Tôi Tập Làm Thơ Haiku

29/03/201318:17(Xem: 17320)
Tôi Tập Làm Thơ Haiku

chu khong


Tôi Tập Làm Thơ Haiku

Thiên Hương


Hôm trước, một người bạn gửi một bài thơ Hai-ku, thấy hay hay tôi cũng bắt chước làm vài câu…

Sáng sớm ngày đầu thu

Tiếng chim non đầu nhà lảnh lót

Cho chiếc lá vàng rơi.....


Mưa sao lại hắt hiu

Trời sao chợt dâng mây ủ rũ

Buồn ngỡ hết lại đầy


Ơ kìa nắng đã lên

Leo lắt chút niềm vui chợt đến

Đời như lại hồng lên...

(03/04/05)


Viết xong, gật gù khoái chí, thấy tự hào lắm. Nhưng khi bạn tôi đọc, cô ấy bảo, chưa đạt được tinh thần Haiku… Tức quá, vào web searched những bài về Haiku…

Về hình thức thì Haiku gồm 3 câu và 17 âm, không phải 17 chữ, chia làm 5,7,5.[1]

Xem lại mấy câu thơ của mình. 5, 7, 5 … . 5, 7, 5 … rồi lại 5, 7, 5 có gì sai trái đâu, sao lại bảo chưa phải là thơ Haiku nhỉ….

Lại đọc tiếp:

“Haiku không phải là một phim bộ dài dòng mà là một tấm ảnh chụp lấy một khoảng khắc, một trừu tượng, một tư duy, nên nhiều khi vài chữ cũng đủ.“ 1

Lại xem lại bài thơ, có chụp lấy
một khoảng khắc, một trừu tượng, một tư duy đấy. Thế thì tại sao….

"Trên cành khô

Chim quạ đậu

Chiều tàn mùa thu" [2]

Trong bài thơ của Basho, ba câu, mười chữ, một cảnh mùa thu, một chiếc cành khô, một con quạ đậu, một buổi chiều tàn… Chỉ vỏn vẹn mười chữ, nhưng vẫn là thơ, vẫn đủ gợi lên được hình ảnh lặng lẽ, khô khan và buồn bã của những ngày thu héo hắt sắp bước vào mùa đông buồn thảm…

Đọc lại bài thơ của mình, chín câu, ba mươi sáu chữ mà cũng chỉ vẽ lên được một buổi sáng thu với chút nắng hồng lên… Thừa chữ mà thiếu hồn, hình như vậy, nói đúng hơn, chắc chắn là vậy, vì lạm dụng ngôn từ, vì hình ảnh nghèo nàn, buồn nhỉ…

Người bạn góp ý sửa lại câu thơ….

“Sáng đầu thu

Tiếng chim non đầu nhà

Chiếc lá vàng rơi.....”


Chỉ ngắn gọn thế thôi, thế là đủ cho một buổi sáng thu, có cả tiếng chim ca, cả chiếc lá lìa cành….

Người bạn lại bảo…

Làm haiku là làm vài câu ngắn ngủi, nguệch ngoạc vài nét không cần chú trọng đến vần điệu, cấu trúc, chủ yếu là ghi lại vision, về sự vật/sự việc một cách hiện thực, đơn giản, "as is", không mô tả cảm xúc (do đó không dùng tĩnh từ và trạng từ), không mô tả quá khứ và vị lai của sự vật/việc, nhìn ngay lúc đó nó như thế nào thì mô tả lại nhu thế “Tả” chứ không “diễn tả”

Dùng những từ thật đơn giản dễ hiểu, không dùng metaphor (ẩn dụ ?) . Đề tài của haiku thường là thiên nhiên và những mùa trong năm, thí dụ tả mùa xuân hạ thu đông, không dùng chữ xuân hạ thu đông trong bài, nhưng được quyền dùng hình ảnh hoa anh đào, ve sầu, lá vàng, tuyết. Giống như một rock garden vay, những tảng đá lớn nhỏ xếp theo hình thể gì, tạo cho người thưởng ngoạn cảm tưởng nghe một thác nước đổ, ngắm một rừng lá thông phủ kín mặt đất, v.v..”[3]

Trở lại internet, chính nghĩa của Haiku cũng chỉ là để diễn đạt…

Chữ "hai" trong "haiku" là chữ "bài" Hán Việt có nghĩa là trình bày, diễn đạt; "bài ưu" trong tiếng Hán Việt nghĩa là "phường tuồng", và người Nhật đọc là "haiyu" dùng để chỉ các diễn viên kịch nghệ hay điện ảnh. Chữ "ku" là chữ "cú" Hán Việt, nghĩa là "câu nói/viết". "Haiku" như vậy có nghĩa là "câu nói/viết để trình bày, diễn đạt”…

Fu ru i ke ya - Trong ao xưa

Ka e ru to bi ko mu - Con ếch nhảy vào

Mi zu no o to - Tiếng nước khua” [4]

Ba câu, mười từ…. một ao nước, một tiếng nước khua do chú cóc tạo nên…

Chỉ cô đọng trong vài chữ, cảnh vật đã được diễn tả đầy đủ.

Nhưng có phải thơ vẫn là như thế, không cần dông dài mà luôn đủ ý khi diễn tả cảnh vật.

Thụy Khê cũng nóiThơ là thể cô đọng nhất của văn chương. Theo Jakobson: thi ca là một phát ngôn nhắm vào thể cách phát biểu (un énoncé visant l'expression). Do đó, chúng ta có thể coi thơ như một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ.[5].

Nhưng nếu chỉ để diễn tả, đâu cần phải mượn đến Haiku, thơ Việt nam mình cũng nhiều bài hay lắm chứ, rất cô đọng mượt mà, vẫn dồi dào xúc tích như những bài Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan….

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
[6]

Các bài Cảnh Thu của Bà Huyện, ba chùm thơ Thu ẩm, Thu Điếu, Thu Vịnh của Nguyễn khuyến; Gió Thu của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, v.v… cũng vẽ nên những cảnh thu man mác trong vài câu thơ ngắn gọn. Xem thơ như đứng trước những bức tranh tuyệt bích vờn chải lại được hết cái hồn thơ man mác của mùa thu… Những hạt mưa lất phất trên những tàu tiêu, trên cây cổ thụ với biển sóng trắng xoá (BHTQ). Một chiếc ao con, một chiếc thuyền câu bé tẻo teo, những chiếc lá vàng bay vèo trong gió (NK) . Tiếng lá khô xào xạc, con nai vàng ngơ ngác (LTL).

Về Xuân thì Xuân Ý của Huy Cận cũng nhẹ nhàng mà đủ ý….

Đêm vừa nhẹ, gió vừa mơn

Cây chen ánh nguyệt trải vờn bóng xanh [7]


Hay Ông Đồ Già của Nguyễn Đình Liên cũng vẽ lên đuợc một ngày xuân với một ông đồ già dưới cơn mưa bụi bay.

Vậy thì đâu cần phải Haiku, khi cần diễn đạt cảnh sắc, các thơ tự do, thơ thất ngôn, lục bát, v.v của Việt nam … vẫn hoàn thành nhiệm vụ diễn đạt thật tuyệt vời và xuất sắc. Thơ Haiku gọn quá, ngắn quá nên không gợi nên những rung động sâu thẳm như những lời thơ của Xuân Diệu, hay những lời nhạc của Đoàn Chuẩn Từ Linh qua Thu Quyến Rũ, Lá Đổ Muôn Chiều…

Nhưng như vậy thì tại sao Haiku lại nổi tiếng như thế, và tại sao bây giờ lại nhiều người tìm đến Haiku đến thế….

Cô bạn tôi bảo: “Haiku là một loại thơ thiền, để thực hành thiền dễ dàng nhất. Thiền là một cách giúp tìm sự bình an trong tâm hồn do việc tập nhìn mọi sự việc đơn giản thuần khiết.

Như vậy Haiku nổi tiếng nhờ tính thiền của nó:

"Nhiều chuyện

làm nhớ lại

Hoa anh đào"[8]

Theo Hạ Thanh bài thơ này rất thiền vì đã nêu lên vấn đề vô thường và “nói theo ngôn ngữ nhà Phật, hoa anh đào là biểu tượng của sự vô thường trong cuộc đời.[9]

Trong những tháng ngày hiện tại, học thiền bỗng trở nên một trào lưu sâu rộng. Có lẽ cuộc sống quá phức tạp, quá máy móc, cám dỗ vật chất quá nặng nề, nhu cầu mỗi lúc một nhiều, lại không còn phải lo toan nhiều về miếng cơm manh áo, sự dư thừa về vật chất đưa đến sự thiếu thốn về tâm hồn, và áp lực từ môi trường sống khiến cho con người mệt mỏi hơn, cần xoa dịu về tinh thần nhiều hơn. Và như thế, nhiều người đã tìm đến thiền như tìm một hướng đi để giải thoát…. Và như thế, Haiku trở nên thịnh hành.

Tôi xem lại những câu Haiku của mình…

Nhánh hoa đào sót lại

Nở nụ hồng rạng rỡ nắng mai

Xuân về ngát thinh không

Dao trì xanh ngăn ngắt

Dáng sen bình nhiên nở dịu dàng

Hương thiền dâng chất ngất

Rặng liễu xanh bờ ngõ

Sáo trúc chiều thoảng vút trời cao

Cúc nở vàng bỡ ngỡ

Ngoài hè cành khô rũ

Lửa trong nhà ấm áp tâm can

Đời chợt là sương khói.....

(15/03/05)

Vẫn còn thiếu sót một cái gì đó…. Bài thơ vẫn dư chữ và thiếu ý…. Vẫn không đạt được triết lý Sabi của cái nét đẹp mỹ thuật của thơ Haiku. Nó không có cái “vẻ đẹp tao nhã, u huyền”, cũng không tạo được cái “vẻ đẹp trầm lắng, man mác làm miên man lòng người nhưng không xa cách cuộc đời.” Có phải vì tôi đã sử dụng quá nhiều tính từ, và trạng từ trong những câu thơ của tôi.

Ngồi xuống, thử viết thêm vài câu

Trong đêm đen

Đóa hoa quỳnh đang nở

Sáng long lanh

Sáng sớm nay

Hàng cây khô trụi lá

Chim vẫn hót

Chiều xuống dần

Nắng chợt tắt bên hiên

Sương ướt vai…

(04/04/05)

Vẫn thấy gượng ép thế nào, đọc lại những dòng thơ của bạn tôi ….

tich tac

tiếng đồng hồ trên tường

trong đêm đơn

------------

Căn phòng đêm

ngọn nến lung linh

mùi trầm toả

--------------------

tháng ba

tràng hoa giáng sinh

còn trên

khung cửa xám [10]

Gọn hơn, mà đủ nghĩa hơn. Những chữ thật giản dị mà sao tôi không viết ra được. Tại sao thơ của tôi luôn nặng về ngôn từ, có vẻ chải chuốt nhưng lại rỗng hoác buồn tênh… Tại sao, và tại sao…

Buổi trưa, tôi rời căn phòng làm việc bước ra đường. Những hàng cây đã bắt đầu chớm lá vàng, những cơn gió nhẹ đã bắt đầu thổi những chiếc lá vàng nhỏ xíu. Những chiếc lá xoay xoay, xoay xoay. Nhớ đến những người bạn ở bên kia quả địa cầu đang hớn hở khoe mùa xuân đến. Nhìn những chiếc là vàng rơi, nghĩ tới những ngày sắp đến, ngày đã dần ngắn lại ở xứ Úc này. Tự dưng, lòng thấm thía hai chữ vô thường của tạo hóa. Và tôi chợt hiểu ra tại sao mình chưa thể làm được những bài thơ Haiku đúng nghĩa…

Thơ Haiku, bản chất của nó, như bạn tôi nói “chỉ ghi lại sự vật một cách hiện thực, đơn giản, "as is", không mô tả cảm xúc, không mô tả quá khứ và vị lai của sự vật/việc, nhìn ngay lúc đó nó như thế nào thì mô tả lại nhu thế.“

Thơ của tôi còn dùng quá nhiều tính từ và trạng từ, còn gượng cứng vì tôi đã bỏ cảm xúc của mình vào nhiều quá. Tâm còn quá vọng động, còn quá mải mê trong BẢN NGÃ (self) của mình nên chưa đạt được tính thiền, chưa cảm nhận được hai chữ VÔ THƯỜNG của đời sống. VÔ THƯỜNG tự nó không có gì là buồn hay là vui. Mọi việc đều Tùng duyên khởi. Xuân đi trăm hoa tàn, xuân đến hoa lại nở. Hoa thích ứng theo sự thay đổi của bốn mùa. Tàn hay nở cũng không quá hoan hỷ mà cũng không quá ưu sầu.

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tòng đầu thượng lai [11]

Hiện tượng hoa tàn, hoa nở được mô tả với “một tâm tư bất động, khách quan, không gán ghép, không đánh giá gì sự vật cả, cho nên thiền sư không dùng trạng từ, cũng không dùng tĩnh từ trong các câu của mình … Chỉ nhìn sự vật biến thiên chứ không bình luận. …

Bốn câu, hai chục chữ, mà đã có tới sáu động từ và không một tĩnh từ hay trạng từ nào cả. Rõ ràng đó là một cách tả chân rất khách quan hơn cả thứ văn thơ hiện thực hiện đại. Phải là một tâm tư tịch nhiên vắng lặng mới có thể dùng được thứ ngôn ngữ có vẻ như lạnh lùng mà lại nên thơ như vậy.” [12]

Trong khi đó, tôi lại nhìn cảnh vật dưới cặp kính màu hồng hay đen tùy theo lúc vui hay buồn. Mô tả cảnh vật luôn như trong mấy câu Kiều của Nguyễn Du

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!

Tâm chưa tịnh nên thơ còn vọng động. Cây đào nở hoa mà mãi run rẩy vì gió đến thì hoa mãi lâu tàn sao được. Tâm còn chưa yên nên thơ còn khúc khuỷu xuống lên với những trạng từ và tính từ…. Lòng còn xao xuyến nên nhìn vật chưa thấy được bản thể thì làm sao tả chân được sự vật.

Chưa nhận ra được tính vô thường của sự vật, chưa xác định được cái thật có, hay nói chung chưa hiểu tường tận được hai từ Như Thị thì làm sao an nhiên tự tại.

Chỉ một chút gió thu lay lắt hay vài chiếc lá vàng vu vơ, hồn đã chùng xuống theo những tiếng thở dài. Chỉ vài hạt mưa cũng làm đôi mắt nâu nhòe nhoẹt nước mắt. Biết đến khi nào vật có hoặc không cũng không làm xao động tâm thức, hoa nở hoặc tàn cũng không làm héo úa thời gian, nước chảy mây trôi cũng không làm tâm hồn dậy sóng…..

Tâm chưa an, nên những vần thơ viết lên chưa thể là Haiku. Lại còn quá gượng ép vay mượn ngôn từ tìm tiếng diễn tả, cái tâm chưa thoát, lòng còn vẩn đục thì thơ thế nào êm ả. Cứ mãi đi tìm bản chất, cứ mãi phân tích hiện tượng nên nẻo thiền càng lúc càng xa diệu vợi.

Nhứt thiết hữu vi pháp,

Như mộng huyễn bào ảnh,

Như lộ, diệc như điển

Ung trụ Như Thị quán!!! [13]

Hãy quẳng hết ưu tư, quẳng hết những âu lo phiền muộn, nhìn hoa để chỉ thấy hoa, nhìn nắng để chỉ thấy nắng. Nhìn vạn vật với Như thị quán, lòng sẽ an nhiên và như thế liệu tôi có viết nổi vài câu haiku hay không….

Nhắm mắt lại, và thử lần nữa nhé, không biết đã được chưa….

Mưa đã dứt

Người khách trên đuờng

Bước chân đi

Nắng đang lên

Đường phố nở hoa

Chim sẻ hót

Cánh đồng cỏ

Đàn bò tha thẩn

Bướm lượn bay….

và lại nữa…

Trên đài sen

Đức Phật nhìn xuống

Mỉm cười…

Trong bình hoa

Đóa hoa hồng nở

Khói hương bay….

Thiên Hương

Melbourne - 05 / 04 / 05



[1]http://suoinguontamtu.com/bonphuong/baiviet/van/phamdoanh/5_Haiku.htm

[2]Thơ Basho - http://www.quangduc.com/tho/92VithientrongcuaBASHO.html

[3]Minh Lê

[4]http://www.vietnameseinaustralia.com.au/Forum/haiku.asp

[5]http://chimviet.free.fr/tacpham1/cautructho/chuong04.html

[6]Qua đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan

[7]Xuân Ý, Huy Cận

[8]Cánh hoa anh đào muôn thuở - Basho

[9]Vị Thiền Trong Thơ Basho - Hạ Thanh

[10]Minh Lê, 03/04/05

[11]– Cáo Tật Thị Chúng - Thiền sư Mãn Giác. Ngô Tất Tố dịch: Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười, Trước mặt việc đi mãi, Trên đầu già đến rồi

[12]Về Một Bài Thơ Thiền Mùa Xuân - Vĩnh Hảo

[13]Bài kệ trong KINH KIM CANG:

 

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/04/2026(Xem: 171)
Nghiệm tâm tu học…! Từng thời khắc trong cuộc đời này, ai biết tìm về hơi thở, ai biết tìm về đức tính từ bi, ai biết tìm về đức tính kham nhẫn thì chúng ta sẽ luôn luôn an trú trong từng hạnh nguyện nghiệm tâm tu học như từng dấu ấn xưa nay. Nghiệm tâm tu học, là pháp hành trong từng thời khắc, quán chiếu về hơi thở, tập nhìn bằng đôi mắt tình thương, nở nụ cười trong từng khoảnh khắc đi qua, trì niệm trong từng thời công phu tu tập cảm thấy tâm tự tại. Nghiệm tâm tu học, là pháp hành trong pháp hoa kinh, ở phẩm Trì, trong đó có đoạn: ….”Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã đặng thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng : “Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói Kinh này. Vì sao? - Vì người trong nước Ta-bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, dua vạy tâm không chơn thật”. Nghiệm tâm tu học trong đoạn kinh trên, chúng con rút ra được ba điều: 1: Tâm cung kính cá
13/04/2026(Xem: 645)
Bài viết này phân tích các mối liên kết xuyên quốc gia giữa các chùa Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại tại châu Âu, Úc Châu và Nhật Bản thông qua lăng kính của sự lưu chuyển của Tăng sĩ. Thay vì xem các ngôi chùa này như những không gian tôn giáo dân tộc biệt lập, nghiên cứu này khái niệm hóa chúng như những thực thể vừa gắn kết với địa phương, vừa được liên kết với nhau thông qua sự di chuyển của chư Tăng, mối quan hệ thầy–trò, và các thực hành nghi lễ chung. Tập trung vào một vị Hòa Thượng, lãnh đạo Phật Giáo người Việt tại Đức [2], đóng vai trò như một nút trung tâm trong mạng lưới này, nghiên cứu dựa trên khảo sát thực địa nhiều địa điểm (2023–2025) để lập luận rằng các mối quan hệ liên tự viện có thể được hiểu như một cấu trúc năng động được duy trì bởi sự lưu chuyển Tăng sĩ mang tính lặp lại. Bằng cách nhấn mạnh vai trò của sự lưu chuyển Tăng sĩ, bài viết trình bày các chùa Phật giáo Việt Nam hải ngoại như những tác nhân mang tính quan hệ, được định hình bởi cả sự gắn kết địa phương
10/04/2026(Xem: 2716)
Đặng Tấn Tới là thi sỹ của đất trời. Anh từ vũ trụ, càn khôn đến đây để rong chơi, Chơi Trong Buổi Hội Mấy Màu Thanh Thiên, như một bài thơ mà anh đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ.Với anh, thi ca là Hơi Thở: “Một hơi vừa đi mất Cho ta hơi mới đầy Chan hòa hương màu đất Vui trời chơi gió bay”
09/04/2026(Xem: 642)
Cố vấn tâm lý, theo tôi học được từ Lifeline là sau khi lắng nghe ông ta tâm sự, tôi sẽ cùng ông tìm ra các hướng đi và cùng ông thảo luận các lợi hại của từng hướng đi...để rồi sau đó tự ông quyết định hướng đi cho mình. Ông không trả lời tôi vội, ông đắn đo cân nhắc khá lâu, rồi ngập ngừng nói với tôi: “Thôi, tôi không làm đâu” Tôi hỏi nhẹ: “Vì sao vậy ông?” Ông trả lời: “Dù sao tụi nó cũng là con tôi. Kiện tụi nó ra tòa, đưa tụi nó lên báo, tôi có thắng, thì tụi nó thua cả đời” Ông nói thêm, giọng rất nhỏ: “Tôi già rồi. Ráng chịu thêm nữa…cũng chẳng sao, dù gì nước mắt cũng chảy xuống mà”. Làm gì được, được làm gì…trong cảnh đời “bơ vơ ở tuổi xế chiều” này đây?
03/04/2026(Xem: 1234)
Làm sao để giá trị tinh thần không bị thời gian và công nghệ AI làm lu mờ. ( Cảm tác sau khi đọc bài viết của TT Thích Nguyên Tạng nhân kỹ niệm lễ Huý Nhật của HT Thích Trí Tịnh vào ngày 6/4/2026 ) Có những bậc cao tăng và ngay cả những bậc trí tuệ như Socrates, Friedrich Nietzsche hay Lao Tzu… cũng từng bị hiểu sai, lãng quên, rồi được “tái khám phá”. Không phải vì họ mất giá trị, mà vì:”Thời đại thay đổi nhanh hơn khả năng tiếp nhận của con người, hơn thế nữa giá trị tinh thần thường không “ồn ào” như công nghệ và nhất là đám đông thường bị cuốn vào cái mới, không phải cái sâu.” Do vậy tên tuổi đáng kính thường bị che khuất tạm thời bởi dòng chảy thời đại. Phải chăng cái nguy cơ lớn nhất của thời đại AI ngày nay không phải là quên… mà là “nông” Phải chăng AI có thể: (Viết thay ta-Nghĩ nhanh hơn ta-Tổng hợp tri thức nhanh chóng) Nhưng AI cũng tạo ra một nguy cơ tinh vi: Con người tưởng mình hiểu… nhưng thực ra chỉ “chạm bề mặt”. Do đó nếu chỉ sống bằng tri thức vay mượn, thì
03/04/2026(Xem: 844)
“Khi Thế giới của chúng ta ngày càng nhỏ lại, nhưng chúng ta lại cứ nghĩ mình ngày càng lớn ra”. Trong xã hội ngày nay, khi con người thường đề cao bề nổi, ưa thích sự thể hiện bản thân vượt qua giá trị đích thực, thích thổi phồng những danh xưng, thành công hay một cuộc sống ngập tràn sự hào nhoáng. Nó tạo ra sự khao khát để khẳng định mình so với người khác bởi tâm lý sợ bị lãng quên, sợ bị nhạt nhòa và sợ bị bỏ lại sau lưng. Nó giúp con người tạo ra một bề mặt “kiêu hãnh” và khi tâm kiêu hãnh hình thành, trở thành chất xúc tác gây nghiện, con người sẽ bắt đầu trở nên kiêu mạn và lệ thuộc vào những thứ phù phiếm bên ngoài mà quên đi những giá trị cốt lõi bên trong.
30/03/2026(Xem: 767)
Nàng Persephone lại trở về, vườn xuân xanh biếc cây lá, muôn hoa khoe sắc hương, cỏ xanh một màu mướt mát. Cái vòng quay sanh – diệt vừa trọn một vòng. Nàng Persephone trở về đem lại sự hồi sinh sau mùa đông ảm đạm. Vô số nụ hoa nhỏ trên thảm cỏ, những nụ hoa pansee cho đến những loài hoa dại khác mà ta không biết tên, trên cành vô số hoa đào, hoa anh đào…Cánh hoa lả tả bay trong gió khiến ta ngỡ cảnh thiên thai. Chiều làm về, trút bỏ giày đi chân trần trên thảm cỏ, ta cảm nhận cả một sự bình yên chi lạ. Bàn chân trần bó rọ trong những đôi giày, dù giày lao động hay giày thời trang hàng hiệu cũng không sao hạnh phúc bằng chân trần trên cỏ xanh. Bàn chân trần tiếp xúc với đất mẹ mà nghe nhẹ nhõm thư thái trong tâm hồn. Vườn ta muôn hoa khoe hương sắc, mùa xuân rực rỡ với thủy tiên, tulip, hoa đào, mẫu đơn…ấy là những loại hoa mà loài người yêu thích và xem trọng. Riêng vườn ta thì chẳng có quý tiện hay trọng khinh, hoa trồng hay hoa dại cũng như nhau. Cánh hoa đào hòa mình cù
30/03/2026(Xem: 997)
Buổi sáng yên tĩnh, khi tiếng chuông chùa vang lên trong không gian, ta chợt dừng lại một chút và nhận ra rằng có một bài pháp rất lớn mà ta thường bỏ quên. Bài pháp đó không nằm trong kinh sách hay nơi giảng đường, mà chính là cuộc đời mà ta đang sống mỗi ngày, là từng hơi thở đang diễn ra ngay trong hiện tại. Đức Phật dạy rằng toàn bộ hành trình sinh tử của con người gắn liền với khổ đau. Không ai trong chúng ta có thể đứng ngoài quy luật đó. Dù cuộc sống có những niềm vui, nhưng niềm vui ấy không kéo dài; những nỗi buồn cũng vậy, đến rồi đi. Những người ta gặp trong đời, dù thân hay sơ, đều mang đến cho ta những bài học. Nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy tất cả đều là “Pháp” – là những điều giúp ta hiểu hơn về chính mình và về cuộc đời. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng nhận ra điều đó. Khi tâm còn rối loạn, ta chỉ thấy vui buồn, hơn thua, được mất. Chỉ khi tâm lắng lại, ta mới có thể nhận ra ý nghĩa sâu hơn phía sau mỗi trải nghiệm.
25/03/2026(Xem: 3489)
Góp nhặt vô thường xếp lại ngăn, Trí tuệ giao thoa nhẹ bước chân Giấc mơ hiện về nhắc tâm trí Nhìn đời bao dung lẫn tri ân Thế gian vạn biến, đừng dính mắc Với lòng bi mẫn giải mã dần Duy trì thói quen hằng quán chiếu Chúc phúc đến ai, chữa sai lầm
20/03/2026(Xem: 835)
Trong bối cảnh Phật giáo đang đối diện với thương mại hóa, hình thức hóa, và sự suy giảm chiều sâu giáo lý, việc tìm lại những mô hình cư sĩ lý tưởng không chỉ mang tính lịch sử mà còn mang tính định hướng cho tương lai. Hai hình tượng nổi bật nhất trong Đại thừa — Duy Ma Cật và Thắng Man Phu Nhân — không chỉ là những nhân vật kinh điển, mà còn là biểu tượng của trí tuệ, từ bi nhập thế và phụng sự xã hội. Điều đặc biệt là cả hai đều: không rời bỏ gia đình, không rời bỏ trách nhiệm xã hội, không rời bỏ đời sống kinh tế – chính trị, nhưng vẫn đạt trí tuệ sâu xa và phát đại nguyện Bồ-tát.