06. Giao cảm

31/01/201206:22(Xem: 17821)
06. Giao cảm

Giao cảm

Hiếu Quang, KST - 2008

Vô lượng kiếp nổi nênh với những tháng ngày không tưởng, ta đã là ai? Sau cuộc truy tìm một câu trả lời cho riêng lòng, ta sẽ thấy mình thênh thang giữa miền vô trú, ươm hoa cho nở ngọt ngào, kết tinh cho bớt hư hao, trải lòng và sống trọn những tháng ngày như thật đạo, tự tình cùng với áng mây trôi nắng mưa không quản ngại.

Ta có là riêng ai. Ta đã là tất cả rồi.

Ta đã hoá thân mầu nhiệm trong từng loài giun dế, ngày đêm cất tiếng hoan ca. Ta đã hiện hình trong muôn ngàn thân phận, biến suy theo ảnh ảo dòng đời để kết tinh thành vạn lần thay áo cũ.

Thơ, bắt gặp ở Mặc Giang, một lời định nghĩa, ngắn mà tròn:

"Có người hỏi từ đâu tôi cảm hứng

Để mở đầu và viết những vần thơ?

Tôi nói rằng, cuộc sống, ấy là thơ

Và nhân thế, đó là nguồn cảm hứng"

(Đâu nguồn cảm hứng)

Dạo chơi cõi thơ Mặc Giang, ta sẽ dễ dàng bắt gặp nguồn tư tưởng này miên man với sức sống mãnh liệt. Ông rêu rao con chữ trên bao thân phận cát bụi lang thang nhằm biến vần thơ thành lời ru vỗ về an ủi mỗi mỗi cụm lách lau. Từng ý tưởng chạm va và lặng lẽ trôi đi như dòng sông vắng gió, thế nhưng, bên trong lòng nước đó, vạn trạng đang cuồn cuộn xô dạt với lắm hình hài thăng trầm giữa hai nghĩa áo cơm. Đọc thơ ông, ai không nhận ra, sao chất thơ lại gần đời đến vậy!

Trên chuyến xe nhân thường trăm hướng vạn dặm rẽ lối bương băng kia, mỗi người tự cho phép mình tìm một góc riêng đăm chiêu nghe ngóng, tư lự luận suy. Tìm mãi? ở đâu nhỉ? chẳng lẽ lại không đủ can đảm để chuyển bánh với chuyến xe đời sao? một tiếng ho rất khẽ, không phải để bảo với thế giới rằng ta đang hiện hữu. Tiếng ho khẽ đó chỉ để nhắc rằng ta đang sống và rất gần gũi với cõi người ta. Đây rồi, MẶC GIANG, ông đang ngồi một góc rất khiêm tốn trên chuyến xe, bên cạnh là hàng ngàn hiện thân cuộc thế. Quan sát, lắng tai, nghe ngóng từng âm thanh rất nhỏ của tiếng mưa rơi oằn vai ngọn cỏ, từng tia nắng yếu ớt của ngày không ấm; để rồi, bất chợt, người thơ bặt ra những dòng tâm sự ứa nghẹn, bao dung, chan chứa tình người.

Đêm đã qua, ngày vẫn tàn, cơn đau tử sinh còn tỉ tê về hờn dỗi. Và nơi kia, phía tận cùng cõi chết, vẫn ngập tràn những dấu hiệu hồi sinh. Rụt rè, vài dòng trân quý, tôi gắng ghì ngòi bút rưng rưng của mình tri ân cuộc hội ngộ với những lời tâm sự MẶC GIANG, người vẫn ngày ngày âm thầm thả vào dòng sông những phiên khúc ngọt ngào ngày mới, làm ngập tràn trong âm điệu yêu thương. Chính lúc này, sự sống lại được định hình, tình người tiếp lửa ca reo, cõi nghèo dâng dâng thêm lòng mênh mông cúi đầu lời bi nguyện.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2013(Xem: 24856)
Sư trưởng Như Thanh đã sáng tác, biên soạn và dịch thuật khoảng 20 tác phẩm Phật học.
01/04/2013(Xem: 4206)
Tôi đang đọc một bài thơ thì có tiếng gõ cửa. Người bạn đạo đến thăm như đã hẹn. Chắp tay xá nhau xong, tôi sẵn trớn, đọc luôn hai câu cuối.
01/04/2013(Xem: 25239)
Truyện Kiều (thơ)
29/03/2013(Xem: 6991)
Khi tơi đang dịch “Nhân Kiếp và Tai Kiếp” (Human Life And Problems, do hịa thượng tiến sĩ K. Sri Dhammananda) vào giữa tháng 09/2001 tại Toronto thì bất ngờ được biết thầy Thích Tâm Quang bên Mỹ đã dịch xong với tựa đề là “Các Vấn Đề Của Xã Hội Hơm Nay” (web www.budsas.org)
29/03/2013(Xem: 5394)
Trong một bài viết về tác phẩm nước non Bình Định (viết tắt NNBĐ) của Quách Tấn, cố học giả Nguyễn Hiến Lê có nói rằng, ông vốn rất mê các cửa biển miền Trung.
29/03/2013(Xem: 5988)
Khi Huyền Quang được Pháp Loa chính thức trao truyền y bát, làm tổ thứ 3, kế thừa Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (1330), năm ấy, Huyền Quang đã 77 tuổi.
29/03/2013(Xem: 5895)
Tôi còn nhớ vào khoảng cuối năm 1973 hay đầu năm 1974 gì đó. Tuần báo văn nghệ Tìm Hiểu tại Sài Gòn có đăng một bài phỏng vấn Bùi Giáng, người phỏng vấn là Phan Quốc Sơn.
29/03/2013(Xem: 15202)
Truyện “Quan Âm Thị Kính” không rõ xuất hiện từ thời nào và do ai sáng tác ra. Thoạt tiên truyện là một khúc hát chèo gồm nhiều đoạn, với ngôn từ rất bình dị và tự nhiên, rõ ràng là một khúc hát của dân quê, của đại chúng. Về sau mới có truyện thơ “Quan Âm Thị Kính” xuất hiện, được viết bằng thể thơ “lục bát”, mang nhiều ý nghĩa thâm thúy của cả đạo Nho lẫn đạo Phật. Người ta phỏng đoán rằng tác giả chắc phải là một người có học thức.
29/03/2013(Xem: 12720)
Hôm trước, một người bạn gửi một bài thơ Hai-ku, thấy hay hay tôi cũng bắt chước làm vài câu…
29/03/2013(Xem: 29627)
Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.