Đường Xưa

28/06/201715:48(Xem: 5203)
Đường Xưa


con duong-6
ĐƯỜNG XƯA

 

Vĩnh Hảo

 

 

Con đường nhỏ từ nhà bước ra vườn trước. Từ vườn trước lại có con đường nhỏ không tên dẫn ra đường lớn. Từ đường lớn của khu vực dẫn đến con đường lớn hơn. Rồi từ con đường lớn hơn lại dẫn vào con đường chính của thành phố.

Những con đường không tên. Những con đường có tên. Nhiều vô kể.

Một đời loanh quanh, đi tới đi lui những con đường.

Vẫn những con đường ấy, nhưng mỗi ngày, mỗi giờ, xe qua lại khác nhau. Những người lái xe cũng khác nhau. Xe cũ, xe mới. Người cũ, người mới. Và tuổi già, đến nhanh như xe vọt trên xa lộ.

Xe cộ mười năm, người trăm năm.

 

Đi qua lao xao phố phường, chợt lặng cười.

Dừng lại nơi ngã tư đường. Chờ đợi. Trầm mặc tư duy.

Nhớ nhân vật Sidhartha của Hermann Hesse trong Câu Chuyện Dòng Sông, từng nói sở trường của một du sĩ không nhà là “nhịn đói, suy tư, và chờ đợi.”

Sidhartha của Hermann Hesse chẳng qua là hóa thân của Sidhartha Gautama, đi vào trần gian bằng con đường của một gã lang thang vô định, không chọn trước một con đường nào, dù đã được khai thị bởi Sidhartha Gautama qua nhiều thời pháp…

Nơi ngã tư đường phố thị. Đèn đỏ đèn xanh hiệu lệnh cho xe, cho người. Những người ngoan phục đã sống quen dưới sự điều khiển của điện tử. Nề nếp văn minh được biểu hiện bằng sự sáng tạo của một thiểu số thông minh—về kỹ thuật số, mà không biết cách nào để sống hồn nhiên với loài người trong thế kỷ mới. Tìm kiếm phương cách sống tiện nghi, thuận lợi nhất bằng sự lãng phí tất cả thời gian, năng lực và tiền bạc của vô số người. Thiểu số người đang chế tạo những con robots có thể thay thế con người làm tất cả việc, trong khi loài người càng lúc càng sinh sôi tràn lan trên mặt đất. Rồi ra, con người sẽ cảm thấy mình vô dụng so với những robots được sáng chế bởi thiểu số ưu tú (elite). Vô dụng rồi thì ở đâu, làm gì cho hết thời gian cuộc đời! Khi thiểu số người được ưu đãi leo lên đến đỉnh cao của đời sống văn minh (kỹ thuật), vô số người khác bị bỏ lại bên lề cuộc đời. Rồi thất nghiệp, thất chí, bất mãn, biểu tình, đi bầu đại cho ai hứa hẹn những gì hợp ý mình nhất. Lẩn quẩn canh bạc đỏ-đen trong hí trường, và chính trường. Thế giới như được nhào nặn, uốn nắn theo vòng trôn ốc đã được định sẵn mà điểm đến của nó thường là trở lại nơi khởi đầu.

Những người năm trước và những người năm sau, xem chừng tờ tợ như nhau. Lặp đi lặp lại những điệp khúc vui-buồn. Cười thật lớn với những niềm vui rất nhỏ. Khóc khá nhiều bởi những chuyện không đâu. Lăng xăng nơi chốn đông người. Những người già người trẻ của hai ba thế hệ, cùng ngồi nơi bàn ăn, không nhìn nhau. Miệng nói, tay bấm, điện thoại chẳng rời tay. Như thể đời nầy bận rộn những điều quan trọng bậc nhất.

Những mùa lễ lạc, những buổi trình diễn, thi nhau ca tụng tán dương những thành quả hữu hình, và những gì tính đếm được (bằng nhân số, con số), không dính nhập gì đến niềm bình an tự tâm. Thi đua xây dựng những đền đài, dinh thự thật lớn với tấm lòng bé xíu và cái ngã thật to. Ngã càng to, càng làm chật chội đất trời.

Còn nơi nào cho một gã cùng tử lang thang ghé bước, dừng chân?

Nhịn đói, dễ thôi. Suy tư, dễ thôi. Chờ đợi, cũng dễ thôi. Nhưng chờ đợi gì giữa những mùa trăng mây phủ dầy đặc khung trời. Khi trăng vằng vặc soi chiếu trên sân vườn nhỏ thì mắt xanh năm nào đã mờ đục. Gỡ mắt kiếng xuống, chỉ thấy lòa nhòa bóng trăng, như là hoa đốm, giữa hư không.

