Ba Tôi

15/05/201417:50(Xem: 9792)
Ba Tôi

Cha-2
BA TÔI

Võ Đại Sinh

--- o0o ---

Hôm nay ngày giỗ của Ba tôi, tự dưng lòng tôi thèm viết một chuyện gì đó về Ba tôi…như nhà văn Võ Hồng thường khuyên mọi người nên viết lại những kỷ niệm sinh hoạt của cha, của mẹ mình, những kỷ niệm mà mình nhớ hơn hết, đáng nhớ hơn hết…để nhân ngày k?giỗ của cha mẹ, tập trung về, cùng đọc, cùng nghe, cùng xúc động, hồi tưởng công ơn. Con cháu sẽ có dịp sống lại không khí đại gia đình, con nhớ thương cha mẹ, cháu gần gủi, quý trọng ông bà!

Trong cuộc sống, thường khi biết nên làm việc gì thì đã quá chậm. Nhưng chậm còn hơn là chẳng bao giờ.

Mọi người quanh tôi, bà con, hàng xóm, láng giềng…kể cả mẹ tôi nữa, thường nói tôi giống ba tôi lắm, giống từ tướng đi, cách ngồi, giọng nói, tiếng cười. Mới hôm nào đây, mẹ tôi mất, khi tôi về quê chịu tang, anh Bảy hàng xóm còn nhắc lại với mọi người là phong thái từ xe bước xuống của tôi sao giống ba tôi quá…Nhưng chắc rằng không ai hiểu được, ngoại trừ ba con tôi,…tôi còn giống ba tôi đến cả những nổi buồn riêng!

Hình như là từ khi sinh ra đời, bản chất tôi đã sẵn ghét những người giàu. Có phải vì cái nghèo khó đeo đẳng gia đình tôi quá lâu, vì những người giàu quanh tôi luôn coi nặng tiền bạc hơn tình nghĩa, hay vì tôi đã thừa hưởng di sản không thích nhà giàu của ba tôi!

Mãi đến bây giờ, khi ba mẹ tôi đã qua đời, tôi vẫn chưa hiểu rõ mẹ tôi và ông Chín…bà con như thế nào. Chỉ biết mẹ tôi kêu ông bằng chú Chín, và đôi khi bực lòng, ba tôi thường nói " tao chịu đựng kéo dài cuộc sống làm thuê cho ông Chín chỉ vì ông ta là chú của mẹ tụi bây".

Lúc xung đột biên giới giữa Việt Nam và Cao Miên khoảng năm 1960-61 gì đó, tôi còn nhỏ lắm. Ba tôi bị kẹt ở bên Cao Miên vì biên giới bị đóng cửa, và ghe đi muối cá ở Nam Vang của ông Chín do ba tôi chịu trách nhiệm phải neo lại chờ. Và "vì ông Chín là chú của mẹ tụi bây"…nên ba tôi chấp nhận cực khổ, hiểm nguy nằm trên ghe muối đầy cá chờ…trong lúc những người đi muối cá cho các hảng nước mắm khác lên Nam Vang tha bồ ăn chơi, phung phí. Hơn một năm sau, khi biên giới được giải tỏa, chỉ có một mình ghe cá của ba tôi là được về đến nơi an toàn, không mất mát gì hết. Đón ba tôi tại bến ghe của hảng nước mắm, ông Chín mừng rở ôm chặt ba tôi…nhưng sau nầy khi có dịp tâm sự với tôi, ba tôi nói, lúc đó ông Chín mầy ôm tao không phải vì mừng rở tao bình an trở về đâu…mà là để coi tao có lận dấu vàng trong người không. Nhờ ghe cá muối hiếm hoi thoát được về đó, ông Chín ngày càng giàu sụ thêm.

Để đền ơn ít nhiều cho sự giàu có đó, ông Chín có hứa cho ba tôi một cái radio hiệu Phillip của Hòa Lan, màu nâu, đã cũ. Lời đó đã khiến cả nhà tôi vui vẻ, mơ mộng chờ đợi. Ở thời điểm đó, radio còn hiếm quý lắm, chiều chiều người có radio mở đài lên là cả xóm bu lại thèm thuồng chờ nghe. Mơ mộng của gia đình tôi không thành vì cuối cùng ông bà Chín đổi ý kiến, im lặng làm lơ và ba tôi cũng chẳng dám nhắc gì đến chuyện hứa cho đó nữa. Anh Bảy tôi lúc đó đang đi cảnh sát ở trên Saigon, thể theo ý nguyện của cả gia đình và để tránh khỏi mất mặt với bà con hàng xóm…Vì đã lở khoe, đã lùng khắp Saigon để tìm được đúng cái radio Phillip của Hoà Lan, màu nâu mang về.

Lúc ấy, ba tôi đã chán cảnh làm thuê cho ông chú vợ rồi, nên về lại quê tiếp tục sự nghiệp làm ruộng. Cảnh an nhàn sáng vác cuốc đi chiều vác cuốc về không kéo dài được bao lâu thì họa đến với gia đình tôi: ba tôi được dân làng cử làm Xã trưởng! Né tránh làm xã trưởng bằng nhiều cách, kể cả cách giả bịnh, cách nhờ người lo lót…không được, một nông dân chất phác, ba tôi trở thành xã trưởng bất đắc dĩ…lúc nào cũng nghĩ cách từ quan!

Thời ba tôi làm xã trưởng, huynh trưởng Văng Văn Thống, một đàn anh hành chánh lâu đời của tôi làm quận trưởng. Thời gian đó khá ngắn, không biết ba tôi đã đóng góp được gì cho cư dân trong xã, chỉ biết, mỗi lần ông xã trưởng đi lên quận Hòa Đồng họp, tôi phải đến nhà chú Năm Tiếu mượn đôi dép da, họp xong, tôi chùi lau, bỏ vào bao nylon cẩn thận…mang trả lại chú Năm; chỉ nhớ, gia đình tôi đã phải theo lệnh ông xã-trưởng-ba tôi…nhường khu đất nhà mình đang an cư lạc nghiệp cạnh trường học cho các em nhỏ có chỗ học hành để dọn đến phần ruộng Bác Hai Lang lên nền cất nhà khác ở!

Lần về đám giỗ ba tôi năm rồi, khi nhắc lại thành tích xã trưởng của ba tôi, anh chị em tôi có nhắc đến hai vụ kiện tụng ba tôi thường sảng khoái nhắc tới, dù rằng không biết cách xử kiện của ba tôi vào thời điểm đó có đúng luật không.

Vụ thứ nhứt là vụ ông hương chủ thưa ông hương chánh tội thông dâm với vợ ông có anh Hai lái xe ngựa làm chứng. Ba tôi cho mời anh Hai nhân chứng đến trước. Gặp mặt ba tôi, anh ta thề là đã khai thật vì chính anh khi đi soi cá ban đêm, đã chính mắt thấy ông hương chánh và bà hương chủ…đang làm việc ở một cái chòi giữa đồng. Ba tôi nói :" tôi tin chú, nhưng nếu làm lớn vụ nầy ra, chú có được gì đâu, trong khi sự đổ vỡ của hai gia đình và tổn thương danh dự của hai ông Hương chủ và Hương chánh quá lớn. Thôi thì chú nên suy nghĩ kỷ lại, làm tờ phản cung, bỏ qua vụ kiện để mọi người được vui vẽ". Nghe lời ba tôi, anh Hai làm tờ phản cung…Gia đình hai ông Hương chủ và Hương chánh, nhờ vậy đã tiếp tục cuộc sống hạnh phúc cho đến ngày hai ông qua đời!

Vụ kiện thứ hai là vụ hai vợ chồng trẻ bồng đứa con duy nhất mới sinh đến xã xin ly dị. Nghe qua vụ kiện, nhìn sự trìu mến của cả hai vợ chồng dành cho đứa con, ba tôi nghĩ là quan đã có cách xử lý! Ba tôi nói, chú thiếm muốn xin ly dị thì không có gì trở ngại. Còn con thì tính sao đây? Cả hai vợ chồng đều giành quyền nuôi con hết. Ba tôi cứ giữ im lặng để cho hai vợ chồng giành qua giựt lại một hồi rồi mới phán, có một đứa con làm sao chia đủ cho hai người được, thôi chú thiếm mang con về tiếp tục thời chung sống…cho đến khi đẻ thêm được một đứa nữa rồi trở lại chia công bình. Cặp vợ chồng nầy, nay đã có với nhau năm con!

Với sự khép léo và một ít thành tích đóng góp, ba tôi nhanh chóng tạo được sự mến phục và nể vì của cư dân trong xã. Nhưng sự mến phục và nể vì đó không đủ giữ chân và thay đổi ý định từ chức luôn canh cánh trong lòng ba tôi. Radio anh Bảy tôi mua về chẳng được bao lâu, anh chị em chúng tôi còn đang say mê với những tuồng cải lương mỗi tối thứ bảy mùi mẫn, trước sự thán phục của những người hàng xóm…vì có được cái radio, thì ba tôi mượn tạm đem vô đồn trú của lính nghĩa quân bảo vệ xả, cho ban hội tề và đám lính nghĩa quân nghe mỗi tối để lấy lòng họ cho ba thôi làm xã trưởng. Lúc đó, vì tình hình an ninh, cứ khi trời sụp tối là xã trưởng và toàn ban hội tề tập trung vào đồn ngủ. Dần dần, với cái radio đó và khả năng thuyết phục của ba tôi, mọi người đã đồng ý cho ba tôi từ quan về làm ruộng.

Ba tôi không thích làm quan, cả nhà tôi chẳng ai thích quan quyền cả, vậy mà tôi lại chọn theo học Học Viện Quốc Gia Hành Chánh để bước chân vào quan trường! Số là khi còn cơ hàn, ông Chín có một thời gian làm công cho một hảng nước mắm ở Cần Thơ và có dan díu với một nữ công nhân cùng hãng. Kết quả là cho ra đời một đứa con trai giống ông như đúc. Ba tôi nói con rơi thường giống cha lắm! Cũng như ba mẹ gọi ông Chín là chú, anh chị em tôi được lệnh gọi quý tử đó là chú Dinh. Chú Dinh đang theo học đại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thì được ông Chín nhận về. Mọi người nhìn chú Dinh với cặp mắt thán phục, không hiểu vì chú học giỏi hay vì chú là con ông chủ hãng giàu sang! Tâng bốc của mọi người dành cho chú Dinh một cách quá đáng khiến tôi lâu dần chóa mắt với hào quang vây quanh người sinh viên hành chánh mà quên đi mặt trái của quan trường. Tôi tranh thủ thi vô trường Hành chánh trong hoàn cảnh đó!

Đến khi về lại quê nhà tập tành nghề phó quận, tôi mới cảm nhận được rằng, cũng giống như ba tôi, cẩm bào xã trưởng đâu có thích hợp với người dân chân chất. Tôi cảm thấy lạc lỏng và hiểu được vì sao ba tôi đã bằng mọi cách từ quan…về làm ruộng!

Bây giờ ngồi viết lại những dòng này về ba tôi, tôi còn nhớ lại rất rõ nụ cười bao dung của ba tôi khi kể lại chuyện ông Chín ôm mừng ngày ba tôi oanh liệt mang được ghe cá an toàn trở về; tôi còn thấy được gương mặt rạng rỡ của ba tôi khi kể lại thành tích cứu vớt hạnh phúc gia đình của hai ông Hương chủ, Hương chánh và cặp vợ chồng son trẻ trong thời gian làm xã trưởng ngắn ngủi, bất đắc dĩ!


Melbourne, Mùa Vu Lan năm 2000
Võ Đại Sinh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2015(Xem: 5201)
Những ngày tàn xuân năm ấy, gió bấc thổi không mang theo giá lạnh mà lại thốc vào cả một luồng bão lửa nóng bức, kinh hoàng. Không ai mong đợi một cơn bão lửa như thế. Bão lửa, từ bắc vào nam, từ cao nguyên xuống đồng bằng, từ rừng sâu ra hải đảo, từ thôn quê vào thị thành… thiêu rụi bao cội rễ của rừng già nghìn năm, đốt cháy bao cành nhánh của cây xanh vườn tược. Tất cả mầm non đều héo úa, quắt queo, không còn sức sống, không thể đâm chồi, nẩy lộc. Tất cả những gì xinh đẹp nhất, thơ mộng nhất, đều tan thành tro bụi, hoặc hòa trong sông lệ để rồi bốc hơi, tan loãng vào hư không. Màu xanh của lá cây, của biển, của trời, đều phải nhạt nhòa, biến sắc, nhường chỗ cho màu đỏ, màu máu, màu đen, màu tuyệt vọng.
31/03/2015(Xem: 8856)
Thành phố Adelaide, tiểu bang South Australia có một dòng sông nhỏ chảy ngang. Buổi chiều thảnh thơi. Nắng hanh vàng trên lá. Gió đuổi nhau làm xôn xao ngọn cây phong bên bờ. Những con chim nhỏ rộn ràng, riú rít trên cành. Gió lay động mặt hồ tạo nên những gợn sóng nhỏ nhè nhẹ, nhấp nhô, đuổi theo nhau không dứt khiến trong lòng dâng lên cảm giác êm đềm, thanh thản, bình yên.
31/03/2015(Xem: 23338)
Đêm ngày 29/03/2015 tại Viện Âm nhạc quốc gia đã diễn ra chương trình Hát trong vườn xưa - Đêm thơ nhạc của Thầy Nhất Hạnh và các học trò. Một chương trình thật ý nghĩa và tạo nhiều cảm xúc được đồng tổ chức bởi Thái Hà Books, Life TV và VIM.
30/03/2015(Xem: 5175)
Có một thời dâu bể Nước mắt là huyết lệ Nụ cười chỉ tái tê Đời chìm vào cơn mê... Tôi muốn nói đến cái mốc thời gian cách đây 40 năm chính là tháng tư đen , nhưng lại là dấu ấn thắm màu máu đỏ đóng trên trang sử Việt Nam cũng là lằn ranh phân định hai đoạn đời trước, sau năm 75 của người dân miền Nam nói chung và đời nhà giáo của tôi nói riêng, thật hoàn toàn tương phản!
27/03/2015(Xem: 4554)
Cả thế giới đang nói về một ông già chín mươi mốt tuổi vừa nằm xuống. Nói với tất cả lòng kính phục và ngưỡng mộ: quốc phụ Lý Quang Diệu. Ông là người gốc Quảng đông, đã bốn đời trôi dạt đến hòn đảo bé nhỏ nằm giữa thủy đạo Ấn độ dương và Thái Bình Dương. Tổ phụ của ông, cũng như những người Quảng Đông ở Hội An, Ninh Hòa, Chợ Lớn, vì đất nước Trung Hoa loạn lạc đói nghèo phải bỏ xứ mà đi tìm đất sống. Ta có thể hình dung họ qua hình ảnh những người Tàu bán cóc ổi, mực khô lặng lẽ trước các cổng trường, những người ở dưới mức nghèo khó trong xã hội. Nghèo, nhưng họ là những người rất giàu nghị lực và ý chí. Đó cũng là cội nguồn làm nên ông, một con người có thể gọi là vĩ đại.
25/03/2015(Xem: 20844)
Thanh Lương là bút hiệu của Thích Thiện Sáng, một hành giả Thiền tông. Thế danh Trương Thượng Trí, sinh năm 1956, lớn lên bên dòng sông Cửu Long giữa trời thơ đất mộng An Giang. Bản chất thông minh, mẫn tuệ, vốn từ bi, hiếu thảo, có trực giác bén nhạy, ngay từ thời còn bé nhỏ đã có những biểu hiện khác thường như trầm tư, ưa đọc sách đạo lý suốt ngày, thích ăn chay và học hành ở trường lớp thì tinh tấn, luôn luôn dẫn đầu, xuất sắc.
20/03/2015(Xem: 6049)
Quyển sách thứ 64 nầy tôi bắt đầu viết vào ngày 6 tháng 6 năm 2014 nhằm ngày mồng chín tháng năm năm Giáp Ngọ tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, nhân mùa An Cư Kiết Hạ tại đây. Trong đầu đang dự định là mỗi năm sẽ viết một cuốn về nước Nhật, nước Đức, nước Úc, nước Mỹ v.v… để giới thiệu với quý độc giả xa gần, nhất là những vị nào chưa có cơ duyên đi và đến cũng như ở tại các nơi ấy nhiều năm tháng, thì đây là những quyển sách nhằm giới thiệu một khía cạnh nào đó dưới cái nhìn chủ quan của Tác giả, chưa hẳn đã đúng toàn diện. Tuy nhiên, muốn hoàn thành một việc lớn, không thể thiếu những ý niệm lúc ban đầu, dầu cho việc ấy có nhỏ nhiệm đến đâu đi chăng nữa, nhiều khi cũng là một vấn đề cần thiết.
11/03/2015(Xem: 22537)
Mai năm nay nở sớm trước Tết. Qua Tết thì những cánh hoa vàng đã rụng đầy cội, và trên cây, lá xanh ươm lộc mới. Quanh vườn, các nhánh phong lan tiếp tục khoe sắc rực rỡ giữa trời xuân giá buốt. Đêm đến, trời trong mây tịnh, vườn sau đón ngập ánh trăng, tạo một không gian huyền ảo lung linh. Đã không có những ngày xuân rực nắng, không có những đêm xuân ấm cúng tiếng đàn câu ca và những chung trà bằng hữu; nhưng chân tình của kẻ gần người xa, vẫn luôn tỏa sự nồng nàn, tha thiết. Cái gì thực thì còn mãi với thời gian thăm thẳm, vượt khỏi những cách ngăn của không gian vời vợi.
24/02/2015(Xem: 4569)
Em có thói quen cứ những ngày cuối năm thường thích lật những chồng thư cũ của bạn bè ra đọc lại, thích tìm kiếm dư âm của những chân tình mà các bạn đã ưu ái dành cho em. Lá thư của Chị đã gây cho em nhiều bâng khuâng xúc động và ngậm ngùi vô cùng vì đó là những nét chữ kỷ niệm của Chị còn lưu lại trên cõi đời này! Đúng vậy, Chị đã ra đi, bỏ lại đằng sau tất cả những ưu tư phiền muộn của cuộc đời và em đang đọc những dòng chữ của Chị đây.
12/02/2015(Xem: 22467)
Mơ màng cát bụi từ thuở nào mới mở mắt chào đời bên ghềnh biển Quy Nhơn rờn mộng ấy, thầy Đức Thắng sinh năm 1947, suốt một thời tuổi trẻ hay chạy rong chơi qua cánh đồng lúa xanh Phổ Đồng, bồng tênh mấy nẻo đường quê hương Phước Thắng ngan ngát cỏ hoa và thả diều tung bay trên bầu trời Tuy Phước lồng lộng bát ngát đầy trời trăng sao in bóng mộng sông hồ. Rồi lớn lên, thường trầm tư về lẽ đời vô thường sống chết, nên từ giã quê nhà, thao thức vào Nha Trang đi xuất gia theo truyền thống Thiền tông Phật giáo đại thừa. Sau đó vài năm chuyển vào Sài Gòn, tiếp tục con đường học vấn, tốt nghiệp Cao học Triết Đông phương và Phật khoa Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975.