II. Trà Chủ Chuẩn Bị

13/12/201017:57(Xem: 23319)
II. Trà Chủ Chuẩn Bị

 

Người chủ buổi thưởng trà có thể chọn chủ đề như đầu thu và chọn các trà cụ cho thích hợp với khách mời. Ông ta chọn một bức tranh thủy mặc và vật trang hoàng chính để tạo phong vị cho trà thất. Bình hoa chưng thường diễn tả mùa nhưng không được có màu sắc rực rỡ hay thơm nồng, vì như thế sẽ làm mất đi sự tĩnh mịch và hòa hợp cần thiết.

Nói đến hoa trong Trà đạo, chúng ta không thể nào quên câu chuyện “Khán hoa triêu nhan”. Thái Cáp (Taiko) là vị tướng quân thuộc dòng họ Tú Cát, kẻ vừa mới lên cầm quyền, thay mặt Thiên Hoàng trị vì trăm họ. Một hôm nghe vườn của Lợi Hưu đang nở rộ những đóa hoa triêu nhan nên muốn đến xem hoa. Đây là loại hoa màu trắng, dáng như chiếc chuông nhỏ, sớm nở tối tàn, đẹp và mong manh. Lợi Hưu mời vị tướng quân này đến dùng trà buổi sáng. Đó là điều ông ta mong muốn, vì ông thích ngắm vườn hoa nổi tiếng này. Khi đi quanh vườn ông chỉ thấy toàn lá xanh, chẳng có một đóa hoa nào cả. Ông ta bước đến trà thất với lòng bực bội vì không được toại nguyện. Khi vừa vào trà thất, nhìn lên, ông ta thấy một đóa triêu nhan duy nhất trong một chiếc bình quý bằng đồng đời nhà Tống.

Hãy nhìn mọi vật như là duy nhất trên đời. Đó là thông điệp của thiền. Vị trà nhân đã giúp cho vị tướng quân bắt gặp điều: “Trên trời, dưới trời chỉ mình ta là tôn quý” ấy, hay nói theo nhà thơ William Blake trong bài Auguries of Innocence:

Thấy vũ trụ trong một hạt cát
Và thiên đường nơi một đóa hoa dại
Cầm vô biên nơi lòng bàn tay
Và vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi.

Trước khi vào trà thất, khách sẽ đi qua khu vườn được quét dọn sạch sẽ. Đó là một loại vườn thiền: hoa lá có màu sắc trang nhã, các tảng đá được phối trí hòa điệu với những hòn đá nhỏ mà phần lớn chôn dưới đất theo nhóm ba, năm, bảy, hay chín viên đá nằm rất vững vàng (vì những tảng đá này được chôn hai phần ba phía dưới mặt đất, một phần ba lộ thiên), hàng rào tre cùng chiếc cổng cổ kính. Tất cả đều tỏa ra nét khiêm cung, trang nhã và an bình. Tất cả đều có một sự tự nhiên, hòa hợp, chẳng chút phô trương, vì đó là tinh thần của Trà đạo.

Chúng ta thường nghe kể vị trà sư Lợi Hưu sai con mình quét vườn cho thật sạch để đón khách uống trà. Mỗi lần nghe con báo vườn đã quét dọn xong, ông ta ra nhìn rồi lắc đầu bảo chưa được. Sau nhiều lần quét dọn, đến lúc vườn sạch bóng mà cha mình vẫn chưa chịu, người con hỏi ông ta chưa vừa ý chỗ nào, vị trà sư lặng lẽ đến dưới một cành cây với lá đang chuyển vàng, đưa tay lay nhẹ và những chiếc lá vàng rơi xuống trên mảnh vườn rêu xanh.

Vài chiếc lá vàng lặng lẽ
Trên thảm rêu xanh
Mùa thu đến.

Các vị khách tinh tế nhìn thấy rõ lòng hiếu khách, niềm kính trọng của người chủ và nhất là bắt gặp được cái tâm rỗng lặng phổ vào mọi sự vật hiện hữu quanh đây. Họ thưởng thức nét đẹp tự nhiên của vườn thiền, nét đơn giản nhưng hàm xúc của bức tranh vẽ bằng mực tàu trên giấy bồi, bình hoa đơn sơ, giản dị và trang nhã và các trà cụ sử dụng được lau chùi tinh sạch.

Khi chủ và khách đã an vị, tâm họ lắng đọng trong chốn an bình tĩnh lặng. Các giác quan của họ trở nên bén nhạy trong sự thoải mái và nhận biết rõ ràng những dáng dấp, màu sắc, âm thanh, mùi vị và xúc chạm. Năm giác quan của họ hợp nhất trong tâm rỗng lặng bao la: tiếng nước sôi reo nhẹ như tiếng gió rì rào qua kẽ lá, bình hoa đơn sơ hiện dần nét đẹp kỳ diệu, khói trầm thơm phảng phất cái mơ hồ, vị trà đắng chuyển dần thành cái ngọt ngào sâu đậm. Trong trà thất đơn sơ, tâm của chủ và khách cùng tiếp xúc với cái bình dị tinh sạch tỏa ra từ các vật nhỏ bé ở trước mặt họ. Mọi thứ đều giản dị, chân thật và cùng biểu lộ cái vô cùng.

Uống trà như thế chẳng khác gì tham dự một lễ nghi trang trọng tại một thiền viện. Đó là một kinh nghiệm tâm linh phong phú trong khung cảnh đơn giản gần như nghèo nàn. Trên thực tế, người ta đã nhận rõ viên ngọc quý báu nơi mình chiếu sáng trong tịch lặng, viên ngọc quý mà đức Phật Thích-ca trong kinh Pháp Hoa nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ quên sử dụng để luôn luôn sống với nguồn hạnh phúc tỏa rộng đến vô biên.

Đó là điều mà vị trà sư người Hoa Kỳ đã tìm được. Ông Gay Charles Calwallader đến Nhật Bản vào năm 1975 trong chương trình trao đổi sinh viên ngành lịch sử nghệ thuật, sau khi tốt nghiệp cao học ngôn ngữ và văn hóa Nhật tại Đại học Austin, Texas. Sau đó ông học Trà đạo 5 năm tại trung tâm Trà đạo Urasenke Chanoyou. Trường phái chính tại Nhật truyền thừa qua 15 vị tổ kể từ ngày các vị tu sĩ Nhật Bản sang Trung Hoa học ngành này và truyền bá lại cho những người trong nước vào thế kỷ 15.

Ông Calwallader bày tỏ lý do ông ưa thích như sau: “Triết lý của Trà đạo hấp dẫn tôi trước khi tôi biết về sự thực hành Trà đạo. Rồi tôi lại thấy sự thực hành thật thích thú với nhiều đòi hỏi hơn là tôi tưởng.”

Ông thích thú vì Trà đạo đặt nền tảng trên bốn nguyên tắc của thiền: hòa, kính, tịnh và an (hòa hợp, kính trọng, thanh tịnh và an bình). Sống với tâm hòa hợp, kính trọng, trong sáng và an bình là sống với chân tâm hay tâm giải thoát vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/04/2026(Xem: 560)
Nhiều học giả và người dân thường gọi tắt con đường học Phật là tu tâm, dưỡng tánh, đôi khi gọi Cửa Phật là Cửa Không. Tuy nhiên, bước đầu tiên và cũng là bước quan trọng cho tới tột cùng phải là Giới, vì Đức Phật nói rằng con đường giải thoát phải là Giới-Định-Tuệ. Cả ba phần có khi là một lộ trình thứ tự, và đôi khi là một bước đi hội nhập cả ba, cũng đều là tu tâm. Do vậy, phần lớn những cuộc vấn đáp trong Thiền sử là nói về tâm. Trên trang Wikipedia, mục từ Pháp Nhãn Văn Ích, ghi lại một giai thoại khi ngài Pháp Nhãn (885-958) kết bạn với hai vị tăng Thiệu Tu và Hồng Tiến cùng đi hành cước, gặp mùa tuyết rơi, ghé trú tuyết ở La Hán Viện, nơi ngài La Hán Quế Sâm (867-928) trụ trì.
18/04/2026(Xem: 718)
🍵 Tĩnh Lặng Giữa Dòng Chảy Nhân Duyên (Uống trà sáng và đàm đạo với chính mình) Mời bạn cùng tôi nâng chén trà lên một cách chậm rãi. Hãy cảm nhận hơi ấm dịu dàng lan tỏa nơi đầu ngón tay, rồi thấm sâu vào từng nhịp thở. Trong khoảng lặng yên này, tâm dần lắng xuống, như mặt hồ thôi gợn sóng. Mọi vội vã dường như tạm lui, chỉ còn lại sự có mặt trọn vẹn của ta với chính mình. Đã bao lần ta tự hỏi: vì sao khổ đau vẫn cứ quay về, như một vòng tròn chưa khép? Ta quen nhìn ra bên ngoài, tìm nguyên do nơi hoàn cảnh, nơi người khác, nơi những điều không như ý trong đời. Ta nghĩ rằng nếu mọi thứ đổi khác, lòng mình sẽ bình yên hơn. Nhưng khi thật sự dừng lại, chỉ để thở, chỉ để nhìn sâu, ta chợt nhận ra một điều rất nhẹ mà rất thật: khổ đau không đến từ đâu xa. Nó được nuôi lớn từng ngày từ chính những hạt giống trong tâm mà ta đã gieo trồng, có khi vô tình, có khi không hay biết. Và cũng trong giây phút ấy, ta hiểu rằng: khi thôi tìm kiếm bên ngoài, khi quay về chăm sóc khu vườn nội
17/04/2026(Xem: 451)
Tôi có thói quen mua hàng tại tiệm tạp hóa Grocery Outlet – một hệ thống bán lẻ rất lớn của Hoa Kỳ vì hàng ở đây tương đối rẻ hơn Wal-Mart. Cách đây hơn một năm, vừa bước ra khỏi tiệm nằm ở Down Town, San Jose, tôi thấy một cô gái Mỹ trắng tuổi khoảng 30 đang ngồi tựa vào tường, bên cạnh là một cái bọc, có lẽ đựng quần áo hay cái gì đó. Mặt cô ta rất buồn, mắt như nhìn vào cõi hư vô. Rõ ràng cô là một người vô gia cư.
15/04/2026(Xem: 2740)
Giữa dòng đời vô thường biến động, hiếm có ai khi tuổi đã xế chiều mà tâm vẫn an nhiên, trí vẫn sáng suốt, và lòng vẫn hướng trọn về Tam Bảo như lão cư sĩ Thị Tâm Ngô Văn Phát (hình trên, cụ đứng bên phải HT Bảo Lạc, bên trái là con trai cụ, anh Thị Chơn Ngô Ngọc Diệp). Cuộc đời của Cụ là một hành trình dài qua bao thăng trầm lịch sử, nhưng cũng chính là một minh chứng sống động cho sức mạnh của chánh tín và hạnh nguyện tu tập bền bỉ. Lão cư sĩ Thị Tâm sinh ngày 30/10/1929 (Kỷ Tỵ), từng là Thủ khoa Khóa 11 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (1955), giữ cấp bậc Trung Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cụ đã trải qua những năm tháng gian lao trong lao tù cải tạo tại Hoàng Liên Sơn. Sau đó, định cư tại Hannover (CHLB Đức) từ năm 1984, Cụ tiếp tục dấn thân phụng sự đạo pháp và cộng đồng, cộng tác lâu dài với báo Viên Giác, đảm nhiệm vai trò Hội trưởng Hội Phật tử Việt Nam tại CHLB Đức suốt nhiều năm.
14/04/2026(Xem: 457)
Nghiệm tâm tu học…! Từng thời khắc trong cuộc đời này, ai biết tìm về hơi thở, ai biết tìm về đức tính từ bi, ai biết tìm về đức tính kham nhẫn thì chúng ta sẽ luôn luôn an trú trong từng hạnh nguyện nghiệm tâm tu học như từng dấu ấn xưa nay. Nghiệm tâm tu học, là pháp hành trong từng thời khắc, quán chiếu về hơi thở, tập nhìn bằng đôi mắt tình thương, nở nụ cười trong từng khoảnh khắc đi qua, trì niệm trong từng thời công phu tu tập cảm thấy tâm tự tại. Nghiệm tâm tu học, là pháp hành trong pháp hoa kinh, ở phẩm Trì, trong đó có đoạn: ….”Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã đặng thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng : “Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói Kinh này. Vì sao? - Vì người trong nước Ta-bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, dua vạy tâm không chơn thật”. Nghiệm tâm tu học trong đoạn kinh trên, chúng con rút ra được ba điều: 1: Tâm cung kính cá