Con đường xưa ai đã đi qua, có chăng một dấu hài.

Loay hoay, quanh quẩn một đời với những con đường tráng nhựa, những con đường thẳng băng dẫn đến các dinh thự lầu vàng, những con đường trải sỏi trắng sáng, những con đường lát đá hoa cương phẳng tắp, những lối mòn ngang qua cỏ xanh bị dẫm nát, những con đường gập ghềnh quanh co bên suối rừng…

Chợt một ngày trơ vơ trên đỉnh núi, ngơ ngác nhìn xa tận chân trời.

Muốn đi lại con đường xưa, mà hun hút bóng chim bay.

Ráng hồng phủ xuống nửa vòm tây.

Vạt nắng tan theo mắt ướt chiều tha hương.

Con chim ưng lẻ loi, bay lơ lửng trên bầu trời sa mạc trong xanh.

Kẻ phong trần lần tìm minh châu nơi chéo áo.

Bao năm ngủ/thức với đêm/ngày và hai vầng nhật/nguyệt trên cao, chỉ tự hỏi đâu là con đường.

Sidhartha từ một kẻ sở hữu tất cả đã tự nguyện làm kẻ không nhà lang thang, rồi lại sở hữu tất cả, rồi lại một lần bên dòng sông, buông bỏ hết.

Bên dòng sông, trong lòng sông.

Lắng nghe dòng thời gian và giấc mộng trường sinh chảy qua cầu.

 

“Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng

Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa

Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng

Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa…” (Tuệ Sỹ)

 

Có chăng dấu tích hay vết mòn từ một con đường mà du sĩ Sidhartha Gautama năm nào đi qua.

Đường xưa và đường nay khác nhau những gì.

Ồ, những du sĩ ngày nay không làm du sĩ nữa. Và cũng không làm ẩn sĩ.

Có mặt khắp nơi, sở hữu tất cả—mà không gì có thể buông bỏ được.

Những gì người nay sở hữu được chất đống, ngổn ngang, đóng lại tất cả con đường; trong khi người xưa chỉ cần trí tuệ để mở ra tất cả con đường.

Đóng hay mở, giữ hay buông, chỉ từ một tia chớp của trí tuệ.

 

Ai như Gautama một lần đi ngang trần gian nầy. Có tất cả, buông tất cả.

Ngay cả trí tuệ siêu việt khó người đạt đến—trí tuệ mà người nay lấy làm sự nghiệp giác ngộ, cũng buông bỏ, vượt qua.

Con đường xưa, vì buông bỏ mà không lưu lại dấu vết nào.

Có thể nào đi lại con đường ấy hay không?

Vẫn có một con đường để đi.

Vẫn có một khung trời để bay.

Sa mạc bình yên.

Mặt hồ tĩnh lặng.

Bầu trời không mây.

Con đường không lối.

Chỉ là buông hay không buông mà thôi.




