Quang, Chân Nguyên cũng đã viết Thiền tịch phú khi Chân Nguyên còn đang làm trụ trì tại chùa Long Động trên núi Yên Tử.