13/04/2026(Xem: 1264)
Bài viết này phân tích các mối liên kết xuyên quốc gia giữa các chùa Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại tại châu Âu, Úc Châu và Nhật Bản thông qua lăng kính của sự lưu chuyển của Tăng sĩ. Thay vì xem các ngôi chùa này như những không gian tôn giáo dân tộc biệt lập, nghiên cứu này khái niệm hóa chúng như những thực thể vừa gắn kết với địa phương, vừa được liên kết với nhau thông qua sự di chuyển của chư Tăng, mối quan hệ thầy–trò, và các thực hành nghi lễ chung. Tập trung vào một vị Hòa Thượng, lãnh đạo Phật Giáo người Việt tại Đức [2], đóng vai trò như một nút trung tâm trong mạng lưới này, nghiên cứu dựa trên khảo sát thực địa nhiều địa điểm (2023–2025) để lập luận rằng các mối quan hệ liên tự viện có thể được hiểu như một cấu trúc năng động được duy trì bởi sự lưu chuyển Tăng sĩ mang tính lặp lại. Bằng cách nhấn mạnh vai trò của sự lưu chuyển Tăng sĩ, bài viết trình bày các chùa Phật giáo Việt Nam hải ngoại như những tác nhân mang tính quan hệ, được định hình bởi cả sự gắn kết địa phương
10/04/2026(Xem: 3277)
Đặng Tấn Tới là thi sỹ của đất trời. Anh từ vũ trụ, càn khôn đến đây để rong chơi, Chơi Trong Buổi Hội Mấy Màu Thanh Thiên, như một bài thơ mà anh đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ.Với anh, thi ca là Hơi Thở: “Một hơi vừa đi mất Cho ta hơi mới đầy Chan hòa hương màu đất Vui trời chơi gió bay”
09/04/2026(Xem: 932)
Cố vấn tâm lý, theo tôi học được từ Lifeline là sau khi lắng nghe ông ta tâm sự, tôi sẽ cùng ông tìm ra các hướng đi và cùng ông thảo luận các lợi hại của từng hướng đi...để rồi sau đó tự ông quyết định hướng đi cho mình. Ông không trả lời tôi vội, ông đắn đo cân nhắc khá lâu, rồi ngập ngừng nói với tôi: “Thôi, tôi không làm đâu” Tôi hỏi nhẹ: “Vì sao vậy ông?” Ông trả lời: “Dù sao tụi nó cũng là con tôi. Kiện tụi nó ra tòa, đưa tụi nó lên báo, tôi có thắng, thì tụi nó thua cả đời” Ông nói thêm, giọng rất nhỏ: “Tôi già rồi. Ráng chịu thêm nữa…cũng chẳng sao, dù gì nước mắt cũng chảy xuống mà”. Làm gì được, được làm gì…trong cảnh đời “bơ vơ ở tuổi xế chiều” này đây?
03/04/2026(Xem: 1433)
Làm sao để giá trị tinh thần không bị thời gian và công nghệ AI làm lu mờ. ( Cảm tác sau khi đọc bài viết của TT Thích Nguyên Tạng nhân kỹ niệm lễ Huý Nhật của HT Thích Trí Tịnh vào ngày 6/4/2026 ) Có những bậc cao tăng và ngay cả những bậc trí tuệ như Socrates, Friedrich Nietzsche hay Lao Tzu… cũng từng bị hiểu sai, lãng quên, rồi được “tái khám phá”. Không phải vì họ mất giá trị, mà vì:”Thời đại thay đổi nhanh hơn khả năng tiếp nhận của con người, hơn thế nữa giá trị tinh thần thường không “ồn ào” như công nghệ và nhất là đám đông thường bị cuốn vào cái mới, không phải cái sâu.” Do vậy tên tuổi đáng kính thường bị che khuất tạm thời bởi dòng chảy thời đại. Phải chăng cái nguy cơ lớn nhất của thời đại AI ngày nay không phải là quên… mà là “nông” Phải chăng AI có thể: (Viết thay ta-Nghĩ nhanh hơn ta-Tổng hợp tri thức nhanh chóng) Nhưng AI cũng tạo ra một nguy cơ tinh vi: Con người tưởng mình hiểu… nhưng thực ra chỉ “chạm bề mặt”. Do đó nếu chỉ sống bằng tri thức vay mượn, thì
03/04/2026(Xem: 1196)
“Khi Thế giới của chúng ta ngày càng nhỏ lại, nhưng chúng ta lại cứ nghĩ mình ngày càng lớn ra”. Trong xã hội ngày nay, khi con người thường đề cao bề nổi, ưa thích sự thể hiện bản thân vượt qua giá trị đích thực, thích thổi phồng những danh xưng, thành công hay một cuộc sống ngập tràn sự hào nhoáng. Nó tạo ra sự khao khát để khẳng định mình so với người khác bởi tâm lý sợ bị lãng quên, sợ bị nhạt nhòa và sợ bị bỏ lại sau lưng. Nó giúp con người tạo ra một bề mặt “kiêu hãnh” và khi tâm kiêu hãnh hình thành, trở thành chất xúc tác gây nghiện, con người sẽ bắt đầu trở nên kiêu mạn và lệ thuộc vào những thứ phù phiếm bên ngoài mà quên đi những giá trị cốt lõi bên trong.