biachanhphap68

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/07/2025(Xem: 1377)
Bạn ơi: Tại sao bây giờ con người quá thông minh, quá hiểu biết, quá sung sướng nhưng sao lại quá gian dối? Gian trá từ trong tối cao pháp viện, trong quốc hội và trong phủ tổng thống. Gian trá ở nơi thờ phượng gọi là linh thiêng thánh thiện, trong thương trường, trong tình bạn bè và ngay trong tình nghĩa vợ chồng. Và hệ thống truyền thông báo chí nói là loan tin trung thực cũng gian trá bằng cách bẻ cong sự thực và loan tin giả tạo. Thế nhưng ai cũng đề cao sự thực, tôn trọng sự thực. Nhưng này bạn ơi:
27/07/2025(Xem: 3071)
Thành đô rực rỡ muôn ánh đèn màu, những con đường nhộn nhịp người qua laị. Nam thanh nữ tú dập dìu dưới những tàng cây hoa vàng hai bên đường, thỉnh thoảng những cơn gió nhẹ thổi qua làm cho những bông hoa rơi xuống như mưa, chẳng mấy chốc là dập nát dưới những bàn chân vô tình. Âm thanh tưng bừng từ những chiếc loa hoà lẫn với tiếng cười đùa, tiếng quảng cáo từ rạp xiếc thú dã chiến dựng ở một góc công viên. Thỉnh thoảng người ta nghe tiếng rống của voi, tiếng gầm của sư tử… nhưng chỉ phút giây là hoà tan vào giữa vô số âm thanh của dòng đời.
14/07/2025(Xem: 1462)
Từ khi đọc được một danh ngôn (1) Khối óc,trái tim vấn vương luôn Tiếng lòng gọi …soi tìm ánh sáng Mở cửa nội tâm khám phá hơn Theo dòng chảy, cảm nhận tinh tấn Tìm lại chính mình…, gỡ buộc , ôm Ngôi nhà vắng lặng tên “SỰ THẬT” Hành trình trọn vẹn TRÍ ươm HỒN HH
04/07/2025(Xem: 2086)
Có những người vì gia cảnh nghèo, chật vật cơm áo hay lý do thời cuộc không được đến trường nên không biết chữ hay ít chữ nhưng như thế không có nghĩa là họ kém thông minh, đôi khi còn thông minh một cách đặc biệt. Người đó chính là ba tôi. Ba xuất thân tại một thôn làng nghèo miền Bắc trong một làng quê quanh năm chỉ thấy ruộng vườn, cá kèo và vài con gà trong sân. Nạn đói năm Ất Dậu hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương do Pháp và Nhật chiếm đóng Việt Nam càng làm quê nghèo thê thảm hơn. Số người chết đói như rạ, cầm cự được phải kể là có số đặc biệt.
04/07/2025(Xem: 3954)
Một hôm rảnh rỗi, vớ vẩn, tôi hỏi chồng tôi: -Sau này trăm tuổi, anh Lễ ước mơ được như thế nào? -Về già, anh mong được về Yên Bái và được gởi thân trên một ngọn đồi. Tôi cười: -Sao khôn quá vậy...chàng, lúc trẻ theo em ra nước ngoài hưởng thụ vật chất đủ đầy. Lúc già cả chân yếu tay run về quấy rầy con cháu bắt chúng hầu, ai mà gánh?
01/07/2025(Xem: 2264)
Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng là một nhà sư, thuộc thế hệ thứ ba của chùa Tây Tạng ở Bình Dương. Nhiều năm qua, tác giả Nguyễn Thế Đăng đã viết hàng trăm bài đăng trên Văn Hóa Phật Giáo. Tuần san và Nguyệt san Giác Ngộ cũng đã đăng hàng chục bài của tác giả, chưa kể các báo điện tử như giacngo.vn, thuvienhoasen, phattuvietnam.net, vanhoaphatgiaoblog.com, quangduc.com, sangdaotrongdoi.vn… mỗi báo cũng đã đăng hàng chục bài.
01/07/2025(Xem: 13498)
Truyện Cổ Tích "Con Chim Tu Hú", Mùa mưa là khoảng thời gian tuyệt vời để những mầm sống mới bắt đầu hồi sinh trên các cánh rừng mưa nhiệt đới. Loài thực vật khoác trên mình tấm áo mới xanh non và đâu đó trong rừng, các vùng đất ngập nước, từng bụi lau, sậy cũng vươn mình phát triển. Đó là nơi trú ngụ, làm tổ lý tưởng của một số loài chim chích đầm lầy thuộc giống Locustella.
03/06/2025(Xem: 2453)
Sáng hôm nay trời thật đẹp, nắng vàng ấm áp trải dài trên những nhành liễu, rồi những giọt sương đêm cứ tan dần, dòng chảy của vô thường cứ như thế mà luân lưu. Khiến mình nhớ tối hôm qua cầu nguyện và chia sẻ nỗi đau của 1 bạn trẻ, bạn ấy đã bệnh rồi, bạn kể mỗi 1 lần xạ trị là 1 lần đi qua cửa địa ngục. Chỉ còn vài hơi thở thoi thóp trên giường bệnh, bạn ấy đã nhìn những người thân xung quanh nước mắt dâng trào và cầu cứu người thân hãy cứu mình.
24/05/2025(Xem: 2194)
Xưa nay thiên hạ vẫn cho là “Thân gái mười hai bến nước trong nhờ, đục chịu” hàm ý về thân phận nữ nhi Việt Nam khi lập gia đình trong mười hai thành phần sang hèn trong xã hội: Sĩ, nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục, công, hầu, bá, tử, sẽ lọt trúng thành phần nào. Đã vậy, khi bước chân lên xe hoa về nhà chồng như đem cuộc đời đánh lô tô mà phần đục nhiều hơn phần trong. Đa số, bên cạnh niềm vui làm cô dâu vẫn canh cánh bên lòng không biết về nhà chồng sống chung với những người khác máu tanh lòng họ sẽ đối xử mình ra sao. Viễn ảnh về những bà mẹ chồng,
22/05/2025(Xem: 1736)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy về định tâm, tuyệt dục và thấy tánh, ghi trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch. Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm.