Tiếc Thương

01/06/201520:09(Xem: 4094)
Tiếc Thương

 nguyen hanh


Tiếc Thương

 

 

      Kim Tiếng thương mến,

 

      Vẫn biết rằng "Đời là vô thường". Nhưng mình vẫn bàng hoàng xúc động khi hay tin Kim Tiếng đã ra đi. Chỉ trong vòng có hai ngày mà trường Sương Nguyệt Anh thân yêu của chúng ta đã mất đi hai Thầy Cô:

 

     - Cô Dương Kim Tiếng:   5-5-2015

     - Thầy Giáp Bằng Phan:   6-5-2015

 

      Đã đành rằng sự ra đi này là con đường giải thoát tốt, tránh khỏi những đớn đau vật vã nhất, nhưng mình cũng như đại gia đình Sương Nguyệt Anh vẫn vô cùng đau xót, vẫn là một mất mát lớn lao của một đời người.

      Trường Sương Nguyệt Anh của chúng ta là một trường Tổng hợp đầu tiên tại Sàigòn, ngoài các môn học như các trường Phổ thông khác, trường còn có thêm các môn nhiệm ý như doanh thương, kinh tế gia đình (nấu ăn, may vá, làm hoa vải), hội họa, âm nhạc, nhiếp ảnh, võ thuật. Ngoài ra còn có phòng thính thị trang bị đầy đủ máy móc. Có phòng thí nghiệm để học sinh thực tập Lý Hóa, mổ xẻ sinh vật. Kinh phí được tài trợ từ cơ quan Usaid và hội phụ huynh học sinh.

     Năm 1973, Bà Hiệu trưởng Kim Chi phải qua Pháp theo chồng, Kim Tiếng đã lên thay. Cô Kim Tiếng người Gò Công, du học Mỹ năm 1960. Một con người đơn giản, không cầu kỳ, đằm thắm; đến với đồng nghiệp, với học trò bằng tất cả tình yêu thương, ân cần chăm sóc.

     Ngày đó thật là vui. Chúng ta đã đến với nhau bằng tất cả tình bạn chân thành, gắn bó với nhau trong những sinh hoạt của trường; những lần tổ chức văn nghệ, ủy lạo thương binh, vui buồn đều có nhau.

     Rồi cơn lốc 30-4-1975 đã làm cho chúng mình lao đao lận đận! Cái thời mà chúng mình phải đi học tập chính trị mỗi lúc hè đến tuy rất bất mãn nhưng cuối cùng lại thấy vui; mấy ông báo cáo viên tha hồ nói dóc, còn tụi mình ở dưới này tha hồ tán gẫu đủ mọi thứ!

      Bây giờ ngồi ngẫm lại thời đó, mình thấy tụi mình bị "bóc lột quá sức". Nhất là những bạn có chồng đi học tập cải tạo, cứ lăn xả ra làm việc như trâu để mong được chứng nhận công tác tốt, hầu mong chồng được thả về sớm. Sau này mới biết tất cả chỉ là những chiêu bài  gạt gẫm đàn bà, con nít. Với chiêu bài "Lao động là vinh quang", thầy trò vác chổi đi quét đường, hốt rác để làm sạch đường phố. Rồi ban lao động nhà trường lại có thêm sáng kiến "nuôi heo" để tăng thu nhập cho trường; bắt các Thầy Cô phải luân phiên nhau tắm rửa cho nó. Buổi sáng đi dạy, buổi chiều vô trường tắm heo, cho heo ăn. Mình nhớ có một lần vì không "chuyên nghiệp" nên khi tắm heo xong, nó hứng chí chạy xổng ra ngoài, phải vội vàng đuổi theo vì lỡ nó chạy mất, tiền đâu mà đền. Hình ảnh các Thầy Cô đuổi theo con heo, la hét om sòm quanh sân trường, tạo nên một cảnh tượng cười ra nước mắt!  Nhìn lại mình, trời ơi, sao mà thảm não vô cùng! Quần ống cao ống thấp, áo thì chỗ ướt chỗ khô, mặt thì phờ phạc vì đuổi theo nó mệt quá!

      Ngày trước đến trường đi dạy, lúc nào các cô cũng tươm tất lịch sự trong những chiếc áo dài tha thướt. Cách mạng vô, áo trắng quần đen là chủ yếu, giống như đồng phục của những đứa trẻ mồ côi trong viện Dục Anh, trông thật thảm hại!

     Đúng như khẩu hiệu "Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm",  nên buổi sáng đi dạy, buổi chiều đi lao động, buổi tối đi dạy bổ túc văn hóa rồi còn phải đi trực đêm ở trường để giữ an ninh. Mà tụi mình lại vốn nhát gan, sợ ma, sợ bóng tối, giữ nổi gì, đến trường là bật đèn sáng suốt đêm, chui vào văn phòng đóng chặt cửa lại, ăn trộm có vào gỡ hết gạch ngói cũng không hề hay biết.

      Những chuyện vui buồn đó làm sao chúng ta quên được, có một điều đáng quí là tụi mình vẫn biết đùm bọc, yêu thương nhau khắn khít. Còn nhớ những buổi chiều Kim Tiếng đạp xe tới mình, chia cho nhau từng củ khoai, khúc sắn. Một thời gian khổ, mình đã cùng sống, cùng chia sớt với nhau những cảnh xếp hàng cả ngày (XHCN) để mua từng kilo gạo đầy sạn về ăn độn với bobo, từng miếng thịt hôi, từng con cá ươn... Thầy cô đi dạy về, trên xe đạp tòn ten xâu thịt, mớ rau, trông thật tội nghiệp:

 

                “Xưa sao phong gấm rũ là,

 Giờ sao tan tác như hoa giữa đường!“

  ( Nguyễn Du )

 

      Sau 75, cái thời mà người ta phải nhắm mắt lăn đời mình qua những thương đau, vất vả khó nhọc, nhưng cũng có lúc ấm áp tình người khi học trò nhìn cô giáo với ánh mắt cảm thông, khi bạn bè đồng nghiệp giúi cho nhau từng gói đậu nhỏ để thêm một chút lương thực vào hành trang ngày mai đi thăm chồng cải tạo. Đúng là những tình cảm thiết tha, trong sáng vẫn còn hoài trong mỗi chúng ta!

 Sau đó bọn mình may mắn đã thoát được, đến miền đất Tự do nhưng mỗi lần nhìn về cố quốc, vẫn thấy lòng xót xa ngậm ngùi vô cùng!

      Ngày mình bay qua Virgina thăm Kim Tiếng thật quá vui mừng và cảm động. Chúng mình đã có những ngày họp mặt thầy trò Sương Nguyệt Anh vô cùng đầm ấm, những ngày xa xưa như được sống lại! Rồi Kim Tiếng và anh Dương Tư Thông đưa mình đi thăm Luray Cavern, một hang động thạch nhũ quá đẹp làm mình ngẩn ngơ nhìn ngắm mà muốn quên đường về!

  Tuy nhiên, dù đang sống an bình trên xứ người nhưng trong tim mỗi người tha phương Việt Nam đều ấp ủ một chút gì đó "Tình tự Dân tộc" như lời một bài hát:

 

  "Đàn chim tha phương, lạc loài đôi cánh mỏng, mong ngày trở về cố hương..."

 

 Chúng ta vẫn hy vọng một ngày nào đó, khi quê hương thanh bìnhmở hội, mình sẽ cùng về gặp gỡ học trò, bạn bè, không phải một nơi nào trên xứ người nữa mà ở ngay trường xưa chốn cũ, ngôi trường Sương Nguyệt Anh- đường Hòa Hảo- mà lời nhạc của Lê Tín Hương như một tiếng than dài:

    "Có ai biết ngày này ta nơi đây! Một nơi không định đến! Một chốn ta phải về!"

     Phải về! Nhưng mà Kim Tiếngvà Thầy Phanđã thực sự bỏ cuộc đời rồi, bỏ lại gia đình, bỏ đồng nghiệp, bạn bè cũ ngày xưa:

 

    "Một đời cây có mấy lần chia lìa cành lá sầu rơi, một đời mưa có mấy lần xa rời làn mây bên trời, có mấy lần rơi lệ đưa tiễn người xa đời, giọt vơi rồi giọt đầy!"

  ( Ngày rời )

 

    Bây giờ Kim Tiếng và thầy Bằng Phanđã mãn phần, thoát khỏi mọihệ lụy trong cõi đời phù du; một màu tang trắng

phủ, nước mắt nào đong đầy, cho nỗi đau tìnhngười còn ở lại!

Kim Tiếng vẫn luôn luôn có một chỗ thật đẹp trong lòng mọi người; thôi thì ở một nơi chốn nào đó, Kim Tiếng "hãy thật sự bình thản"; ở đây ban bè và học trò sẽ cầu nguyện cho Kim Tiếng cũng như Thầy Bằng Phan được về chốn an bình. Khắp nơi đều có tổ chức lễ cầu siêu cho Kim Tiếng và Thầy Phan: Cali, Úc, VN, Paris, Canada, Đức... để cùng hướng lòng cầu xin cho hương linh người ra đi được thêm ấm áp tình thương mến và để gia đình Cô Thầy được an ủi trong nỗi mất mát lớn lao này! Vậy Kim Tiếng và Thầy Phan hãy mỉm cười nơi chín suối.

Tuy đã ra đi nhưng tình thương Kim Tiếng vẫn để lại cho đời, đúng là "Chỉ có tình thương để lại đời" sẽ không bao giờ còn gặp lại nhau được nữa nhưng ân tình mọi người vẫn còn trân trọng giữ lấy trong tim!

Thôi thế cũng xong một đời phiền muộn, tiễn đưa nào mà không buồn, huống chi đây là một cuộc chia xa vĩnh viễn lại càng đau lòng biết mấy!

     Chết là bắt đầu cho một cuộc viễn hành ở thế giới khác, thôi thì cứ tin như vậy và trong giờ phút này nén hương lòng thắp sáng, xin cầu nguyện hương linh Kim Tiếng và Thầy Bằng Phan kể từ đây rũ sạch nợđời, dù những cái nợ thật dễ thương - nợ tia nắng mai, nợ nụ cười ai đó để cõi Vĩnh hằng thong dong tự tại - Thế giới của yêu thương, của bao dung, của kỳ hoa dị thảo, của những gì thoát tục…

 

Ta nợ mặt trời từng tia nắng mai

Ta nợ nụ cười người quen sáng nay

  Nghe lòng nhẹ nhàng, bước chân phong trần.!!

   ( Vẫn nợ cuộc đời )

      Thôi xin trả nợ từ đây...

 

München, tháng 5/ 2015

Nguyên Hạnh HTD

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/09/2015(Xem: 8985)
Gió Thu bay, lá vàng chưa muốn rụng Như muốn thấy, những gì mùa Thu mới Rồi cũng rụng, hành trình một cuộc đời Kiếp của lá! Hẹn nhau mùa Xuân tới!
26/08/2015(Xem: 5648)
" Sống ở đời tham lam ham hố Cuối cùng rồi cũng xuống lỗ mà thôi, Tranh danh đoạt lợi hại người Bạc vàng tích trữ lâu đài ngựa xe, Say sưa vui thú rượu chè Ăn chơi nhảy nhót hội hè quanh năm. Tưởng rằng mình mãi còn xuân Ngỡ đâu phút chốc tan tành mộng mơ, Thân tàn ma dại nào ngờ Gia tài sự nghiệp một giờ như không.
06/08/2015(Xem: 6231)
Các bài 1.1 và 1.2 ghi nhận vài dữ kiện ngôn ngữ cho thấy vết tích của âm đọc chữ Hán sau thời nhà Nguyên (1271-1368) như Phạn (so với Phạm), Phổ Kiến (so với Phúc Kiến). Phần này (đánh số 1.3) ghi thêm vài cách đọc như “nghiện” (so với nghiệm trong linh nghiệm) và thành ngữ "Thượng hòa hạ mục/mộc" cho thấy giai đoạn nhập vào tiếng Việt sớm nhất là sau thời nhà Nguyên. Các tài liệu viết tắt là TVGT (Thuyết Văn Giải Tự - khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), Tập Vận (TV/1037/1067), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), Tự Vị Bổ (TViB/1666), KH (Khang Hi/1716), HNĐTĐ (Hán Ngữ Đại Tự Điển/1986), Thiết Vận (ThV/601), Vận Kinh (VK/1161), VBL (Dictionarium Annamiticum-Lusitanum-Latinum, Alexandre de Rhodes, 1651), VNTĐ (Việt Nam Tự Điển/1931/1954), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK). Dấu hoa thị (*) ch
23/07/2015(Xem: 22116)
Nhật báo của thành phố Neuss tường thuật về Khóa Tu Học Phật Pháp Âu Châu kỳ 27 Ngày 22.07.2015 Những Ngày Nghỉ Hè Được Dành Cho Đức Phật Khoảng 500 người Phật Tử Việt Nam đến từ Âu Châu gặp nhau 10 ngày tại Neuss. Chư Tôn Đức Tăng Ni cùng với tham dự viên của Khóa Phật Pháp Âu Châu lần thứ 27 thực tập giáo lý Phật Đà. Bài của ký giả Von Katrin Haas Thích Như Điển và Thị Chơn dịch từ tiếng Đức sang tiếng Việt
21/07/2015(Xem: 19538)
Tôi sửng sốt khi nhận được giấy mời từ văn phòng Liên hiệp quốc tại Geneva, Thụy Sỹ - Invitation for releasing “T. T. Weapon book at UN Geneve”. Tôi giật thót mình và sợ rằng bị bom thư hay bị bọn khủng bố gửi gì đó vì thấy có từ weapon, tức là vũ khí. Tôi không mở 2 file đi kèm vì tin rằng loại thư này đến hòm thư của mỗi chúng ta rất nhiều mỗi ngày.
20/07/2015(Xem: 12937)
Cách đây mấy tuần mình được tặng cuốn sách “Khu vườn bí mật”. Đây là cuốn sách tô màu dành cho người lớn mà người ta hay gọi là tô màu cảm xúc hay coloring book. Mình thật bất ngờ về những nét vẽ tinh xảo của tác giả Iohanna Basford.Mình không thể tin nổi những bức vẽ với hàng trăm họa tiết rất tinh xảo lạ kỳ đến vậy. Và mình cầm bút chì màu bắt đầu tô. Mình cứ tô theo cảm xúc và không bị bất cứ cái gì trói buộc mình. Minh nhập tâm, nhập hồn vào việc tô màu. Cuối cùng, tác phẩm đầu tay của chính mình ra đời. Mình mang ngay bức tranh mà mình đã tô xong treo lên và ngắm. Mình thích vô cùng. Hóa ra rằng tô màu cảm xúc của cuốn sách “Khu vườn bí mật” giúp mình thư giãn rất tuyệt vời. Mình cứ nghĩ, nếu bạn nào bj stress bởi cuộc sống thì đây là người bạn tốt nhất. Cứ ngồi vào và tô là mọi căng thẳng, bực bội tan biến hết ngay.
12/07/2015(Xem: 12447)
Từ trong tâm khảm mình con cảm ơn mẹ đã cho con một lần sinh, một lần ra đời. Mẹ đã nâng niu nhẹ nhàng từng bước đi chậm chạp, lúc cất tiếng khóc chào đời.
01/07/2015(Xem: 32526)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 5534)
Mẹ tôi qua đời đã hơn 10 năm rồi, nhưng cái bếp thân yêu, như là chỗ ghi nhớ bóng dáng mẹ, thì vẫn được các em tôi dùng làm nơi đun nước hàng ngày...
23/06/2015(Xem: 16156)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa