Giữ gìn tiếng Việt cho con

05/04/201616:11(Xem: 10934)
Giữ gìn tiếng Việt cho con


Thai Dac Nhuong-7

Hạt giống yêu thương (Bài 89)
Giữ gìn tiếng Việt cho con




Với những bậc cha mẹ Việt sống tại hải ngoại, được nghe con nói tiếng mẹ đẻ là hạnh phúc lớn lao, đòi hỏi sự nỗ lực không nhỏ. Làm thế nào để gieo cho con tình yêu tiếng Việt là câu hỏi lớn với những người làm giáo dục.






Thai Dac Nhuong-8

Tiếng Việt ở hải ngoại sẽ đi về đâu?

“Tiếng Việt còn trong mọi người, người Việt còn thì còn nước non; Giữ tiếng Việt như ngày nào, hào hùng xưa mãi vọng ngàn sau; Hồn Việt mình còn nguyên vẹn tròn; Giữ tiếng Việt cho nối đời, lời quê hương ấy lời sắc son.” Những ca từ trong bài hát “Thương ca tiếng Việt” do Đức Trí sáng tác như tấc lòng của rất nhiều người Việt sống ở hải ngoại.

Các bậc phụ huynh có con sinh ra ở nước ngoài có lẽ không ít lần tự hỏi, làm sao để giữ gìn tiếng Việt cho con, làm sao để gieo cho trẻ thơ tình yêu tiếng mẹ, tiếng quê hương?

Đó cũng là trăn trở của  ông Thái Đắc Nhương, hiệu trưởng trường Việt ngữ Lạc Hồng tại Melbourne.

Trước năm 1975, ông là cựu giáo chức tại Sài Gòn. Ông đến Úc với tư cách người tị nạn và làm nhân viên xã hội cho Bộ Dịch Vụ Cộng Đồng hơn 25 năm.

Ông Thái Đắc Nhương thành lập trường Việt Ngữ Lạc Hồng năm 1984 như lời đáp cho câu hỏi “Tiếng Việt ở Úc rồi sẽ về đâu.  Bộ sách Em Học Tiếng Việt từ  lớp Mẫu giáo đến lớp 12 được ông viết từ năm 1990 và hoàn thành vào năm 2000.

“Mình đặt tên con là Xuân Việt để nhắc cháu luôn nhớ mình là người Việt, phải hiểu và nói được tiếng Việt. Ở cương vị làm cha mẹ, mình rất buồn khi nghĩ rằng tiếng Việt rồi sẽ mai một qua nhiều thế hệ”.  Chị Quyên Trần.

Những ngày đầu dạy tiếng Việt tại Úc vô cùng khó khăn, cả việc tìm địa điểm giảng dạy cho đến giáo trình. Thầy cô hầu như “đánh võ tự do”, theo cách giảng dạy cũ trong việc dạy tiếng Việt cho các em, ông Nhương chia sẻ.

Sau này, chương trình ngày một thay đổi theo hướng thực tế, đàm thoại, ngắn gọn, giúp các em hiểu về gia đình, văn hóa và xây dựng kỹ năng giao tiếp trong gia đình.

Những người giữ lửa

Nhu cầu học tiếng Việt ngày một giảm, khi các bậc phụ huynh thế hệ thứ Hai sinh đẻ ở Úc không thể nói tiếng Việt nhiều với các con, áp lực học tập trong trường chính khóa ngày một tăng cũng như chương trình thi VCE chung cho du học sinh và học sinh bản địa khiến các em gặp nhiều trở ngại.

Thế nhưngvới hầu hết cha mẹ, việc giữ gìn tiếng Việt cho con là cái gốc, cái nôi trong cuộc sống hàng ngày.

Chị Trần Hồng Thắm, mẹ của bé Dương Hồng Duyên chia sẻ với SBS niềm tự hào khi con biết thưa gửi ông bà, cha mẹ.

“Khi con đi học về, bé kể chuyện trường lớp bằng tiếng Việt làm tình cảm gia đình như gắn kết hơn. Cháu thường xuyên nói chuyện và mời ông bà đi dự sinh nhật bằng tiếng Việt làm ông bà rất vui”.

“Tiếng Việt mình còn thì bản sắc và văn hóa Việt Nam ở hải ngoại sẽ còn”. Ông Thái Đắc Nhương

Trăn trở của chị Hồng Thắm là khi con càng lớn, thì việc dạy tiếng mẹ đẻ càng khó hơn: “Khi con còn nhỏ, chúng như tờ giấy trắng, dạy rất dễ dàng. Nhưng khi con lớn hơn thì cha mẹ phải thay đổi phương pháp giảng dạy”.

Phương pháp của chị Thắm là tâm sự thường xuyên với con, cho con nghe nhạc Việt và kể chuyện các câu chuyện cổ tích cho con mỗi đêm. Nhờ công sức của cha mẹ, Hồng Duyên thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ và hiểu biết sâu sắc về văn hóa Việt Nam.

Ông Thái Đắc Nhương cho rằng cha mẹ nên khuyến khích hơn là sửa phạt khi con dạy con tiếng Việt

“Khi chấm điểm bài làm cho các em, thấy các em làm sai nhiều quá, tôi không nỡ cho điểm thấp, mà chỉ cho các em sai ở chỗ nào, để các em sửa lại, rồi chấm điểm cao hơn.”.

Chị Quyên Trần, mẹ của bé Xuân Việt cũng có chung tâm sự, chị còn gửi gắm hy vọng tình yêu ngôn ngữ vào tên của con trai.

Chị Quyên chia sẻ ngay từ khi Việt còn bé, chị thường thủ thỉ với con rằng, phải học giỏi tiếng Việt để trò chuyện với mẹ cho tình cảm và để còn có thể trò chuyện với ông bà ngoại của mình ở Mỹ, chị động viên con rằng biết thêm tiếng Việt sẽ giỏi hơn các bạn Tây.

“Có những khi cháu dùng từ sai, mẹ “lấy” con đi thay vì mẹ “giúp” con làm gì đó, hoặc mẹ “bắt” con ở trường thay vì “đón” con. Đó cũng là những kỷ niệm vui khi dạy con học tiếng Việt."

Tiết mục của các em trường Việt ngữ Lạc Hồng tham gia SBS Hội chợ Tết năm 2015



***
Source: sbs.com.au/vietnamese



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/01/2011(Xem: 4972)
Tôi sinh ra và trải qua những ngày tuổi thơ ở Huế. Như vậy cũng đủ để tôi tự hào đã chia sẻ cùng Huế với tất cả những thủy chung của lòng mình. Thế rồi, tôi cũng phải xa Huế đã 30 năm, quê hương đó vẫn rạng ngời trong tâm tưởng. Huế dấu yêu ơi! có bao nhiêu điều phải nhớ: thời thơ ấu ấm áp trôi đi, tuổi học trò thần tiên trong ngôi trường màu hồng ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm cùng với dấu chân của những chàng trai thích đón đưa mỗi khi tan trường. Tôi với Huế biết bao tình thương mến, mỗi con đường, mỗi dòng sông, núi đồi, lăng tẩm, thành quách, chùa chiền là của Huế, là của tôi... Mặc dầu phải tất tả trong dòng đời xuôi ngược và biết rằng Huế là xứ sở thật kỳ, ở thì có điều không ưa nhưng đi xa thì lại nhớ, trong tôi vẫn chan chứa nỗi niềm với Huế. Nói như ai đó: "nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ Huế", nỗi nhớ thấm vào máu thịt, sâu lắng vào tâm hồn của những kẻ tha hương lòng vẫn bùi ngùi mỗi khi nhớ đến và chỉ muốn quay về!
04/01/2011(Xem: 6372)
Bạt: Bài viết “Phật giáo, một sự thực tập” dưới đây là bài đầu tiên trong tập hợp năm bài viết đã được phổ biến trên nguyệt san Triết học (Filosofie), 2004-2005. Đây là những tiểu luận về Phật giáo nhìn từ phương Tây, được viết từ bối cảnh của một truyền thống Phật giáo rất mới, được gọi là Phật giáo Tây phương. Tác giả, tiến sĩ Edel Maex là một nhà tâm lý trị liệu làm việc ở bệnh viện Middelheim tại Antwerpen, Bỉ. Ông là một trong những người sáng lập và ở trong ban điều hành của Trường Triết học Tỉ giảo (School voor comparatieve filosofie) ở Antwerpen. Ông là một người thực tập Thiền.
20/12/2010(Xem: 14966)
Không sinh, không diệt. Không đến, không đi. Đó chính là ý nghĩa nền tảng về một tâm xuân miên viễn. Khi chúng ta nhìn sự vật có sinh có diệt, có đến có đi, lòng ta không khỏi sinh ra những luyến lưu tiếc nuối.
14/12/2010(Xem: 4662)
Đất Bắc Ninh xưa gọi là đạo Bắc Giang, rồi đổi ra trấn Kinh Bắc, một miền phong phú về mặt dân ca, cũng là một vùng nổi tiếng về phong quang cẩm tú, về điền địa phì nhiêu...
13/12/2010(Xem: 41432)
Văn hóa như hơi thở của sự sống. Chính vì vậy mà qua bao thăng trầm nghiệt ngã của lịch sử, Đạo Phật như một sức sống văn hóa ấy vẫn còn đó, như một sinh chất nuôi dưỡng nếp sống tâm linh cho con người.
10/12/2010(Xem: 14599)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
16/11/2010(Xem: 21474)
“Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai
30/10/2010(Xem: 5983)
Tiểu sử cho biết rằng, vào năm 1542 sau khi dâng sớ lên vương triều Mạc đòi chém 18 kẻ lộng thần, nhưng không được vua Mạc bấy giờ là Mạc Phúc Hải chấp thuận. Nguyễn Bỉnh Khiêm liền cáo quan về lại quê quán ở làng Trung Am. Nay là huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Dù thất bại ở triều đình không thực hiện được hoài bão như dự tính lúc ban đầu: Dân giai thức mục quan tân chính
30/10/2010(Xem: 9683)
Như tôi cũng đã thưa rồi, hiếm ai dành nhiều thời gian để nhớ về mẹ như tôi. Chuyện gì buồn vui cũng là cái cớ để tôi nhớ về mẹ bằng tất cả tim óc. Tôi đã nhớ mẹ qua bất cứ hình ảnh nào của các bậc cha mẹ trong đời mà tôi quen biết, trong giao thiệp hay chỉ nhìn thấy trên phim ảnh sách báo... Có điều là không ít hình ảnh trong số đó cứ khiến tôi đau đáu một nỗi riêng không chịu thấu: 1. Họ là những bậc cha mẹ với tuổi đời chưa bao nhiêu nhưng đã bắt đầu quên mất tuổi trẻ của mình cho đứa con đầu lòng. Một tuổi trẻ tất bật áo cơm, không có rong chơi, không có ngơi nghỉ, không có thời gian riêng tư, dẹp luôn những không gian độc lập để sống như mình vẫn ao ước thời chớm lớn. Họ Mất hết cho cái mà họ cho là Được – đó chính là đứa con! Nhìn họ tôi nhớ mẹ!
28/10/2010(Xem: 5336)
ù bây giờ đã qua hết những ngày tất tả ngược xuôi lo chạy gạo bữa đói bữa no, lăn lóc chợ trời nhục nhã ê chề tấm thân; những ngày dầm mưa dãi nắng lặn lội đi thăm nuôi nhưng những kỷ niệm buồn sâu thẳm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi mãi mãi mỗi độ tháng tư về. Sau khi hai đứa con ra đi được hai ngày, tôi được tin chuyến tàu bị bể. Tôi vừa bàng hoàng vừa cầu xin đó không phải là sự thật, nếu quả đúng như vậy liệu tôi có còn đủ sức chịu đựng hay không vì chồng tôi đang còn ở trong trại cải tạo. Nóng ruột quá, tôi bèn rủ một em học trò cũ lên nhà bà chủ tàu để dò hỏi tin tức. Khi đi thì hăng hái như vậy nhưng gần đến ngõ rẽ đi vào nhà, tôi không còn can đảm tiếp tục bước nữa. Tôi ngồi lại một mình dưới gốc cây vừa niệm Phật vừa cầu xin, mắt không rời theo dõi vào con ngõ sâu hun hút đó. Càng chờ ruột gan càng nóng như lửa đốt, không chịu nổi nữa tôi đi liều vào. Vừa đến nơi hai chân tôi đã muốn khuỵu xuống, một bầu không khí im lặng nặng nề, hai người ngồi như 2 pho tượng; sau đó em h