12. Rộng mở nguồn tâm

31/01/201206:22(Xem: 19311)
12. Rộng mở nguồn tâm

Rộng mở nguồn tâm

Huế 2009, Lê Thị Thu Hồng

Tôi lại thoảng nghe đâu đây mùi hương đạo pháp từ những bông hoa “bất tử” trong vườn thơ của thi sĩ Mặc Giang đang ngược gió bay về. Và rồi sau chuyến về thăm làng, mưa bay lất phất khi trở lại chùa, lòng lại nhớ quê hương da diết, bỗng gặp được vườn hoa ấy.

Qua “Mở cửa nguồn tâm”, thì ra:

Chúng sanh khổ, lặn hụp trong bốn bể

Nước mắt nhiều, hơn bốn biển đại dương

Dây oan trái, kết chặt sự não phiền

Không tỉnh ngộ, muôn đời đeo đẳng mãi.

Dòng thơ như một hồi chuông thức tỉnh mọi người hãy quay về với con người thật của chính mình, biết đời là bể khổ để tỉnh mộng mà về bến giác. Một vườn thơ đầy hương hoa, song những bông hoa không khoe sắc rực rỡ giữa đất trời mà là những đóa hoa giản dị hiền hòa, dịu dàng nho nhã tỏa hương, mùi hương đức hạnh. Đó cũng chính là cái quý giá nhất mà chúng ta hằng nâng niu trân trọng. Chính hương đức hạnh mới có thể ngược gió tỏa hương khắp muôn phương. Khi hoa hương đạo pháp trổ bông, con người nhìn nhau bằng ánh mắt thân thiện, trao cho nhau niềm tin yêu, hàn gắn lại sự đổ nát hay vết thương lòng:

Hoa nhân ái trao cái nhìn thiện mỹ

Biển trần ai sẽ trổ đóa tin yêu

Biển gian truân sẽ ươm nụ mỹ miều

Xây dựng lại những hoang tàn đổ nát

(Hoa nhân ái)

Và như thế chúng ta được chiêm ngưỡng từng loại hoa, tận hưởng hương vị ngọt ngào của nó hòa vào sức sống mới. Hẳn bạn cũng sẽ cảm nhận một điều gì đó nhẹ nhàng bình yên và thanh thản, đó chính là cửa ngõ đạo hạnh với hương vị giải thoát của những người con yêu quý trong ngôi nhà chánh pháp. Và đây:

Hoa đạo pháp nở trên dòng sanh diệt

Tỏa hương từ khắp ba nẻo sáu đường

Tỏa hương bi khắp pháp giới muôn phương

Cho vạn hữu kết cành dương cam lộ

Lấy từ bi cam lồ mà tưới mát cho nhân loại. Nơi nào có khổ đau, thì thi nhân muốn nơi ấy có dòng suối ngọt ngào của từ bi ngang qua.

Ngày nay trong thời đại công nghiệp hóa, trong nhịp sống hiện đại hóa này, nhiều ngôi chùa khang trang mọc lên, nhưng nếu xây chùa mà không “xây người” theo hướng sống thơm hoa chánh pháp thì rốt cuộc có lợi ích gì. Vậy, xây dựng một con người hoàn chỉnh có nhân cách, có đạo vị là điều cần thiết đầu tiên. Khi “mở cửa nguồn tâm”, hẳn bạn sẽ thấy cuộc sống tuy khổ đau nhưng tràn đầy tình thương, bởi trong thi tập này, tác giả đã chuyển tải cả một vườn thơ đầy hương hoa, cho chúng ta tỉnh giác khi trầm tư về thế cuộc để quay về với chánh niệm, gởi tất cả vào hư vô thiên thu cho lòng thanh thản:

Những hơn thua tranh chấp gởi thiên thu

Biết nhìn nhau cảm thông và chia sẻ

Bài thơ hay của Mặc Giang giúp bạn tìm về suối nguồn an tịnh của tâm mình. Thi sĩ đã từng mong mỏi “hãy lặng yên và đưa nhau qua khổ ải, dìu dắt nhau về ngưỡng cửa yêu thương”. Chính hương vị ngọt ngào đó đem lại lợi ích thiết thực cho con người, là nền tảng để xây dựng và hoàn thiện một con người đạo hạnh.

Phải thế không anh trao cho nhau lành mạnh

Phải thế không em trao cho nhau tình thương

…Cùng dựng xây trang trải đóa thanh lương

Hương dịu ngọt ấm lòng đêm giá lạnh

(Hoa Phật pháp) 

Dù cuộc sống ngày lại ngày qua với bao nỗi khổ chồng chất như “hoa tủi thân xếp cánh sầu hé nắng, dáng buồn sầu khép lá mộng ru mơ”, nhưng hãy “đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng”, vì:

Cuộc đời là một bản trường ca em nhé

Không cung đàn mà trổi khúc ngân vang

Khi đau thương khi hạnh phúc kéo màn

Đại nhạc hội ai không là ca sĩ 

Cuộc đời là một vở kịch, vỡ tuồng chèo, khi kết thúc kéo màn thì niềm vui lại im bặt trong tăm tối, bởi con người sinh ra trong tăm tối vô minh và biển khổ. Nhà thơ đã vỗ về ôm ấp chia sẻ, an ủi động viên bằng vần thơ ấm áp tình người, sưởi ấm trái tim ta: “Đau buồn chi trần thế biết bao người. Hãy bầu bạn cùng trăng ngàn gió núi”. 

Thơ Mặc Giang sao mà thân thương trìu mến đến như vậy, cảnh vật cũng có hồn, cũng biết yêu thương và chia sẻ nỗi niềm với mọi người. Một đóa hoa luôn ở bên ta và nhắc nhở thì thầm: “đừng quên tôi mỗi khi lâm cảnh ngộ”.

Chao ôi! nhà thơ đã đem đến cho chúng ta những giây phút thăng hoa và tịnh hóa hồn mình. Ta cảm nghe lòng nhẹ như có cánh bay, không còn than khóc trước khổ đau và biết phương pháp chuyển nghiệp:

Khổ là gì? Cuộc đời tại sao là biển khổ.

Bởi nhiễm ô huân tập tự xưa nay

Tập càng huân thì khổ lại càng dày

Như bóng theo hình, như vang theo tiếng.

Cho nên ta phải: 

Biết nhận chân trước mắt, cứ như thế mà đi

Hoa tứ diệu đế, thơm hương đường giải thoát

(Hoa tứ diệu đế)

Thế mới biết tâm là chủ tất cả, như một họa sĩ vẽ tất cả cảnh tượng. Hãy “mở cửa nguồn tâm” để trở về với nghĩa sống chân thật.

Hoa vẫn nở, hương vẫn thơm mãi bên đời, thơm ngát muôn phương. Hoa tàn và trái đắng giờ nhường chỗ cho đóa hoa vô ưu, hoa của đức hạnh và bốn mùa tràn ngập tình thương. Bạn có thấy và cảm nhận ra chăng!

Xin tặng em một bông hoa rạng rỡ

Nở trong lòng thành một đóa từ tâm

Thanh thiên hơn bát ngát của trăng rằm

Tỏa hương sắc thương yêu cùng nhân thế 

Mặc Giang cho ta món quà tinh thần vô giá, đó là món quà pháp. Và trong tất cả quà, thì quà pháp là quý nhất phải không các bạn! Vậy thì “đóa hoa đạo pháp” tôi đã trao cho anh rồi đó, hãy cầm lấy mà vui vẻ lên đi, để chuyển hóa uế nghiệp thành tịnh nghiệp, để vườn tâm mãi tỏa ngát làn hương giới hạnh, theo gió khắp đến muôn phương. Ðó mới là đích thực “mở cửa nguồn tâm”.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/02/2021(Xem: 37444)
Vừa qua nhóm ảnh Nhất Chi Mai thuộc tu viện Phước Hòa (Đồng Nai), được sự hướng dẫn của Thượng toạ Viện chủ đã đến Buôn Mê Thuột để quay những thước phim đầu tiên về nhạc sĩ Hằng Vang. Cùng với cố nhạc sĩ Lê Cao Phan, Bửu Bác... được xem như lớp tiền phong của dòng tân nhạc Phật giáo. Nhạc sĩ Hằng Vang tên thật là Nguyễn Đình Vang, sinh năm 1933 tại Huế. Trong hơn 60 năm sáng tác, ông có hàng trăm ca khúc về đề tài này, nổi bật nhất là ca khúc Ánh Đạo vàng (1958) đã thấm sâu vào lòng Phật tử suốt thời gian dài từ khi ra đời.
01/02/2021(Xem: 11482)
Đối với những dân tộc sống trong nền văn minh lúa nước tại Đông Nam Á, nhất là đất nước và con người Việt Nam, hình ảnh con trâu, thường hay được nói đến, không phải “con trâu là đầu cơ nghiệp” mà đối với người nông dân là con vật gần gũi thân thiết, nên trong ca dao trâu xuất hiện trong bức tranh lao động của gia đình “trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”, trâu cũng trở thành bạn tâm tình của người nông dân: “trâu ơi ! ta bảo trâu này…” Người nông dân đã đồng cảm với trâu, qua việc cần mẫn lao động hằng ngày, không có lúc nào hưởng được sự thảnh thơi mà phải luôn vất vả nhọc nhằn. Hình ảnh con trâu kéo cày trên ruộng đồng với lúa, mạ xanh tươi, hay đứng nằm gặm nhai cỏ trên bãi cỏ xanh, cùng giầm mình trong vũng ao hồ sình lầy là hình ảnh quen thuộc, gợi lên nhiều cảm xúc thị vị thanh bình tạo cảm hứng cho biết bao thi nhân và họa sĩ.
01/02/2021(Xem: 13865)
Chữ “chùa” thường dễ khiến người ta liên tưởng đến những… chữ khác như kinh-kệ-chuông-mõ-sư-sãi…Xa hơn, có thể gợi nhớ đến chữ… thơ (vì, tu sĩ và thi sĩ vốn là bằng hữu, trong truyền t
01/02/2021(Xem: 16964)
Vào năm 1990, một nhà sư trẻ đến thị xã Lagi – Bình Thuận, dừng bước bên con suối Đó vắng vẻ, cảnh quan đơn sơ, mộc mạc, cách xa trung tâm Lagi. Con suối có cái tên hơi lạ, tên nguyên sơ là suối Đá do chảy qua nhiều tảng đá to, sau này khi người Quảng đến định cư, đọc chệch thành “suối Đó”. Vị sư trẻ dựng một thảo am bên cạnh con suối, cao hứng đặt tên thảo am là chùa Đây, tạo thành một cái tên hay hay và lạ mà du khách đến một lần không thể nào quên “suối Đó – chùa Đây”. Sau này, thảo am nhỏ được trùng tu dần thành một ngôi chùa trang nghiêm và tĩnh lặng với cái tên mang lại cho người ta cảm giác an nhiên tự tại khi nhắc đến như hôm nay – chùa Thanh Trang Lan Nhã.
01/02/2021(Xem: 17989)
Ngôi chùa nhỏ với không gian yên tĩnh nằm bên dòng suối Đó giáp ranh giữa xã Tân Phước và phường Tân An, thị xã La Gi có cái tên rất thanh vắng, tịch mịch “Thanh trang lan nhã” . Chùa do một vị Đại đức tuổi trung niên làm trụ trì, nhà sư Thích Tấn Tuệ. Sư Tấn Tuệ tên thật là Đinh Văn Thành (SN 1960), quê ở làng Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông quy y từ lúc còn nhỏ được đào tạo học hành chu đáo, đi lại nhiều nơi nên kiến thức sâu rộng.
01/02/2021(Xem: 20441)
Nói thiệt lòng, tâm trạng của tôi mấy ngày qua vô cùng... bất ổn, tinh thần có chiều xuống dốc, phần vì "thử thể bất an", phần vì chuyện đời có nhiều đột biến vào năm cùng tháng tận, đã bình thản đương đầu đối chọi bằng các phương pháp tu niệm hành trì, giữ niềm tin vững chãi, liên tục ra vào các chốn già lam để lễ Phật bái Tăng, tác nghiệp thi văn... nên chế ngự được nhiều chướng duyên nghịch cảnh, nhưng nghiệp duyên quá khứ vẫn còn đầy dãy, vẫn đến đó, vẫy tay cười chào như chế giễu, thử thách...
30/01/2021(Xem: 12495)
Thời gian gần đây có khá nhiều nhà văn quay về với đề tài lịch sử. Sự đi sâu vào nghiên cứu cùng những trang viết ấy, họ đã tái hiện lại một triều đại, hay một giai đoạn lịch sử với góc độ, cái nhìn của riêng mình. Tuy nhiên, không phải nhà văn nào cũng thành công với đề tài này. Gần đây ta có thể thấy, Hoàng Quốc Hải với hai bộ tiểu thuyết: Tám triều nhà Lý, và Bão táp triều Trần, hay Hồ Qúy Ly của Nguyễn Xuân Khánh…Và cách nay mấy năm, nhân kỷ niệm lần thứ 40, ngày thành lập Báo Viên Giác (Đức quốc) Hòa thượng Thích Như Điển đã trình làng cuốn tiểu thuyết lịch sử: Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa. Thật ra, đây là cuốn (tiểu thuyết) phân tích, lời bàn về lịch sử thì chính xác hơn.
19/01/2021(Xem: 47027)
Đức Phật Quá Khứ Tỳ Bà Thi 💐🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ Ba, 07/07/2020 (17/5/Canh Tý) Giải thích Nghi Thức Đảnh Lễ Tam Bảo do Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ (1909-1984) biên soạn và hành trì trong suốt cuộc đời của Ngài. Bài kệ số 16: ĐỨC PHẬT TỲ BA THI 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Nhẫn nhục đệ nhất đạo Phật thuyết vô vi tối Xuất gia não tha nhân Bất danh vị sa môn. Nhất tâm đảnh lễ Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật. (1 lạy) Phật dạy: Hạnh nhẫn nhục Là pháp tu thứ nhất, Pháp vô vi tột cùng. Cho nên người xuất gia Gây khổ não cho người, Thì không gọi “sa môn”. Một lòng kính lạy đức Phật Tì Bà Thi. (1 lạy) Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia)
18/01/2021(Xem: 14495)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
10/01/2021(Xem: 11710)
8 giờ tối mùa Đông Âu Châu nói chung, Thụy Sĩ nói riêng thật thê thảm. Trời tối đen, lạnh cóng, trên đường không bóng người qua lại. Đã vậy thêm dịch bệnh covid 19 kéo dài mấy tháng nay, mọi người bị giam hãm lâu ngày đã ê chề, nay thời tiết như thế càng ảm đạm thê thảm hơn. Vào mùa này, ngay cả người bản xứ còn than vãn, chán chường, huống chi người Việt tha hương buồn đến...thúi cả ruột! Gần nhà tôi có cái thung lũng tình yêu, gặp lúc thất tình, tuyệt vọng, có người còn nhảy xuống tự tử mắc công chính quyền sau này phải giăng lưới hứng họ! Nhưng chính trong không gian ảm đạm như thế càng tăng thêm sự ấm áp thân thương khi nhìn thấy, dù chỉ qua màn hình và nghe tiếng nói của vị đạo sư tôi hằng kính mến, không ai xa lạ, còn có nhân duyên quen biết từ mấy chục năm nay, đó là Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển. Thầy không ở đâu xa, hiện diện ngay trước mặt đây thôi xua đuổi hết bao cảm giác cô đơn lạnh lẽo nơi xứ người.