Gõ Cửa Vô Thường

29/08/201616:53(Xem: 5655)
Gõ Cửa Vô Thường
go cua vo thuong
GÕ CỬA VÔ THƯỜNG


Như Hùng

 

Cứ thế, một ngày vụt qua, lững thững ra đi không lời ước hẹn, cứ vậy, mịt mùng trao đổi, thân phận dòng đời, chờ chực vây quanh, chạy quanh lối mộng. Chiều xuống, nỗi buồn miên man gởi bay theo gió, trên kia cơn nắng chói chang của mùa hạ còn vương lại đâu đây, lặng nhìn núi đồi hoa lá, từng ấy trong lòng, một cõi mù khơi. Những giọt mồ hôi uể oải, từng nỗi đớn đau lũ lượt đọng lại, từng cơn hiu hắt thấm vào hồn, bây giờ trở thành những đơm bông kết nụ, những đắng cay ngọt bùi. Đâu đó, một chút hương lạ, làn gió bất chợt nhẹ lay, điểm tô không gian lắng đọng phiêu bồng, những thinh âm cao vút tận trời không, những hằng sa bất tuyệt chốn không cùng.

 

Buổi chiều, cổ xe già nua lầm lũi leo lên con dốc, thân phận dòng đời, kéo theo vạt nắng úa vàng còn sót lại, chiếc xe ì ạch cứ thế mà leo, lầm lũi mà trèo, chông chênh mà theo. Người cầm lái, lo sợ hụt hẫng đớn đau, cứ mãi miết bám chặt, nối đuôi đi theo, hối hả cố sức để chạy, không còn cách nào, biết vậy cứ vẫn làm theo, có còn chi nữa cũng phải leo. Con dốc cao, đang còn cao, vẫn cứ cao, không có gì cao hơn, biết vậy nhất định phải cao. Ở phía sau, đàng sau, nơi đó, có vô số không biết bao nhiêu là xe, cuộc lữ thứ gian truân, đếm không biết bao nhiêu cuộc đời thân phận, có không biết bao nhiêu bến đỗ ngập tràn. Cứ thế, vun vút lầm lũi vượt qua, sợ thời gian không cho phép, sợ đi trể về khuya, sợ bị đuổi việc, sợ thời gian nghiệt ngã, không kịp chuyến đò, sợ phải leo dốc một mình, sợ không còn cơ hội, sợ người trông kẻ ngóng, kẻ thương người ghét, sợ phải đối diện với mọi thứ. Từng chiếc, lại từng chiếc lao tới, từng thân phận từng hồi từng chặp, dọ bước run rẫy khó khăn, mất hút khỏi tầm nhìn, vụt khỏi tầm tay, về với hư vô lữ thứ.

 

Ừ! thật may, còn có kẻ đồng hành tương ngộ, cùng chung lối mộng, lận đận cứ mãi miết bám theo. Có những nhân ảnh đôi bờ hai ngã, lạc bước truân chuyên hoang dại. Rồi lại, cứ để mặc cho đợi chờ im lìm, hoàng hôn tắt lịm, ầm ĩ với gió mưa cuồng nộ, chút gởi trao âm thầm lặng lẽ.

  

Đường về, từng bước nhọc nhằn, thẫn thờ tiếc nuối, hiên ngang tiến bước, chờ trăng lên đợi gió đến, tháng ngày cuộc mưu sinh. Đường xưa lối cũ, con đường mộng mơ, con đường rợp bóng, ngõ hoa xanh giờ phủ lá vàng, thời gian mãi miết trôi, hàng cây bên vệ đường trở nên xám xịt, trơ cành trụi lá, núi đồi lặng câm, khúc ly biệt não lòng. Lá và cây hoa và nụ, con người và thiên nhiên, một dạo là những đâm chồi khoe sắc toả hương, bây chừ là những héo hon buồn bã, tiễn bước thời gian. Con đường ta đi, chỉ mình ta dạo bước, không một ai bước hộ thế ta, một mình một bóng, riêng ta một cõi.

 

Có dạo, là những phong sương bụi đường, những tàn phai nhạt nhòa rơi rụng. Bây giờ, nỗi buồn miên man, niềm đau rên xiết. Không lẽ, một đời một kiếp chỉ vậy thôi sao, đành lòng vậy sao? Giật mình, sực tĩnh, chợt nhớ ra, cánh cửa vô thường lạnh lùng khép lại, người còn hững hờ dạo quanh, hết ngóng lại trông. Lời kinh cầu đưa người sang sông, khúc thinh âm cuốn tận phương nào, chút hương lạ trôi miền lữ thứ.

 

 Ôi! con dốc thời gian, ôi! cơn lốc vô thường, ôi! cái vòng sinh diệt tới lui lẩn quẩn. Một cuộc đời, một kiếp sống, một thân phận bồng bềnh trôi, chuỗi thời gian con nước vô thường, mới đó giờ đã đi rồi, mở ra khép lại muộn màng. Vòng quay tới lui, nhiêu khê nghiệt ngã, bản năng còn sót lại, sản phẩm của tâm thức, những tác tạo rủ rê không ngừng. Ở đó, còn là một định luật không hề thay đổi. Lắng lòng, nhìn cho thật thấu đáo, mê muội chóng quên, nghiệp quả không cùng, bến mê bờ ngộ, thong dong tất dạ, tất cả trỗi dậy quấn chặt, cuốn hút lấy ta không một phút giây xa rời.

  

Niềm lo nỗi sợ, dâng cao choáng ngợp, tử sinh huyễn mộng, mở ra kéo lại nhận vào, đơm hoa kết trái, đắng cay ngọt bùi. Trong lòng canh cánh một mối, lo đủ thứ sợ đủ điều, có quá nhiều thứ, nhiều điều để lo để sợ. Nhưng có một thứ ít người biết sợ, mà đây lại là điều đáng lo đáng sợ nhứt, vô thường.

  

Thay vì, để cho vô thường gõ cửa, thì ta mạnh dạn gõ cửa vô thường.

  

Khi ta để cho vô thường gõ cửa, là lúc ta còn mãi mê, chạy theo cảnh theo người, cuộc sống của ta bế tắc mất phương lạc hướng, không rõ đường đi lối về, ta lạc bước ngẫn ngơ. Khi mọi thứ chung quanh ta biến dạng đổi thay, lũ lượt hành hạ, âm thầm ra đi, ta cuồng cuồng lo sợ, nỗi trôi đau khổ. Khi thân thể ta, đột nhiên bệnh tật tới thăm, tâm ta xáo trộn bất an, đời sống luôn phiên bị tước đoạt, vô thường réo gọi, ta bất lực không làm gì được, bó tay cột chặt nhốt kín. Khi ta chìm đắm chạy theo đủ thứ làm đủ điều, nhắm mắt bịt tai, trôi lăn cùng huyễn mộng ba sinh, không biết quay về, tìm nơi nương tựa. Khi ta mãi miết sống gửi bám theo, những dong ruổi gọi mời, những chực chờ cạm bẩy tai hại, không nhận ra nguồn cội của từng vấn đề. Khi ta cứ để cho vô thường sát hại truy bức, chủ động dẫn đưa, không một lời tra hỏi. Có những niềm đau giá buốc đè nặng, có những dòng đời nghiệt ngã ngộp thở, có những thân phận lững lờ trôi muôn hướng, dù vậy ta cứ cam chịu là tại làm sao, vì sao?

  

Cho cùng, chỉ có ta mới hùng dũng mạnh dạn hiên ngang gõ cửa vô thường. Chỉ có chính ta mới đủ năng lực làm cho nội tâm càng thêm vững chãi. Chỉ có chính ta mới đủ bình tâm đối diện với vô vàn biến động vây quanh. Chỉ có chính ta mới ý thức trọn vẹn được giá trị của vô thường, hiểu thấu vô thường. Nhờ sự nhắc nhở răn dạy thường xuyên đó, nhờ những truy bức cùng cực, đẩy ta đến chỗ cùng đường bí lối đó, nhờ những biểu hiện tác yêu tác quái liên tục đó. Ta mới thấy được ý nghĩa vi diệu của đời sống, sự mong manh của kiếp người, khiến ta tìm phương thoát ly, trân quý gìn giữ mọi giá trị chung quanh, trân trọng từng phút giây an lành sống thở. Ta biết, nhờ đó nương theo sống cùng, ta an nhiên đối mặt, giải thoát chính mình, vượt ra ngoài hệ lụy thống khổ phủ vây.

  

Ý nghĩa và giá trị đích thật của vô thường, là khi ta nhận chân ra được bản thể thường tại như thật của các pháp. Là lúc ta biết rõ ràng, mọi sự đổi thay biến hiện là điều tất nhiên như vậy. Là khi ta chiêm nghiệm sáng soi, có không đến đi được mất, đều là lẽ thường tự nhiên vốn dĩ như thế. Là lúc ta hiên ngang đối diện, cõi lòng hoan hỷ bình thãn chấp nhận. Bởi, có không đến đi được mất, sinh lão bệnh tử, đây là qui luật tự nhiên rõ ràng như thế, bất di bật dịch như vậy.

 

 Dù đứng ở đâu từ đâu góc cạnh tầm nhìn nào, khi ta có được sự minh mẫn tĩnh thức, thì không còn gì có gì, để lo để sợ. Ta phải biết rõ ràng, chưa một ai sẽ không có một ai ngoài ta, có thể thay đổi và làm khác đi được. Chỉ có chính ta chứ không ai khác mới đủ thẩm quyền, bằng lòng sống chung với vô thường, hết lòng trọn dạ đón nhận. Chỉ có ta chứ không một ai, dù thường xuyên bị vô thường bức hại, nhưng nhờ vậy ta mới có những trãi nghiệm tuyệt vời, những kinh nghiệm quý báu. Chỉ có chính ta chứ không một ai, đấng quyền năng tối cao, thiên thần nào, có thể làm khác đi nghiệp quả do ta tác tạo. Để ta có đủ bình tâm chỉ danh điểm mặt nhận diện, dốc lòng ra sức vươn lên vượt thoát.

Rốt cuộc, chính ta mới đủ năng lực, thẩm quyền hoán chuyển mọi thứ, bằng lòng mĩm cười, hoan hỷ đón nhận, thanh thản đối diện. Sống với vô thường mà không hề hấn, an nhiên tự tại giữa chốn phong ba biến động, vì ta chính là chủ nhân của hạnh phúc, khổ đau, sanh tử, niết bàn.

 

Như Hùng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/12/2016(Xem: 18557)
Bước vào thiên niên kỷ mới, trong mười năm của giai đoạn đầu tiên (2006-2016), Phật giáo đã khai dụng được nhiều cơ hội nhưng cũng phải đối diện với lắm thách thức giữa một thế giới đầy biến động. ● Xin nhận diện một số cơ hội: Xu thế mà người dân trong hai lục địa Âu và Mỹ đón nhận Phật giáo vừa như một triết lý sống nhân bản, vừa như một khoa học trị liệu hiệu quả đã bước qua khỏi giai đoạn nghiên cứu kinh viện để lan tỏa ra trong nhiều lãnh vực ứng dụng thiết thực khác của đời sống. – Hiện tượng những tổ chức Phật giáo quốc gia đơn lẽ đang nhịp nhàng gia nhập vào các mạng lưới Phật giáo quốc tế đã trở nên chặt chẻ hơn. – Những công trình nghiên cứu và khảo sát kinh điển Phật pháp càng lúc càng nhiều và càng có phẩm chất nhờ ứng dụng công nghệ thông tin khi xử lý các văn bản. – Nghệ thuật và văn học Phật giáo được giới trí thức trên thế giới khám phá và xác nhận như một dòng chủ lưu đóng góp vào những giá trị nhân văn của nhân loại – …
03/12/2016(Xem: 14831)
Sau nhiều năm nghiên cứu Kinh Dịch bị nhận lầm là của Trung Hoa, tôi phát hiện Trung Thiên Đồ được ẩn dấu trong truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, mà đồ này đặc biệt lại là chìa khóa để viết Kinh Dịch, nếu giảng Kinh Dịch theo phương vị Hậu Thiên Đồ như cách làm của các Dịch học gia Trung Quốc từ cổ đại đến hiện đại thì sẽ khiến cho Quái từ, Hào từ trong kinh văn trở nên khó hiểu, rời rạc, đứt đoạn. Ngược lại nếu giảng theo phương vị Trung Thiên Đồ thì câu chữ hóa thành sáng sủa, mạch lạc, mỗi quẻ là một bản văn hoàn chỉnh, liên ý với nhau. Trung Thiên Đồ chính là chứng từ duy nhất để chứng minh Kinh Dịch là di sản sáng tạo của tổ tiên người Việt Nam.
03/12/2016(Xem: 5954)
Tản mạn về năm Dậu - *rơ(ka) - gà (phần 14A) Nguyễn Cung Thông Phần này viết về năm con gà (Dậu), tiếp theo1 phần 14 "Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Dậu - *rơ(ga) - gà (phần 14)", chú trọng đến các dạng khác nhau của danh từ gà cũng như tại sao loài gia cầm này giữ một vị trí đặc biệt trong 12 con giáp Á Châu. Các âm thanh của gia cầm rất quen thuộc với con người - từ ngàn năm qua - là tiếng chó sủa, tiếng gà gáy và mèo kêu meo meo ... Chỉ có tiếng gà gáy đã ghi lại nhiều dấu ấn trong văn hóa và ngôn ngữ vì có khả năng liên h
19/11/2016(Xem: 8330)
Nhưng việc ra mắt sách chỉ là cái cớ, bởi bản thân dòng thông tin ngắn gọn rằng nhà sư Thích Phước An từ đồi Trại Thủy (Nha Trang) vào Sài Gòn đã có một sức quyến rũ đặc biệt đối với bạn bè, người đồng đạo và giới quan tâm.
16/11/2016(Xem: 23247)
Mục đích của giải thưởng là khuyến khích việc sáng tác cá nhân, xuất phát từ nguồn cảm xúc đối với các hiện tượng thiên nhiên và đời sống xã hội, được miêu tả, bằng nhận thức, lý giải và thái độ sống động qua những lời dạy của Đức Phật. Bài tham dự có thể trình bày dưới nhiều hình thức như tác phẩm nghệ thuật, truyện ký, truyện ngắn, tạp bút, thơ… Người viết hoàn toàn tự do chọn đề tài, miễn có liên quan đến tư tưởng Đạo Phật và nội dung có thể chuyển tải được giáo lý thâm sâu, vi diệu mà rất gần gũi, giản dị của đức Phật trong đời sống hàng ngày.
19/10/2016(Xem: 27538)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
07/10/2016(Xem: 17546)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
27/09/2016(Xem: 9599)
Không bíết từ bao giờ những chú chim đã quây quần về đây càng ngày càng đông, nhảy nhót ca vang trên cành cây bên cạnh nhà mỗi ngày khi mặt trời chưa ló dạng. Nằm nướng vào những ngày cuối tuần, hay những hôm trời mưa rỉ rã, lúc trời đất giao mùa nghe chúng riú rít gọi nhau đi tìm mồi mình cũng thấy vui vui.
22/09/2016(Xem: 45812)
Đã có nhiều người nói và viết về nhạc sĩ Hằng Vang . Phần nhiều là những bài viết trong sáng, chân thực. Thiết tưởng không cần bàn cãi, bổ khuyết . Viết về anh, nhạc sĩ Hằng Vang, tôi chỉ muốn phác một tiền đề tổng hợp cốt tủy tinh hoa tư tưởng, sự nghiệp sáng tác của anh ; rằng : Anh là một nhạc sĩ viết rất nhiều ca khúc cho nền âm nhạc Phật Giáo Việt Nam, anh là một thành phần chủ đạo trong dòng chảy âm nhạc nầy ngay từ khi khởi nghiệp sáng tác thời phong trào chấn hưng Phật giáo, xuyên suốt qua nhiều biến động lịch sử trọng đại của PGVN cho đến tận bây giờ, anh vẫn miệt mài, bền bĩ cảm xúc, sáng tạo trong dòng chảy suối nguồn từ bi trí tuệ đạo Phật.
21/08/2016(Xem: 6263)
So sánh cách đọc Hán Việt (HV) với các cách đọc từ vận thư ("chính thống") của Trung Quốc (TQ) cho ta nhiều kết quả thú vị. Có những trường hợp khác biệt đã xẩy ra và có thể do nhiều động lực khác nhau. Chính những khác biệt này là dữ kiện cần thiết để xem lại hệ thống ngữ âm Hán Việt và tiếng Việt để thêm phần chính xác. Bài viết nhỏ này chú trọng đến cách đọc tên nhà sư nổi tiếng của TQ, Huyền1 Trang (khoảng 602–664, viết tắt trong bài này là HT) 玄奘 hay Tam Tạng, có ảnh hưởng không nhỏ cho Phật Giáo TQ, Việt Nam, Nhật và Hàn Quốc. Sư HT đã dịch nhiều bộ kinh và luận Phật giáo từ tiếng Phạn qua tiếng Hán, đưa Phật giáo gần đến nguồn Ấn Độ nguyên thủy hơn so với nhiều kinh dịch sai sót nhưng rất phổ thông vào thời trước (và cho đến ngay cả bây giờ).